TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT
KHOA SAU ĐẠI HỌC
NGÀNH VĂN HỌC VIỆT NAM
TRẦN THỊ XUYẾN HÌNH TƯỢNG ĐẤT NƯỚC
VÀ CON NGƯỜI VIỆT NAM
TRONG THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM
LUẬN VĂN THẠC SĨ Đà Lạt, năm 2013
HÌNH TƯỢNG ĐẤT NƯỚC
VÀ CON NGƯỜI VIỆT NAM
TRONG THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM Luận văn thạc sĩ
GVHD: TS Nguyễn Mạnh Hùng
HVTH: Trần Thị Xuyến
Đà Lạt, tháng 12 năm 2013
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam
đoan này.
Đà Lạt, tháng 12 năm 2013
Tác giả
Trần Thị Xuyến
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
4. Phương pháp nghiên cứu 14
5. Đóng góp của luận văn 14
5. Kết cấu của luận văn 14
Chương 1: KHÁI LƯỢC VỀ VĂN CHƯƠNG SỬ THI VIỆT NAM 15
1. 1. Khái niệm 15
1. 2. Khuynh hướng sử thi trong văn học cách mạng 16
1. 3. Cảm hứng sử thi trong thơ Nguyễn Khoa Điềm 23
Chương 2: HÌNH TƯỢNG ĐẤT NƯỚC TRONG THƠ NGUYỄN KHOA
ĐIỀM 35
2.1. Hình tượng Đất Nước 35
2.1.1. Khái niệm hình tượng nghệ thuật (chỉnh thể nghệ thuật) 35
2.1.2. Hình tượng Đất Nước trong thơ ca 40
2.2. Hình tượng Đất Nước trong thơ Nguyễn Khoa Điềm 49
2.2.1. Đất Nước trong chiều sâu lịch sử văn hóa 49
2.2.2. Đất Nước của Nhân dân 64
CHƯƠNG 3: HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI TRONG THƠ NGUYỄN
KHOA ĐIỀM 85
3.1. Hình tượng con người trong văn học 85
3.2. Hình tượng con người trong thơ Nguyễn Khoa Điềm 90 98
3.2.1. Con người cá nhân 90 98
2.2.2. Con người cộng đồng 105 115
KẾT LUẬN 116
DANH MỤC NHỮNG CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 121
TÀI LIỆU THAM KHẢO 122
PHỤ LỤC: Chân dung nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm 127
1
thuật. Bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ và chương Đất Nước
trong trường ca Mặt đường khát vọng của ông đã được tuyển chọn vào sách
2 giáo khoa Ngữ văn 9 và Ngữ văn 12 giảng dạy trong nhà trường. Điều đó khẳng
định Nguyễn Khoa Điềm là một trong những gương mặt thơ tiêu biểu của thế hệ
thơ trẻ xuất hiện trong những năm chiến tranh chống Mỹ.
Đặc biệt hình tượng Đất Nước và con người là cảm hứng chủ đạo xuyên
suốt thơ kháng chiến chống Mỹ. Thơ Nguyễn Khoa Điềm dù độc đáo nhưng
cũng không nằm ngoài dòng chảy của thời đại. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước của Nhân dân là nguồn cảm hứng cho nhà thơ sáng tạo những hình tượng
này. Đồng thời, bằng cảm xúc mãnh liệt của một người trẻ hòa vào cảm hứng
dân tộc, với chất men say của lí tưởng, Nguyễn Khoa Điềm đã tạo nên chiều sâu
của hình tượng Đất Nước và con người, dựng lên gương mặt Đất Nước, gương
mặt con người trong thời đại hào hùng mà bi thương. Nguyễn Khoa Điềm đã thể
hiện trọn vẹn tình cảm, niềm xúc động mãnh liệt trước một Đất Nước trong
chiều sâu lịch sử văn hóa và Đất Nước của Nhân dân. Qua đối tượng trữ tình, tác
giả làm nổi bật vẻ đẹp quê hương Đất Nước, những vẻ đẹp trong đời sống tinh
thần, tâm linh của người Việt. Từ đó khơi dậy tình cảm, lòng tự hào và ý thức
trách nhiệm đối với Đất Nước, dân tộc; giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện về
Đất Nước con người Việt Nam.
