ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYERET, TRUYỆN NGẮN CỦA NGUYỄN VĂN XUÂN GIAI ĐOẠN 1054-1975 - Pdf 30

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Phan Thị Thu Hồng
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS. TRẦN HỮU TÁ Thành phố Hồ Chí Minh – 2008

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn, tôi
luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình quý báu của các thầy cô giáo, bạn
bè và gia đình. Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến:
- PGS.TSKH. Trần Hữu Tá, người hướng dẫn khoa học đã tận
tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
- Ban Giám hiệu trường Đại học Sư phạm Tp. HCM, Phòng
Khoa học Công nghệ & Sau Đại học, Khoa Ngữ văn, quý Thầy Cô
giáo đã tận tình giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiê
n cứu và
hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
- Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè
thân hữu đã dành tình cảm, động viên và giúp đỡ tôi học tập, nghiên
cứu để hoàn thành luận văn này.

Tp. Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2008
Tác giả luận văn

2.1.Cảm hứng khám phá vùng đất xứ Quảng............................................................37
2.1.1. Một thiên nhiên khắc nghiệt, dữ dội........................................................39
2.1.2. Vùng đất của những cuộc đụng độ quyết liệt trong lịch sử dựng
và giữ nước của dân tộc...........................................................................46
2.1.3. Vùng đất của sự tiếp biến văn hoá...........................................................50
2.2.Cảm hứng ca ngợi tính cách, phẩm chất con người xứ Quảng ...........................58
2.2.1. Những con người cần cù, dũng cảm kiếm sống, sinh tồn trên
vùng quê nghèo khó
.................................................................................59
2.2.2. Những con người yêu nước nồng nàn có ý thức trách nhiệm với
Tổ quốc ....................................................................................................66
2.2.3. Những con người cứng cỏi, ngang tàng, bộc trực thẳng thắn .................84
2.2.4. Những con người có tính tình cởi mở, nhạy bén với cái mới..................94
2.2.5. Những con người nhân hậu, đa cảm đa tình............................................99
2.3.Cảm hứng tố cáo phê phán................................................................................110
2.3.1. Tố cáo tội ác về chính trị của thực dân Pháp và tay sai.........................110
2.3.2. Lên án ách áp bức bóc lột của bọn thực dân, giai cấp tư sản ................113
2.3.
3. Lên án thủ đoạn xâm lăng văn hoá của đế quốc Mỹ .............................116
Chương 3: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ NGHỆ THUẬT

3.1.Tiểu thuyết đậm chất hiện thực.........................................................................119
3.1.1. Nội dung phản ánh.................................................................................119
3.1.2. Miêu tả nhân vật, xây dựng chi tiết .......................................................122
3.2.Truyện ngắn giàu chất kí...................................................................................125
3.2.1. Nhân vật và sự kiện có thật trong lịch sử ..............................................126
3.2.2. Đề tài - cốt truyện ..................................................................................133
3.3.Kết cấu độc đáo.................................................................................................134
3.3.1. Cốt truyện giàu kịch tính .......................................................................135
3.3.2. Tình huống truyện đặc biệt....................................................................135

đất Quảng.
Nguyễn Văn Xuân vừa là nhà văn, nhà báo vừa là nhà nghiên cứu giảng dạy
lịch sử, biên khảo và cũng là một soạn giả tuồng có tiếng trên văn đàn Sài Gòn - Đà
Nẵng từ những năm 1940. Vốn được sinh ra từ “miền xương xẩu của đất nước Việt
Nam” (chữ dùng của Nguyễn Văn Xuân), được mọi người xưng tụng một cách trìu
mến: “nhà Quảng N
am học”, “một con người từ một ngôi làng”, Nguyễn Văn Xuân
rất am hiểu về quê hương Quảng Nam, từ lịch sử hình thành, con người Quảng Nam
trong đấu t
ranh chống xâm lược đến quá trình lao động sinh tồn trên vùng đất “cày
lên sỏi đá”. Từ những hiểu biết ấy, những trang viết của ông đã đem lại trong lòng
người đọc ấn tượng sâu sắc về truyền thống đấu tranh, truyền thống văn hóa, tính
cách con người vùng đất “phên giậu” của Tổ quốc. Được chắt lọc từ “sỏi đá”,
“xương xẩu”, từ sóng gió của biển, bí ẩn của rừng….. những trang viết của Nguyễn
Văn X
uân giản dị, mực thước mà đậm đà chất Quảng.
Cuộc đời và những trang viết của Nguyễn Văn Xuân dường như rất ít lần
vượt khỏi phạm vi “Quảng Nam quốc”. Đối với ông, mỗi nhà văn phải thể hiện kiến
văn sâu sắc trên trang viết của mình. Bằng cách đó, nhà văn không cần đi xa, đi
nhiều, chỉ viết về quê hương chôn nhau cắt rốn của mình, cũng có thể đủ làm nên
tên tuổi. Điều kỳ lạ là Nguyễn Văn X
uân chỉ viết về một vùng, một miền nhưng tầm
vóc của những sáng tác ấy đã vượt khỏi phạm vi hạn hẹp sinh ra nó, vươn tới những
vấn đề lớn lao, cao cả, đầy chất nhân văn ở mỗi con người, trên khắp mọi miền Tổ
quốc. Đó chính là sức mạnh của văn chương mà không phải ngòi bút sáng tác nào
cũng có thể làm được.
Nhưng như một nghịch lý, một trớ trêu hay trò đùa của tạo hóa đối với những

Hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu trọn vẹn về văn chương của ông. Do
thời gian có hạn, luận văn chỉ tập trung và
o việc tìm hiểu, nhằm rút ra những đặc
điểm chủ yếu của tiểu thuyết và truyện ngắn của Nguyễn Văn Xuân giai đoạn 1954
- 1975 trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật.
Tiểu thuyết và truyện ngắn của Nguyễn Văn Xuân phần lớn được sáng tác
trong giai đoạn 1954 - 1975. Tuy nhiên, do điều kiện khách quan, chúng tôi chỉ tiếp
cận được hệ thống tác
phẩm của ông tập hợp trong Tuyển tập Nguyễn Văn Xuân
gồm một tiểu thuyết và 17 truyện ngắn (do nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản năm
2001), ngoài ra còn có hai truyện ngắn trong giai đọan thử bút: Ngày giỗ cha, Ngày
cuối năm trên đảo sáng tác trước 1945, được in trong Tổng tập văn học Việt Nam,
Tập 33, xuất bản năm 2000.
3. Lịch sử vấn đề
Nguyễn Văn X
uân là một nhà văn được nhiều người biết đến trong giai đoạn
văn học 1954 - 1975. Có thể nói đây là “thời kỳ bùng nổ thành hiện tượng vang dội
trên văn đàn” của nhà văn với nhiều tác phẩm và công trình biên khảo có giá trị.
Trong Tổng tập văn học Việt Nam, Tập 33, ông có hai truyện ngắn được tuyển
chọn. Người ta còn giới thiệu Nguyễn Văn Xuâ
n với truyện ngắn Tiếng đồng được
xếp vào 43 truyện ngắn hay trong tuyển Văn học miền Trung thế kỷ XX, xuất bản
năm 1988. Cũng trong năm 1988, Địa chí Văn hóa Thành Phố Hồ Chí Minh, một
công trình lớn, có giá trị, do Trần Văn Giàu và Trần Bạch Đằng chủ biên ( Nhà xuất
bản Thành Phố Hồ Chí Minh), được xuất bản. Sách đã dành một chương để nói về
“Văn học yêu nước công khai ở Sài G
òn trong ba mươi năm cách mạng và kháng
chiến” do các tác giả Tầm Vu, Nguyên Thanh, Viễn Phương, Hồ Sĩ Hiệp, Trần Hữu
Tá đồng biên soạn. Nguyễn Văn Xuân được nhắc đến như một nhà văn tiêu biểu
cùng với các cây bút yêu nước, những trí thức, những nghệ sĩ cao niên như Trần

