MỘT SỐ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN Ý ĐỊNH MUA BAO BÌ PHÂN HỦY SINH HỌC KHU VỰC TP. HỒ CHÍ MINH - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT MỘT SỐ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG
ĐẾN Ý ĐỊNH MUA
BAO BÌ PHÂN HỦY SINH HỌC
KHU VỰC TP. HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT
nghiên cứu được trình bày trong luận văn này không sao chép của bất cứ luận văn
nào và cũng chưa được trình bày hay công bố ở bất cứ công trình nghiên cứu nào
khác trước đây. TP.HCM, ngày 01 tháng 09 năm 2013
Tác giả luận văn Nguyễn Thị Minh Nguyệt TÓM TẮT LUẬN VĂN
- Nghiên cứu thực hiện nhằm : (a)Xác định những yếu tố tác động ý định mua
bao bì phân hủy sinh học khu vực thành phố Hồ Chí Minh.(b)Đánh giá thực
trạng tiêu dùng bao bì phân hủy sinh học và bao bì thông thường.(c)Đưa ra
những giải pháp cho một số công ty sản xuất bao bì phân hủy sinh học giải bài
toán thị trường túi nylon tự hủy sinh học.
- Trình bày lý thuyết về bao bì, túi nylon khó phân hủy và tự hủy sinh học.
- Trình bày cơ sở lý thuyết, mô hình hành vi tiêu dùng. Kiểm chứng mô hình, bổ
sung các yếu tố cần thiết và lược bớt những yếu tố không phù hợp trong mô

cơ chế oxy hóa
Oxo-biodegradable
Plastic
Loại nhựa tự hủy theo cơ chế oxy hóa
với sự hiện diện của oxy, trong thời
gian xác định tùy theo tỷ lệ phụ gia
trộn vào nhựa thông thường
Nhựa tự hủy theo
cơ chế thủy phân
Hydro-biodegradable
Plastic
Nhựa tự hủy theo cơ chế thủy phân,
với sự hiện diện của nước, trong môi
trường có nhiều vi sinh vật.
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 2-1 Mô hình hành vi của người mua (Philip Kotler, 2001) 18
Hình 2-2 Mô hình chi tiết các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng (Philip Kotler) 19
Hình 2-3 Mô hình đo lường giá trị cảm nhận khách hàng của Sanchez et al 24
Hình 2-4 Mô hình nghiên cứu đề xuất ban đầu 25
Hình 3-1Quy trình nghiên cứu 26
Hình 3-2 Mô hình nghiên cứu đề xuất chính thức 29
Hình 4-1 Mô hình kết quả 47
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2-1: Đặc tính và ứng dụng của hai loại PE thông dụng sản xuất túi nylon 8
Bảng 2-2: So sánh túi nylon thông thường và túi nylon tự hủy sinh học 18
Bảng 3-1 Bảng mã hóa dữ liệu 32
Bảng 4-1 Thống kê theo giới tính 33

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
7. Kết cấu của đề tài 4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 6
2.GIỚI THIỆU VỀ CÁC LOẠI BAO BÌ 6
2.1 Khái niệm bao bì: 6
2.2 Các loại bao bì và quy trình sản xuất: 7
2.2.1Các loại túi nylon 7
2.2.2 Quy trình sản xuất túi nylon khó phân hủy: 9
2.2.3.Quy trình sản xuất túi nylon tự hủy sinh học: 10
2.3Tác hại của túi nylon không phân hủy sinh học: 13
Đối với môi trường nước: 15
Đối với môi trường đất: 15
Đối với động vật: 16
Đối với con người: 16
Đối với kinh tế- xã hội: 16
2.4 Công dụng của túi nylon tự hủy sinh học: 17
2.5 Mô hình nghiên cứu: 18
2.5.1 Lý thuyết hành vi mua hàng: 19
2.5.2 Nghiên cứu của Sweeney & Soutar, Sanchez & cộng sự (2006) 23
CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 26
3.Thiết kế nghiên cứu 26
3.1 Quy trình nghiên cứu 26
3.1.1.Nghiên cứu định tính sơ bộ 27
3.2 Hiệu chỉnh mô hình nghiên cứu 29
3.3 Thực hiện nghiên cứu định lượng 30
3.3.1 Quy trình khảo sát 30
3.3.2 Mã hóa dữ liệu: 31
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
4. Kết quả nghiên cứu 33