Hình tượng Đất Nước hiện lên trong thơ Nguyễn Khoa Điềm vừa giản dị
gần gũi, vừa thiêng liêng gắn với thế giới tâm hồn con người; thế giới tinh thần
của cộng đồng người Việt và cuộc sống sinh hoạt từ bao đời gắn liền với những
phong tục tập quán, bản sắc văn hoá, Đó là một Đất Nước được tiếp nối từ
truyền thống đến hiện tại chứa đựng mơ ước, khát vọng và quan niệm về vẻ đẹp
phẩm chất của tâm hồn dân tộc .
Trên chiều rộng của không gian và chiều dài của thời gian lịch sử, Đất
Nước thể hiện sự thống nhất trên các phương diện văn hóa, truyền thống, phong
danh và bình dị ấy đã giữ gìn và truyền lại cho các thế hệ sau mọi giá trị văn hóa
vật chất và tinh thần. Nhân dân trong suốt chiều dài lịch sử là "Bốn nghìn lớp
người" [12, 33] đã đem mồ hôi, xương máu ra xây dựng và bảo vệ Đất Nước:
Khi có giặc người con trai ra trận/ Người con gái trở về nuôi cái cùng con/
Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh [12, 33]. Nhân dân đã sáng tạo ra Đất
Nước và làm chủ Đất Nước. Họ là những con người vô danh mà vĩ đại. Con
người cộng đồng cũng là những người có gương mặt chung, ý chí và tình cảm
chung nổi bật là lòng yêu nước. Chính vì lẽ đó mà yêu nước đã trở thành bản
4 trường ca bất tận và không một ai không hòa vào giọng ngâm nga đó trong thời
đại cả nước lên đường.
Nguyễn Khoa Điềm đã thành công trong việc thể hiện cảm hứng về Đất
Nước, con người trong cuộc kháng chiến chống Mỹ với một mạch cảm xúc dâng
trào, một sự liên tưởng trùng điệp, một sức tưởng tượng phong phú, dựng lên
những hình tượng mang tính khái quát cao. Đó là cảm hứng sử thi. Thơ ông giàu
tính chính luận, chất trữ tình, chất dân gian. Giọng thơ tâm tình, dịu ngọt, tứ thơ
dạt dào cảm xúc, sáng tạo về ngôn từ, hình ảnh, thể hiện một hồn thơ giàu chất
suy tư, khẳng định một thi pháp độc đáo, có nhiều tìm tòi mới mẻ.
Xuất phát từ những lí do trên, người viết chọn đề tài “Hình tượng Đất
Nước và con người Việt Nam trong thơ Nguyễn Khoa Điềm” nhằm tiếp cận tác
giả, tác phẩm và phong cách nghệ thuật của nhà thơ.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nguyễn Khoa Điềm là một nhà thơ có phong cách riêng với tâm hồn nghệ
sĩ đầy nhạy cảm. Ông thành công khi viết về chiến tranh với những đề tài mang
tầm vóc thời đại. Ngay từ khi cho ra đời những bài thơ đầu tiên, Nguyễn Khoa
Điềm đã gây được sự chú ý của người đọc, với những bài phê bình, nghiên cứu
về thơ ông.
Trong những năm chống Mỹ cứu nước, đọc Đất ngoại ô (1972), Mặt
Năm 1972 tập thơ Đất ngoại ô ra đời. Tập thơ thu hút được sự chú ý của
người đọc. Nhà thơ Vũ Quần Phương cho rằng sự thu hút đó là do thơ Nguyễn
Khoa Điềm có sự kết hợp “giữa cảm xúc và trí tuệ, giữa phẩm chất trữ tình
riêng tư và lí tưởng công dân cao cả” [49, 256]. Nhà thơ vừa là người tuyên
truyền cổ động, vừa là nhà suy tưởng, suy tư chiêm nghiệm, vừa là nghệ sĩ say mê,
nhiệt thành gắn bó với đời sống của dân tộc và Đất Nước.