hai bài viết với tư các
h là nhà nghiên cứu về văn hóa Quảng Nam: Những người
Quảng Nam đóng góp cho Thăng Long, Bắc Thành - Hà Nội trước 1945 và bài
Người Quảng Nam với sự phát triển các ngành nghề ở miền Nam.
Cũng trong năm 2001, nhân dịp mừng thượng thọ 80 tuổi của nhà văn, nhằm
ngày nhà giáo 20/11 mở đầu thiên niên kỷ mới, nhà xuất bản Đà Nẵng đã tập hợp
các tác phẩm văn chương của Nguyễn Văn Xuâ
n sáng tác giai đoạn 1954 - 1975 vào
Tuyển tập Nguyễn Văn Xuân. Và nhà văn Đà Linh, ủy viên thường vụ Hội liên hiệp
văn học nghệ thuật thành phố Đà Nẵng đã giới thiệu về những đóng góp của
Nguyễn Văn Xuân. Ông nhận xét: “Trên lãnh vực nào, từ bài báo, câu chuyện nhỏ,
đến công trình lớn chúng ta đều thấy rõ dấu ấn tài năng tâm huyết thuở nào bởi vẫn
còn đó những phát hiện, nét sáng tạo độc đáo, vẫn còn đó sự thông tuệ. Trên hết là
tấm lòng và nhân cách người cầm bút” [63, tr.11].
Năm 2004 trong Từ điển văn học (bộ mới), Bùi Thị Thiên Thai đã giới thiệu
Nguyễn Văn X
uân như trả lại cho ông chỗ đứng xứng đáng với những gì mà ông đã
đóng góp (bộ Từ điển văn học cũ không giới thiệu về Nguyễn Văn Xuân). Tác giả
đã nhận xé
t: “Hầu hết các tác phẩm của Nguyễn Văn Xuân đều thể hiện một vốn
kiến văn sâu rộng, một giọng văn giản dị hồn hậu, đậm đặc chất Quảng Nam, và
đặc biệt, một tấm lòng yêu thương tha thiết đối với quê hương Quảng Nam”
[18, tr.127].
Đặc biệt những bài viết về Nguyễn Văn Xuân đồng loạt ra đời như những né
n
tâm hương mà những người yêu mến ông thắp lên tưởng nhớ vong linh nhà văn sau
ngày 4/7/2007. Có thể kể đến những bài viết tiêu biểu trên các nhật báo Thanh niên,


nhắc đến với tác phẩm mới nhất của ông “Kỳ nữ họ Tống”. Đây là một đề tài được
ông ấp ủ, xây dựng khá lâu, dựa theo câu chuyện về một người đàn bà có thật trong
lịch sử xứ Đàng trong, đã có một thời làm đảo điên cả triều đại Chúa Nguyễn, suýt
xóa bỏ cả tên triều đại này trong lịch sử Việt Nam ngay những thập niên đầu của
thế kỷ17. H
iếm thấy người đàn bà nào lại có cuộc đời sóng gió, ghi dấu ấn sâu sắc,
rùng rợn, tác động mãnh liệt đến xã hội, chính trị, quân sự, đạo đức như vậy. Bà
Chúa Chè làm điên đảo cơ nghiệp Trịnh Sâm ghê gớm là thế, cũng chỉ là bóng mờ
bên cạnh Tống Thị. Đặng Thị Huệ chỉ tác động được chúa Trịnh bỏ trưởng lập thứ.
Còn Tống Thị thật sự chủ động, tích cực trong việc hại
dân, tích lũy thành phú gia
địch quốc, thay ngôi chúa bằng những hành động táo bạo [69].
Và dường như đây là thời điểm các học giả có dịp nhìn lại để ngạc nhiên và
thán phục sức làm việc dẻo dai, tinh thần lao động nghệ thuật nghiêm túc, ý chí tự
học để đạt đến độ thâm viễn, một phẩm chất làm người trong sáng, ngay thẳng của
Nguyễn Văn Xuâ
n. Nhà nghiên cứu Trần Tuấn cho rằng: Công việc lao động nghệ
thuật nghiêm túc, sáng tạo trong cuộc đời của Nguyễn Văn Xuân như một thứ
“thuốc nghiện” “Nghiện đọc và nghiện học (phần lớn tự học) đã giúp ông trở thành
một nhà giáo đáng kính với nhiều thế hệ học trò tên tuổi, rồi thành một nhà nghiên
cứu tiếng tăm ở miền Nam trước và sau giải phóng[…] Nghiện “Viết” đã giúp ông
trở thành một nhà văn có giọng văn riêng đặc sắc qua hàng loạt truyện ngắn, tiểu
thuyết”[73].
Còn Thanh Thảo với bài Vĩnh biệt nhà văn Nguyễn Văn Xuân thì nhận định:
Nếu con người có hai lỗ tai để nghe, thì Nguyễn Văn Xuân có một lỗ tai của
nhà văn và một lỗ tai của nhà sử học. Cả hai đều tinh tường, tinh tế, đều rất “biết