Phụ lục 2: Phân tích nhân tố
Phụ lục 3:Phân tích nhân tố biến phụ thuộc
Phụ lục 4: Phân tích hồi quy
1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐỀ TÀI
1. Lý do chọn đề tài
Theo báo Công an nhân dân ngày 18/05/2009: “Trung bình Thành phố Hồ Chí
Minh thải ra khoảng 50 tấn túi nilon/ngày nhưng chỉ thu gom được khoảng 40
tấn/ngày, còn lại không thể kiểm soát được. 10 tấn bao nilon/ngày "mất kiểm soát"
là một con số không nhỏ và ảnh hưởng của nó tới môi trường, tới sức khỏe con
người thật kinh khủng”.[1]
Trước đây, quĩ tái chế chất thải (QTCCT) lo lắng không tìm ra công ty sản xuất
túi tự hủy thì hiện nay đã có nhiều công ty sản xuất như : Hợp tác xã bao bì cơ khí
Phương Nam, Công ty Nhựa Việt Nam, Công ty CP xử lý môi trường Việt Trung,
Công ty TNHH Phúc Lê Gia,…
Tuy nhiên, còn nhiều quan ngại về sản phẩm khá mới này như: bao bì phân hủy
sinh học liệu có tự hủy thực sự hay không? Có đảm bảo thân thiện với môi trường
hay chỉ là rã ra thành từng mảng và tồn tại dai dẳng từ thế kỷ này qua thế kỷ khác?
Nhiều yếu tố về văn hóa, xã hội, tâm lý, cá nhân tác động đến hành vi tiêu dùng sản
phẩm này, họ ngại sử dụng sản phẩm lạ. Dẫn đến các sản phẩm túi tự hủy vẫn còn
xa lạ với người Việt Nam nói chung và với Thành Phố Hồ Chí Minh nói riêng. Đa
số sản phẩm túi tự hủy do các công ty trong nước sản xuất lại chỉ được thị trường
nước ngoài ưa chuộng. Điều đó cho thấy hành vi tiêu dùng bao bì phân hủy sinh học
trong nước ta cần được nghiên cứu, cần được quan tâm để làm sao các sản phẩm tốt

làm sao để bao bì phân hủy sinh học có thể thay thế được bao bì thường một
cách phổ biến nhất, hiệu quả nhất.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
o Các yếu tố tác động đến ý định mua bao bì phân hủy sinh học.

3

- Đối tượng khảo sát:
o Nghiên cứu định tính: Phỏng vấn 4 chuyên gia trong đó: 03 chuyên
gia làm tại doanh nghiệp sản xuất bao bì phân hủy sinh học và 01
quản lý siêu thị có sử dụng bao bì phân hủy sinh học.
o Nghiên cứu định lượng: khảo sát 200 người đã từng mua túi nylon tự
hủy sinh học, trong đó có 04 phiếu hỏng và 196 phiếu hợp lệ.
- Phạm vi nghiên cứu: địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu định
tính và định lượng. Cụ thể là:
 Phương pháp nghiên cứu định tính: sử dụng cách phỏng vấn trực tiếp với
các đối tượng là các nhà quản lý cấp cao và cấp trung của doanh nghiệp,
các chuyên gia trong ngành sản xuất túi nilon và các siêu thị lớn sử dụng
nhiều túi nilon.
 Phương pháp nghiên cứu định lượng: thống kê thông tin và xác định độ
mạnh/ yếu của các yếu tố tác động đến ý định mua túi nylon tự hủy sinh học
của khách hàng. Thang đo Likert năm mức độ (từ 1 là rất không đồng ý đến
5 là rất đồng ý) được sử dụng để đo lường giá trị các biến số.
 Cách thức lấy mẫu là chọn mẫu phi xác suất với hình thức chọn mẫu thuận
tiện. Sử dụng bảng câu hỏi để làm công cụ thu thập thông tin, dữ liệu cần
thiết phục vụ cho phân tích định lượng nói trên. Bảng câu hỏi chính thức có
thể tìm thấy ở phần phụ lục của luận văn này.

cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý
nghĩa của luận văn .
- Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu
o Giới thiệu tổng quan về sản phẩm bao bì phân hủy sinh học và ý nghĩa
quan trọng của nó, giới thiệu một số công ty sản xuất bao bì phân hủy
sinh học và bao bì thông thường.
5

o Trình bày cơ sở lý luận về hành vi người tiêu dùng, lý thuyết nghiên
cứu giá trị cảm nhận của khách hàng và đề xuất mô hình nghiên cứu.
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu
o Dựa trên mô hình và giả thuyết nghiên cứu từ chương 2, tác giả tiến
hành xây dựng quy trình nghiên cứu, thực hiện nghiên cứu.
o Thực hiện nghiên cứu định tính sơ bộ: tác giả trình bày chi tiết phần
thảo luận với chuyên gia .
o Trình bày quy trình thu thập và xử lý số liệu.Thực hiện phương pháp
nghiên cứu định lượng bằng cách khảo sát người tiêu dùng với số
mẫu: 196 mẫu.
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Trong chương này tác giả trình bày phần giới thiệu mô tả thống kê mẫu,
sau đó là kiểm định thang đo bằng phân tích nhân tố và Cronbach alpha.
Sau khi kiểm định thang đo, tác giả thực hiện kiểm định mô hình, kiểm
định các giả thuyết nghiên cứu và đánh giá các yếu tố thông qua hồi quy .
- Chương 5: Thực trạng và một số hàm ý nhằm đẩy mạnh hành vi tiêu
dùng bao bì phân hủy sinh học tại thị trường thành phố Hồ Chí Minh
o Đưa ra những phân tích, đánh giá thực trạng tiêu dùng bao bì phân
hủy sinh học tại thành phố Hồ Chí Minh.
o Dựa vào thực trạng để đề xuất các giải pháp để nâng cao hành vi tiêu
dùng bao bì phân hủy sinh học tại thị trường thành phố Hồ Chí Minh
nói riêng và Việt Nam nói chung.

7

2.2 Các loại bao bì và quy trình sản xuất:
Túi nylon là một loại bao bì dẻo dùng để chứa đựng và vận chuyển thức ăn, hóa
chất, nước,…. Loại túi nylon phổ biến là những túi nylon mua sắm hàng hóa với
thành phần chính là Polyethylene (còn gọi là túi xốp).
Polyethylene là chất dẻo(PE) thông dụng thường thấy trong cuộc sống hàng ngày
của chúng ta. PE là một loại nhựa dẻo phổ biến của ngành công nghiệp hóa chất và
sản xuất các sản phẩm tiêu dùng.
2.2.1Các loại túi nylon
a.Túi nylon khó phân hủy: Gồm 2 loại chính: HDPE, LDPE.
Túi HDPE ( túi nylon có tỷ lệ Polyethylene cao) còn gọi là túi xốp mỏng,
không dán nhãn, thường dùng trong siêu thị, cửa hàng và đại lý thức ăn.
Túi LDPE ( túi nylon có tỷ lệ Polyethylene thấp) là những túi dày hơn, có dán
nhãn, dùng trong các cửa hàng bán sản phẩm chất lượng cao hơn. [2]
Đặc tính Túi LDPE( Low Density
Polyethylene)
Túi HDPE( High Density
Polyethylene)
Điểm nóng chảy
Khoảng 115
0
C Khoảng 135
0
C

Độ kết tinh
Thấp ( 50% – 60%) Cao ( 90%)
Tính dẻo
Dẻo vì có độ kết tinh thấp Ít dẻo vì có độ kết tinh cao

Áp suất rất cao 1500-3000 at
Nhiệt độ gần 300
0
C
Áp suất 1 at
8

Được sản xuất từ phản ứng
hóa học của polymer và một
số chất hóa học khác.
Được sản xuất từ phản ứng
hóa học của polymer và
một số chất hóa học khác.
Tính chất hóa học
Trơ về phương diện hóa học
Chịu tốt đối với các acid và
alkalis.
Trơ về phương diện hóa
học
Ứng dụng
Túi nylon, tấm phủ nhựa,
chai nhựa
Túi lạnh, túi xốp, dây cáp,
ống nước
Bảng 2-1: Đặc tính và ứng dụng của hai loại PE thông dụng sản xuất túi nylon
b.Túi nylon tự hủy sinh học:
Loại túi nylon phân hủy bằng cơ chế sinh học do tác động của các vi sinh vật.
Theo thông tư 07/2012/TT-BTNMT ngày 04/07/2012 của Bộ tài nguyên môi trường
quy định tại điều 8 :
Túi nylon thân thiện với môi trường phải đáp ứng các tiêu chí sau đây:

ethene) hòa tan trong những hợp chất này ở nhiệt độ và áp suất sử dụng. Nước và
một số chất khác có thể được dùng để làm giảm nhiệt của phản ứng trùng hợp tỏa
nhiệt nhiều.