Tôn Phương Lan đã phát hiện ra năng khiếu thơ của Nguyễn Khoa Điềm
ngay từ những bài thơ đầu tiên được gửi ra từ chiến trường của nhà thơ. Có được
điều đó là do Nguyễn Khoa Điềm đã “nhận thức được vấn đề cấp thiết mà cuộc
chiến đấu đang đặt ra, thơ Nguyễn Khoa Điềm là tiếng nói từ chiến trường của
tuổi trẻ” [36, 488]. Nguyễn Khoa Điềm bắt đầu làm thơ trong thời kỳ tham gia
phu trách phong trào học sinh sinh viên. Đây là hoàn cảnh để giúp nhà thơ hiểu
hơn tâm tư người trí thức, là tiếng nói của tuổi trẻ tham gia tích cực vào cuộc
chiến đấu.
6 Sau đó, nhà phê bình Hà Minh Đức đã có bài giới thiệu về Đất ngoại ô
của Nguyễn Khoa Điềm. Bài viết đã chỉ ra: “Sức hấp dẫn của thơ anh có thể là
ở một giọng nói mới mẻ, ở những tìm tòi trăn trở trong khi viết, nhưng trước hết
và chủ yếu là ở một tâm hồn thơ trẻ nồng cháy lí tưởng.” [23, 213]. Thơ Nguyễn
Khoa Điềm luôn ở đỉnh cao của lí tưởng vì thế thơ ông đầy nhiệt huyết và mê
say dựng lên không khí cách mạng sôi sục của thế hệ trẻ miền Nam và tinh thần
chiến đấu chống Mỹ của Nhân dân cả nước.
Trường ca Mặt đường khát vọng ra mắt bạn đọc năm 1974 đã đánh dấu
vị trí của Nguyễn Khoa Điềm trong nền thơ ca kháng chiến chống Mỹ. Bản
trường ca viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ miền Nam, nhận rõ bản chất của cuộc
chiến đấu, đã xuống đường đấu tranh hòa nhịp với cuộc chiến đấu của toàn dân
tộc. Vũ Quần Phương đã đánh giá rất cao về trường ca này “là một phấn đấu
của Nguyễn Khoa Điềm trong việc mở rộng dung lượng thơ, cho thơ ôm trùm
Bồn …ở đất Quảng kiên trung, Viễn Phương, Lê Anh Xuân ở Nam Bộ thành
đồng, Nguyễn Khoa Điềm làm thơ trong cuộc thử lửa ác liệt với kẻ thù ở chính
trường Trị - Thiên - Huế…Bạn đọc ghi nhận ở anh một cách suy nghĩ và diễn
đạt mới có âm hưởng riêng.” [35, 108 ]. Nguyễn Khoa Điềm đã dựng lên gương
mặt Đất Nước, con người trong trầm tích của văn hóa dân gian và trên đỉnh cao
của thời đại chống Mỹ là một trong những hướng đi mới của Nguyễn Khoa
Điềm trong cảm hứng bất tận về Đất Nước, con người.
Nguyễn Khoa Điềm là người thông minh và nhạy cảm. Trong bài
Nguyễn Khoa Điềm cảm xúc và trí tuệ, Vũ Quần Phương đánh giá rất cao phẩm
chất trí tuệ của Nguyễn Khoa Điềm. Thơ Nguyễn Khoa Điềm là kết tinh của
cảm xúc, trí tuệ thăng hoa. Ông cho rằng “phẩm chất trí tuệ của Nguyễn Khoa
Điềm bộc lộ ở cảm hứng trữ tình. Sau ngày Đất Nước thống nhất dù không viết
nhiều nhưng phần sâu nặng, tinh tế nhất trong thơ ông vẫn là phẩm chất trí
tuệ.” [49, 247]. Chất trí tuệ đã nâng cảm xúc hồn thơ Nguyễn Khoa Điềm trở
nên sâu sắc và chân thực tác động đến người đọc bằng cả trái tim và khối óc.