đem đến cho người xung quanh nụ cười” [73]. Tinh thần lạc quan vui sống khiến
nhà văn rất tâm đắc với câu thơ giục giã của Xuân Diệu:
“Mau với chứ, vội vàng lên với chứ
Em ơi em, tình non sắp già rồi”
Khi ngâm nga những câu thơ này, nhà văn cho rằng: “nó không chỉ có ý
nghĩa suông về tình yêu, mà nó còn phản ánh lên một sự nôn nóng đổi mới, cách tân
đất nước từ trào lưu thơ mới, nên nó vẫn luôn có giá trị bất cứ lúc nào”[
69].
Còn Đặng Ngọc Khoa trong bài Nhà văn Nguyễn Văn Xuân về với quê nhà đã
viết về bài học “Làm người ngay thẳng” của Thầy Xuân qua tiết lộ của nhà điêu
khắc Phạm Văn Hạng - người có vinh dự tạo mô hình ngôi mộ cho nhà văn – “lúc
sinh thời nhà văn mong muốn khi qua đời, được an táng bên dưới ngôi mộ của Ông
Ích Khiêm trên đồi Phong Lệ Bắc, do ông mê câu nói nổi tiếng của danh tướng này:
Trên chó, dưới cũng chó. Bọn bay chỉ chấu đầu ăn, c
hẳng lo chi việc nước” [66].
Nhà văn sống ngay thẳng, công tâm như vậy, nhưng thật ra trái tim của ông rất độ
lượng, bao dung với người. “Trong con người nhà văn Nguyễn Văn Xuân dường
như không bao giờ có sự tị hiềm hay giận dỗi. Ông bao giờ cũng tìm thấy ở người
khác, ở con người nói chung – cái vẻ đẹp của tạo hóa, của nhân tính. Điều đó, ông
không nói ra, nhưng hễ ai gần ông chắc chắn đều thấy mồn một! Từ đây trong văn
giới xứ Quảng đã vắng mãi một tấm lòng, một tài năng, một phẩm giá không có gì
thay thế được” [69]
.
Có thể lấy chính lời bộc bạch của Nguyễn Văn Xuân khi nói về một trong
những tác phẩm của mình để thay lời tổng hợp các ý kiến đánh giá về sáng tác của
ông: “Cuốn sách nhằm
giúp củng cố thêm cho các bạn trẻ ở phía Nam hiểu được dĩ
vãng đất đai của mình, củng cố niềm tin mà phát triển văn hóa văn nghệ. Người
Quảng Nam vẫn đóng góp không ngừng vào sự đăng cao của văn học miền

Nguyễn Văn Xuân trên tinh thần kết hợp các yếu tố tương đồng về nội dung, nghệ
thuật xây dựng nhân vật, kết cấu , ngôn ngữ… để rút ra nhận định, đánh giá
tác phẩm.
5.2.3 Phương phá
p so sánh: Đặt nhà văn trong mối quan hệ đồng đại và lịch
đại để vấn đề được đánh giá khách quan hơn. Kết hợp so sánh tác phẩm của Nguyễn
Văn Xuân với các tác giả khác để đưa ra nhận định chính xác về ông.
Ngoài ra trong quá trình khảo sát chúng tôi còn sử dụng phương pháp phân
tích - tổng hợp để làm sáng tỏ vấn đề.
6. Cấu trúc của luận văn.
Luận văn gồm các phần sau đây:
MỞ ĐẦU
Chương 1: Nguyễn Văn Xuân với vùng đất và con người Quảng Nam, với văn
học đô thị miền Nam 1954 – 1975
Chương 2: Những nguồn cảm hứng chính của Nguyễn Văn Xuân qua tiểu
thuyết và truyện ngắn 1954 – 1975
Chương 3: Những đặc điểm về nghệ thuật

KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

hình dung về Quảng Nam là một vùng, miền có điều kiện tự nhiên địa lý vô cùng
đặc biệt.
Theo giáo sư Nguyễn Văn Hạnh, vùng đất Quảng Nam
“Kéo dài từ núi Hải
Vân đến núi Đá Bia gồm 4 tỉnh: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, có
thể gọi Quảng Nam lớn theo nghĩa rộng. Còn Quảng Nam nhỏ, theo nghĩa hẹp,
được Nguyễn Ánh lập từ năm 1801 trên cơ sở phủ Điện Bàn và phủ Thăng Hoa, bao
gồm thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam hiện nay” [16, tr.480]. Xét theo vị trí
địa lý cả Quảng Nam theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp đều nằm kh
oảng giữa của “chiếc
đòn gánh” Trung Bộ, một bên là núi non hiểm trở cao ngất, một bên là biển rộng
mênh mông với bờ biển dài 150 km. Nhà nghiên cứu Nguyễn Q. Thắng đã miêu tả
địa hình của Quảng Nam như sau:
Bờ biển chạy dài từ cực Bắc đến cực Nam. Sau lưng là dãy Trường Sơn sừng
sững án ngự cả biên giới Việt Lào, núi non trùng điệp. Phía trước biển cả, một dải
đất toàn là cát trắng mênh mông, bên trong là mấy mảnh đồng bằng bị thắt riết
vào, bao nhiêu là rừng khô và thung lũng…Trước mặt biển Đông bao la, sóng biển
dồn dập ngày đêm quanh Ngũ Hành Sơn, các cửa biển sâu thăm thẳm là nơi tàu bè
có thể cập bến bất cứ lúc nào [50, tr.24].
Với điều kiện tự nhiên như vậy, Quảng Nam có một thiên nhiên phong phú, đa
dạng. Đồng thời, nơi đây hội tụ nhiều thiên tai: bão lụt, hạn hán… Ở vùng đất này,
những hiện tượng tự nhiên gần như được đẩy lên đến cực điểm “mùa hè đến, r
uộng
đồng, đất đai cũng nứt nẻ không kém phần ủ dột, tiêu điều” [50, tr.26].
Mặt khác, Quảng Nam vẫn có những đồng bằng tương đối phì nhiêu, những
vùng khoáng sản phong phú. Theo Lê Quý Đôn: “các núi ở phủ Thăng Bình đều có
sản xuất vàng….ở đảo Đại Chiêm có Yến, ở nguồn Thu Bồn có quế, huyện Diên

người ta thường nghĩ đến Quảng Nam
. Tuy trong khu vực này từng có “ngũ
Quảng”: Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Hoá (Thừa Thiên ), Quảng Nam, Quảng
Ngãi, nhưng công cuộc mở rộng bờ cõi về phương Nam thật sự bắt đầu từ Quảng
Nam cho cả một hành trình dài đến tận Hà Tiên.
Ngược dòng thời gian, khi nói đến lịch sử hình thành xứ Quảng Nam ta không
thể không nhắc đến một vương quốc từng hiện hữu ở vùng này, có nền văn hoá phá
t
triển khá rực rỡ ảnh hưởng không ít đến đời sống văn hoá Quảng Nam. Xưa kia,
khoảng cuối thế kỷ II, người Chăm ở quận Tượng Lâm, lợi dụng lúc nhà Hậu Hán
suy yếu (khoảng năm 192), đã nổi lên khởi nghĩa và giành thắng lợi, lập nên nhà
nước “Lâm Ấp” (có nghĩa là “xứ Rừng”) với vị vua Chăm đầu tiên là Xơri Mara. Và
quốc hiệu Chămp
a đã xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ VI. Chămpa là tên của một
loài hoa (hoa sứ), nếu nói rút gọn thì thành “Chăm” biến âm là “Chàm”. Âm Hán
Việt là “Chiêm Thành”, rút gọn là “Chiêm”…Giữa hai thời kỳ Lâm Ấp và Chămpa
sử sách Trung Hoa còn ghi một tên nữa gọi là “Hoàn Vương”. Người Việt còn dùng
một số tên khác như “Hời”, “Lồi” để gọi dân tộc này. Thời đó, vương quốc Chămp
a
được chia thành 4 châu (vốn xưa kia là những tiểu quốc khác nhau) đó là Amaravâti
(tương ứng khu vực từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi mà Quảng Nam là trung tâm),
Vijaya (tương ứng với khu vực Bình Định, Phú Yên), Kauthara (tương ứng với khu
vực Khánh Hoà), Panduranga (tương ứng với khu vực Ninh Thuận, Bình Thuận).
Vương quốc Chămpa tồn tại cho đến thế kỷ XVII, trải qua nhiều triều đại, ban đầu
đóng đô Sinhapur
a (Trà Kiệu, Quảng Nam), sau dời sang Indrapura (Đồng
Dương,Quảng Nam), rồi vào Vijushia và Sudra (Đồ Bàn, An Nhơn, Bình Định).
Theo sử sách đã ghi, từ năm 973, Lê Đại Hành đã mang quân đánh vào kinh
đô Indrapura, nhưng cuộc tiến quân này chỉ là một cuộc “thăm dò” chưa rõ ý định
mở mang bờ cõi. Sau khi tịch thu một số của cải, Lê Đại Hành đã rút quân. Đến