CH
2
=CH
2
+ R > CH
2
-CH
2
-R
Ethene initiator
CH
2
=CH
2
+ CH
2
-CH
2
–R > CH
2
-CH
2
-CH
2
-CH
2

16
).
- Polymer được hình thành ở dạng bột hay hạt không tan trong dung dịch phản ứng.
khi phản ứng trùng hợp kết thúc, thì thêm nước hoặc alcol để đốt cháy chất xúc tác.
Cuối cùng lọc, rửa và sấy khô polymer.
Kết luận:
Theo ông Norihisa Hirata – chuyên gia về mảng phân loại rác tại nguồn của dự án
3R-HN: “ túi nylon hầu như không bị phân hủy khi chôn dưới đất, trừ khi bị đốt
cháy hay có phản ứng hóa học nào đó”. Do đó mà túi nylon có thể phải mất hàng
ngàn năm mới có thể phân hủy vào môi trường do nó được cấu tạo từ polyme là một
chất rất khó phân hủy.
2.2.3.Quy trình sản xuất túi nylon tự hủy sinh học:
Để chứng minh túi nylon tự hủy sinh học thân thiện môi trường, chúng ta hãy xem
xét quy trình sản xuất loại túi này:
Quy trình của Công ty CP Văn Hóa Tân Bình Alta :
Tương tự như bao bì thường nhưng cần những thiết bị chuyên dùng tương thích
để tạo sản phẩm phân hủy.
Loại bao bì tự hủy này đang được sử dụng và có xu hướng ngày càng phổ biến trên
thế giới nhằm thay thế các túi nylon trước đây. Nó sử dụng công nghệ phân hủy
d2w.
 Công nghệ d2w:
o Là công nghệ tự hủy sinh học oxo. Cấu trúc phân tử giảm đi theo thời gian
với chất xúc tác là khí oxy (do đó gọi là oxo), quá trình này được đẩy
nhanh hơn bằng cách gia tăng nhiệt độ và sự ảnh hưởng của tia cực tím.
Cấu trúc phân tử của sản phẩm có chứa d2w sẽ giảm xuống dưới 40.000
11

daltons và rồi thì không còn là nhựa nữa mà trở thành nguồn thực phẩm
cho các vi sinh vật bám theo nó ( do đó gọi là tự huỷ sinh học) Một khi vật
liệu được sản xuất và có hiện diện của oxy thì quá trình phân rã tách lớp là

với các mẩu phân tử vỡ vụn;
o Tính chất cơ học của màng nhựa thay đổi, giảm đi lực căng, lực giãn
kéo và độ dẽo;
o Màng nhựa thay đổi từ tính chất kỵ nước (hydrophobic) sang tính chất
ưa nước (hydrophilic);
o Miếng nhựa giòn phân rã thành những mảnh nhỏ.
o Mặc dù nhựa polyolefin (PE và PP) không tự phân hủy sinh học được
vì kích thước phân tử quá lớn và không thấm nước, nhưng các mẫu
nhựa đã rã nhỏ và thấm nước thì phân hủy sinh học được.
 Quá trình tự hủy được chia thành hai giai đoạn:
o Giai đoạn 1: nhựa phân rã thành những mẫu nhựa nhỏ có thể thấm
nước theo cơ chế oxy hóa như trên .
o Giai đoạn 2: các mẫu nhựa nhỏ này được các vi sinh vật trong môi
trường phân hủy sinh học, thải ra CO
2
, nước và chất sinh khối
biomass, cũng giống như các loại nguyên vật liệu tự nhiên như lá cây,
rơm rạ hay cao su tự nhiên.
- Trong khi quá trình oxy hóa/tự hủy của nhựa polyolefins (PE và PP) xảy ra trong
thời gian rất dài, do đó cần thiết là phải thêm vào các phụ gia thúc đẩy quá trình tự
hủy hai giai đoạn này nhanh chóng hơn nhằm quản lý được lượng rác thải nhựa có
nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường thiên nhiên.
- EPI đã được nghiên cứu và phát triển gần 20 năm theo tiêu chuẩn TDPA (Total
Degradable Plastic Additives). Phụ gia này được thêm vào túi nhựa từ 2% đến 10%,
tùy theo ứng dụng riêng biệt và bảo đảm tính năng của nhựa đúng theo yêu cầu.
- EPI là nhà phát triển, cấp phép và phân phối các phụ gia nhựa phân hủy hoàn toàn
(TDPA
®).
Công nghệ EPI đã được thiết kế để kiểm soát và quản lý vòng đời của
sản phẩm làm từ nhựa phổ biến nhất được sử dụng bởi xã hội hiện đại.