Cảm xúc chủ đạo trong thơ Nguyễn Khoa Điềm là cảm hứng về Đất
Nước. Cũng giống như bao nhà thơ trong kháng chiến chống Mỹ luôn trăn trở
“Tổ quốc hay là chết?”(Lời của chủ tịch Phi - đen - Cát - tơ - rô), khát vọng độc
lập trở nên gắn bó máu thịt với thế hệ thanh niên thời chống Mỹ. Quá trình nhận
đường của thế hệ thanh niên đã đi đến một niềm tin, giã từ những băn khoăn,
8 tuổi trẻ miền Nam bước vào con đường đấu tranh chung của cả dân tộc: “Cảm
xúc chủ đạo của Nguyễn Khoa Điềm thời ấy là xúc cảm của một thế hệ thanh
niên trước vận mạng Đất Nước… Họ là lớp người mà ngay buổi đầu tiên vừa ý
thức được mình, được cuộc đời thì đã phải ý thức ngay về Tổ quốc, về quân thù”
[49, 256-257]. Nguyễn Khoa Điềm đã nói lên những tâm tư nguyện vọng của
thế hệ trẻ đánh Mỹ: “Thơ anh mang tâm tình của một thanh niên học sinh giàu
nhiệt huyết và yêu lí tưởng.” [57, 64]. Từng làm phong trào sinh viên học sinh,
vừa huyền ảo thấp thoáng bóng dáng văn hoá cổ xưa của hồn dân tộc. Thơ ca
Nguyễn Khoa Điềm chứa đựng nhiều chất liệu văn học và văn hoá dân gian.
Câu thơ dù ở thể thơ truyền thống hay thơ tự do bao giờ cũng phảng phất phong
vị của ca dao, tục ngữ. Chất hiền minh của trí tuệ dân gian thấm đẫm trong từng
từ. Nguyễn Khoa Điềm lại được sinh ra và lớn lên giữa lòng chiếc nôi văn
hoá Huế. Chính cái chất Huế thâm trầm, hoàng thành rêu phong ngả bóng làm
nhuộm tím nước con sông Hương biếc xanh càng khiến thơ Nguyễn Khoa Điềm
sâu kín và loáng thoáng chút bí ẩn mơ hồ.” [1, 1]. Ông cũng đưa ra nhận xét của
Nguyễn Xuân Nam: “Thơ Nguyễn Khoa Điềm… có sức liên tưởng mạnh. Anh
thường dẫn người đọc đi từ quá khứ đến tương lai, từ khổ đau đến hạnh phúc,
từ sách vở đến đời sống” [1, 1]. Từ đó ông khẳng định điểm tỏa sáng của
Nguyễn Khoa Điềm: “Vâng, giàu vốn tri thức sách vở Đông Tây, ngồn ngộn
chất liệu đời thực là một thế mạnh tạo nên nhiều khoảnh khắc loé sáng trong
những liên tưởng độc đáo của thơ Nguyễn Khoa Điềm.” [1, 1]. Cái tên Ưu Điềm
nơi nhà thơ sinh ra đã mở một hướng đi riêng, một cách nói năng, một giọng
điệu riêng trong dòng thơ chống Mỹ tiêu biểu với phong cách đậm chất Huế của
Nguyễn Khoa Điềm.
Tóm lại: Các nhà phê bình đều đánh giá cao tài năng Nguyễn Khoa Điềm,
cho rằng Mặt đường khát vọng đã góp một phong cách mới, đi sâu vào khía
cạnh nội dung lịch sử - dân tộc, thời đại, triết lí - trữ tình; thể hiện nét tinh tế, tài
hoa. Lối diễn đạt giàu sức khái quát hiện thực, suy tưởng đầy chất chính luận,
vừa “đồng thanh” vừa có “cá tính”, đại diện thế hệ.
Trải qua thời gian đến năm 2002, Vũ Văn Sỹ chỉ ra thơ Nguyễn Khoa
Điềm một giọng thơ trữ tình sử thi. Nét nhất quán của thơ Nguyễn Khoa Điềm là
đi suốt trong chiều dài lịch sử, thơ ông luôn đề cập đến những vấn đề mang tính
chất và tầm vóc sử thi: “Đó là một thứ thơ trữ tình thấm đẫm chất men say khát
10 vọng và hành động. Một thứ thơ giàu chất sử thi của một thời” [58, 39]. Xuất
giọng thơ cũng khác đi. Nhà thơ Vũ Quần Phương trong bài viết: Ngôi nhà có
ngọn lửa ấm có sự so sánh thơ Nguyễn Khoa Điềm trong thời kì kháng chiến
chống Mỹ với những bài thơ trong Ngôi nhà có ngọn lửa ấm của nhà thơ
Nguyễn Khoa Điềm: “Hồi kháng chiến chống Mỹ, những bài thơ của Nguyễn
Khoa Điềm gửi từ miền Nam ra đã gây được sự chú ý đặc biệt của bạn đọc.
Người ta yêu chất lí tưởng rất thanh niên hòa quyện trong một tình cảm thắm
thiết về Nhân dân, Đất Nước. Khi chiến tranh đã qua đi Nguyễn Khoa Điềm
muốn tìm hiểu chất thơ trong cái thường ngày…Anh quan tâm đến những cảm
nhận của lòng mình…nắm bắt chất thơ trong cái bình dị thường ngày. Đây là
một hướng tìm có ý nghĩa với một nền thơ sau chiến tranh” [57, 53]. Là một
người hay ưu tư, suy nghĩ, điềm đạm và trầm lặng vì thế mà Nguyễn Khoa Điềm
hay suy tư về cuộc sống, về con người; Nhân dân, Đất Nước; với những chiêm
nghiệm của nhà thơ về đời sống xã hội, nhân tình thế thái Những chiêm
nghiệm và suy tư đó được thể hiện bằng những trải nghiệm của một người đã đi
qua bao thăng trầm của cuộc đời.
Vũ Quần Phương cho rằng: “Nguyễn Khoa Điềm muốn tìm chất thơ ẩn
trong cái thường ngày…Nguyễn Khoa Điềm muốn dùng cái đạm để nói nói về
cái nồng…” [57, 54]. Những trăn trở từ đáy lòng đều được cởi trói. Người thơ
ấy hòa vào tất cả người, vào quê hương để soi chiếu gương mặt của mình, đứng
trong hiện tại mà chiêm nghiệm, ngẫm suy.
Năm 2011, Hoàng Thụy Anh phát hiện ra con người thực của tác giả, cốt
cách một thi nhân qua tập thơ Cõi lặng: ““Cõi lặng”- chốn sâu nhất của bản
ngã để tìm gương mặt mình: Anh soi gương mặt mình/ Với nỗi buồn trong sạch”
[4, 96]. Như đã tới tận cùng của “cõi lặng”, và cũng không nói gì cả, nhà thơ
trở về của với những cội nguồn sâu kín và thiết thân nhất của lòng mình và chỉ
lặng thầm đau. Nhưng chưa chắc đã muốn chia sẻ nỗi đau ấy với ai kết lại thành
một hồn thơ ưu tư đầy trăn trở. Mặc dù tập thơ có tên Cõi lặng nhưng tâm hồn
thi nhân không hề phẳng lặng vẫn đầy tha thiết với Đất Nước, con người. Điều
- Mặt đường khát vọng (1974, Nxb Văn nghệ giải phóng)
- Đất và khát vọng (1981, Nxb Văn học, Hà Nội (tái bản)
- Ngôi nhà có ngọn lửa ấm ( 1986, Nxb Tác phẩm mới hội nhà văn Việt Nam)
- Cõi lặng, (2007, Nxb Văn học, Hà Nội)
- Thơ Nguyễn Khoa Điềm trong Tuyển tập Văn học Việt Nam thế kỷ XX (Thơ
13 ca 1945-1975 Quyển 4 tập VIII), Nxb Văn học, Hà Nội, 2010
- Thơ Nguyễn Khoa Điềm trong Tinh hoa thơ Việt, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội,
2007
- Một số các bài thơ mới sáng tác năm 2004 và 2006 của Nguyễn Khoa Điềm
đăng trên tạp chí nhà văn số 6. 2009
Sự nghiệp sáng tác của của Nguyễn Khoa Điềm thành công rực rỡ trong
giai đoạn kháng chiến chống Mỹ. Vì thế người viết đi sâu nghiên cứu những
sáng tác của ông trong giai đoạn này.