văn hóa du lịch,… của cả một đất nước.
14

PGS.TS Trần Văn Sung, nguyên viện trưởng Viện Hóa học cho biết, trước đây, viện
này đã cho kiểm nghiệm hai mẫu thìa nhựa (loại nhựa cao cấp hơn để làm túi nilon).
Kết quả cho thấy, hàm lượng chì (26mg/kg), cadimi (1mg/kg) và các chất độc khác
cao gấp nhiều lần mức cho phép. Khi quan sát bằng kính hiển vi, các chuyên gia
còn phát hiện có carbonat được trộn lẫn với hàm lượng trên 20%, trong khi đó mẫu
của nước ngoài là 0%. Carbonat có nhiều trong sản phẩm sẽ làm tăng thêm hàm
lượng kim loại nặng. Trong các loại thìa trên còn có nhiều ô rỗng là nơi trú ngụ của
vi khuẩn gây bệnh. Do vậy, nếu túi nilon và đồ đựng thức ăn nhựa làm từ rác thải y
tế thì nguy cơ độc hại và nhiễm bệnh sẽ cao gấp nhiều lần.
Đối với môi trường không khí:
Theo Viện đánh giá môi trường vòng đời sản phẩm, việc sản xuất 2 túi
nylon sẽ tạo ra 1,1g chất làm ô nhiễm không khí, góp phần gây ra mưa axit và
sương khói.
Trong suốt quá trình sản xuất túi nylon sẽ sinh ra khí CO
2
gây ô nhiễm môi trường
không khí.

15 Đối với môi trường nước:
Sau khi sử dụng, một phần túi nylon con người thường vứt bừa bãi túi nylon
ra kênh, rạch, sông ngòi gây ô nhiễm nguồn nước và mất cảnh quan thiên nhiên.

nó. Có khoảng 100 con bò chết mỗi ngày tại Ấn Độ.
 Đối với con người:
Những tác hại của túi nylon đối với sức khỏe con người là những tác hại
nghiêm trọng nhất. Quá trình sản xuất túi nylon liên quan đến việc sử dụng dầu mỏ,
than đá, khí tự nhiên, dẫn đến phát sinh ra nhiều khí độc. Túi nylon gây ô nhiễm
môi trường đất, nước, đưa nhiều chất độc hại vào môi trường sống, ảnh hưởng
nghiêm trọng đến sự sống của động vật, thực vật và con người, gây ra các bệnh thần
kinh, ung thư, phổi,….
Túi nylon làm cho cống rãnh ngẹt, gây tù đọng nước, tạo ra nhiều vi khuẫn lan
truyền gây viêm não, ký sinh trùng, muỗi gây bệnh và đáng lưu ý nhất là bệnh sốt
rét và sốt xuất huyết.
 Đối với kinh tế- xã hội:
Tác hại nghiêm trọng đối với cảnh quan, môi trường gây ảnh hưởng trực
tiếp đến ngành du lịch- một ngành là ngành kinh tế mũi nhọn của một số nước.
Đặc biệt, ở các nước đang phát triển như Việt Nam, Ấn Độ, ý thức người dân đối
với việc xử lý rác, túi nylon còn chưa cao, nên tình trạng túi nylon tràn ngập mọi
nơi đã gây những thiệt hại vô cùng nghiêm trọng:
Năm 2005, tại Thành phố Mumbai Ấn Độ, đã xảy ra trận lũ lụt nặng nề khiến cho
1000 thương vong, tổn thất vô cùng đau lòng và họ đã cho rằng đó là do túi nylon

Trích đoạn Phân tích nhân tố khám phá EFA Phân tích hồi quy Những đóng góp của đề tài:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status