Toàn bộ luận văn viết về “Hình tượng Đất Nước và con người trong thơ
Nguyễn Khoa Điềm” tập trung vào hai hình tượng chính là “Đất Nước” và “con
người”. Từ những hình tượng này người viết đi sâu khám phá thơ Nguyễn Khoa
Điềm về mặt cảm hứng sáng tạo. Đó là một cách để khám phá thế giới nghệ
thuật thơ Nguyễn Khoa Điềm mà người viết muốn trình bày.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp lịch sử - xã hội: Trong hoàn cảnh cuộc kháng chiến chống
Mỹ “người người ra trận, nhà nhà ra trận”, đặc biệt là được sống trong không
khí cách mạng sôi sục của đồng bào miền Nam và tinh thần chiến đấu chống Mỹ
của Nhân dân cả nước. Đó là một hoàn cảnh đặc đã ảnh hưởng đến hồn thơ
Nguyễn Khoa Điềm. Thời đại và chính bản thân Nguyễn Khoa Điềm đã hình
thành cho ông những tố chất của một nhà thơ - một chiến sỹ. Thơ Nguyễn Khoa
Điềm vừa thấm nhuần phong cách thời đại vừa có những nét riêng độc đáo.
Chính vì vậy người viết chọn phương pháp lịch sử - xã hội để tiếp cận thơ
- Cung cấp một điểm nhìn tổng hợp thơ Nguyễn Khoa Điềm, có thêm tài liệu
tham khảo trong giảng dạy, nghiên cứu và học tập về thơ Nguyễn Khoa Điềm.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Khái lược về văn chương sử thi Việt Nam.
Chương 2: Hình tượng Đất Nước trong thơ Nguyễn Khoa Điềm.
Chương 3: Hình tượng con người trong thơ Nguyễn Khoa Điềm.
15
CHƯƠNG 1
KHÁI LƯỢC VỀ VĂN CHƯƠNG SỬ THI VIỆT NAM
1.1. Khái niệm
“Trong nghĩa hẹp và chuyên biệt, sử thi (épos) trỏ một nhóm thể loại trong
tự sự, đó là sử thi anh hùng, tức là những thiên tự sự kể về quá khứ anh hùng
hàm chứa những “bức tranh” rộng và hoàn chỉnh về đời sống Nhân dân và về
những anh hùng, dũng sĩ đại diện cho một thế giới sử thi nào đó, thống nhất, hài
hòa. Sử thi anh hùng tồn tại dưới dạng truyền miệng, lẫn dưới dạng đươc ghi
chép thành sách; số đông những bản chép các thiên sử thi anh hùng tiêu biểu
đều có ngọn nguồn dân gian; bản thân các thể loại này cũng hinh thành ở cấp
độ dân gian.” [3, 290]. Theo nghĩa này sử thi là những tác phẩm hoành tráng đề
cập đến những vấn đề chung của toàn thể cộng đồng. Sử thi xuất hiện rất sớm
trong lịch sử ngợi ca những sự nghiệp anh hùng có tính chất toàn dân và có ý
nghĩa trọng đại với nhân loại trong buổi bình minh của lịch sử. Trong sử thi anh
hùng ca, nhân vật trung tâm bao giờ cũng là người anh hùng toàn thiện toàn mỹ
biểu cho ý chí và phẩm chất cao đẹp của toàn dân tộc.
Sử thi ra đời trong những thời đại có biến cố đặc biệt có ý nghĩa quyết
định đối với đời sống tinh thần và vận mệnh của dân tộc. Thể loại này chỉ xuất
hiện trong những thời đại anh hùng có những xung đột mang tính chất sống còn
đối với cộng đồng. Ở Việt Nam cách mạng tháng Tám năm 1945 và ba mươi
năm kháng chiến chống Pháp, Mỹ là giai đoạn hào hùng trong lịch sử dân tộc.
Ra đời trong giai đoạn đó văn học cách mạng đã xây dựng nên những hình ảnh
tươi sáng giàu sức sống chưa từng có trong lịch sử…
1.2. Khuynh hướng sử thi trong văn học cách mạng
Cách mạng Tháng Tám thành công là "cuộc tái sinh mầu nhiệm" đã mở ra
bước ngoặt lớn cho quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc của Nhân dân ta.
Đồng thời nó cũng là động lực để tạo nên một cuộc cách mạng trong văn học.
Đó là sự thay đổi của một cách nhìn, một cách cảm, một quan niệm sống trong
sáng tạo nghệ thuật. Văn học Việt Nam phát triển dưới sự lãnh đạo của Đảng với
17 đường lối văn nghệ xuyên suốt (Bản đề cương văn hóa năm 1943) là yếu tố
trọng yếu chấm dứt sự phân hóa phức tạp của văn hóa văn học nước ta dưới ách
thực dân, tạo nên một nền văn nghệ thống nhất sau 1945. Hai cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ trường kỳ suốt 30 năm đã tác động sâu sắc,
toàn diện tới đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc, trong đó có văn nghệ,
tạo nên những đặc điểm riêng biệt của một nền văn học hình thành và phát triển
trong hoàn cảnh chiến tranh gian khổ, ác liệt. Tính chất sử thi là một đặc điểm
nhất quán của văn học nước ta sau cách mạng tháng Tám.
Nền văn học sử thi đầy ắp những sự kiện lịch sử hướng về đại chúng gắn
bó sâu sắc với Nhân dân lao động. Văn học mang tính Nhân dân sâu sắc, thể
hiện ở chỗ phát hiện ở họ khả năng cách mạng và phẩm chất anh hùng; tập trung
khắc họa hình tượng quần chúng cách mạng, diễn tả vẻ đẹp tâm hồn của Nhân
dân lao động. Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng
với cái tôi hòa điệu vào khúc nhạc tình quê hương Đất Nước. Con người cá nhân
tìm thấy chỗ đứng giữa Nhân dân, văn học tìm thấy chỗ đứng cao cả trong sự
nghiệp dân tộc.
Nền văn chương sử thi gắn liền với nhiệm vụ của văn nghệ với kháng
chiến: quan điểm của Đảng về văn nghệ được thể hiện rõ trong câu nói của Bác
Hồ: "văn nghệ là cũng là một mặt trận và các anh chị em nghệ sĩ là chiến sĩ trên
mặt trận đó" (Thư gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa 1951- Hồ Chí
Minh). Dưới sự chỉ đạo thống nhất đó, các tác phẩm văn học thời kì này thể hiện
rõ vai trò là "vũ khí chiến đấu" chống quân thù. Đối tượng tiếp nhận là đông đảo
quần chúng Nhân dân, ca ngợi những tấm gương chiến đấu hi sinh anh dũng, ca
ngợi Nhân dân, ca ngợi những anh hùng, lãnh tụ, tuyên truyền đường lối, quan
điểm kháng chiến của Đảng, động viên Nhân dân thi đua lao động sản xuất, cổ
vũ các chiến sĩ ngoài mặt trận, ngợi ca tinh thần yêu nước, lòng căm thù giặc
Ngược lại kháng chiến cũng tác động và ảnh hưởng sâu sắc tới văn học.
Hiện thực cuộc kháng chiến khốc liệt, gian khổ mà anh dũng, hào hùng của dân
tộc đã cung cấp cho các nhà văn nguồn đề tài vô cùng phong phú. Đồng thời,
hiện thực sinh động cũng cung cấp cho các nhà văn những gương điển hình lao
động, chiến đấu, tạo cảm hứng và gợi ý những hình tượng nhân vật cho tác
phẩm. Những phẩm chất cao đẹp của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam
đều được thể hiện sinh động và xúc động trong thực tế kháng chiến. Các tác
19 phẩm trong giai đoạn này đều ca ngợi Đất Nước con người.
Văn học thời kỳ này thống nhất giữa thiên hướng sáng tạo của cá nhân với
yêu cầu mới của thời đại. Những tác phẩm văn học đều xoay quanh công cuộc
chống đế quốc xâm lược. Đường lối lãnh đạo của Đảng đã xác lập cho người
viết lập trường Nhân dân đúng với tinh thần: “Nhân dân là bể, văn nghệ là
thuyền” (Lời đề từ tập Việt Bắc - Tố Hữu). Theo tiếng gọi của Đảng, nhà văn có
mặt trên khắp mọi nẻo đường của cuộc chiến tranh. Chính vì thế họ đã cảm nhận
thi đòi hỏi miêu tả các sự kiện lớn như chiến tranh, cách mạng. Đó là các sự kiện
ôm tùm tất cả, đòi hỏi động viên sức lực tâm huyết của cả dân tộc. Quan điểm sử
thi đòi hỏi mọi người phải đối xử với nhau như anh em, đồng chí, bạn bè; đòi
hỏi mọi người phải lớn như nhau trong tầm vóc quốc gia. Sử thi là sự khẳng
định dân tộc trong cơn nguy biến. Khẩu hiệu của sử thi là “Tổ quốc hay là
chết”! Tình huống sử thi đặt con người trước sự nghiệp anh hùng, đòi hỏi con
người trở thành anh hùng đại diện dân tộc… “Tư duy sử thi cho phép các nhà
thơ thể hiện tập trung vấn đề cách mạng và dân tộc, dân tộc và nhân loại, dân
tộc và thời đại, dân tộc hiện đại và truyền thống.” [52, 179]. Các nhân vật, hình
tượng trong các tác phẩm mang cảm hứng sử thi, dù là những con người bình dị,
thuộc nhiều tầng lớp, lứa tuổi, thành phần dân tộc đều mang trong mình những
phẩm chất anh hùng, thể hiện tầm vóc lớn lao, kết tụ sức mạnh, ý chí chung của
cả cộng đồng. Nhân vật trung tâm ở đây là những con người gắn bó số phận
mình với số phận Đất Nước và kết tinh những phẩm chất cao quý của cộng đồng
đại diện cho giai cấp, cho dân tộc và thời đại. Trên phương diện nghệ thuật,
khuynh hướng sử thi thể hiện ở cách xây dựng nhân vật mang tầm vóc, kích cỡ
sử thi, được đặt trong sự liên tưởng, so sánh theo lối thi vị hóa, lí tưởng hóa. Đó
là những Tnú, cụ Mết và dân làng Xô man, là hình ảnh anh chiến sỹ giải phóng
quân chiến đấu và hy sinh đến phút cuối cùng: Bởi Anh chết rồi nhưng lòng
dũng cảm/ Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tiến công/ Anh tên gì hỡi Anh yêu quý/
Anh vẫn đứng lặng im như bức thành đồng (Dáng đứng Việt Nam - Lê Anh
Xuân).
Cảm hứng chủ đạo khi xây dựng những hình tượng, nhân vật này là cảm
hứng khẳng định, ngợi ca, tự hào thường kết hợp với thủ pháp cường điệu hóa.
Các nhân vật thường được đặt trong bối cảnh không gian rộng lớn, kì vĩ để tôn
tầm vóc của nhân vật Với cảm hứng đó Tố Hữu gọi Trần Thị Lí là “người con