nh Tông đã nhận hai châu này và đổi thành Thuận Châu (Bắc Hải Vân
quan) và Hoá Châu (Nam Hải Vân quan ). Như vậy, biên giới Đại Việt không dừng
lại ở Quảng Trị mà kéo dài đến sông Thu Bồn.
Nhà Trần còn cử tướng Lê Quí Li đem quân vào cửa Thị Nại, tiến đánh Đồ
Bàn, kinh đô Chiêm Thành vào năm 1377 nhưng thất bại. Khi đó, Chế Bồng Nga đã
đánh nước ta đến kinh thành Thăng Long. Nhưng sau khi Chế Bồng Nga chết năm
1390, đất nước Chiêm Thành rối ren. Nhân cơ hội này, nhà Hồ (1400 - 1407), trước
đó đã chiếm ngôi nhà Trần, năm 1402, thương thảo với triều đình Chiêm Thành
nhượng “Chiêm Động” (Bắc Quảng Nam), “Cổ Lũy Động” (Nam Quảng Nam) cho
người Việt. Nhà Hồ đã chia Chiêm Động và Cổ Lũy Động thành bốn châu: Châu
Thăng, Châu Hoa (Quảng Nam hiện nay), Châu Tư và Châu Nghĩa (Quảng Ngãi
hiện nay). Nhà Hồ đã tổ chức ráo riết hơn trong việc đưa dân và
o định cư ở vùng
đất mới, đến mức bắt người dân đến ở đâu phải chạm tên vùng đất ấy vào cánh tay
mình. Việc làm đó của triều nhà Hồ như một hoạt động cưỡng chế di dân quyết liệt.
Nhưng mặt khác, ta cũng thấy được một ý chí trụ bám dữ dội, chắc chắn, thể hiện
một nhu cầu khá bức bách về đất đai, về việc củng cố phía Nam
của đất nước để đối
phó với phương Bắc. Đến đây, lịch sử đất nước ta vẫn chưa có danh xưng Quảng
Nam.
Khi nhà Hồ bị bại dưới tay nhà Minh thì 4 châu: Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa, đã bị
người Chiêm chiếm lại. Tháng 8 - 1470, vua Chiêm Thành là Bàn La Trà Toàn đem
10 vạn quân thủy bộ cùng voi và ngựa chiến đánh úp Hoá Châu (Châu Rí của
Chiêm Thành ngày trước, Thừa Thiên - Huế ngà
y nay). Lúc này, ở nước ta là triều
Lê Thánh Tông. Trước hành động xâm lấn của Chiêm Thành, tháng 10 năm 1470,
vua Lê Thánh Tông chọn gần 26 vạn quân thủy bộ, truyền chiếu “bình Chiêm” nói

bao gồm một vùng rộng lớn từ Nam Thuận Hoá vào sát núi Thạch Bi ở Phú Yên. Do
đó, cả khu vực từ rừng núi xuống đồng bằng và các hải đảo dọc theo lãnh thổ trên
đều thuộc đạo Thừa Tuyên Quảng Nam” [50, tr.34]. Như vậy, vua Lê Thánh Tông
đã mở rộng bờ cõi về phía Nam không dừng lại ở sông Thu Bồn mà kéo dài đến
Phú Yê
n.
Thừa Tuyên Quảng Nam lúc mới thành lập có ba phủ: Thăng Hoa, Tư Nghĩa và
Hoài Nhơn. Phần đất phía Bắc phủ Thăng Hoa sát đến đỉnh đèo Hải Vân, vua Lê lập
thành huyện Điện Bàn cho lệ thuộc vào dinh Quảng Nam. Năm 1609 và năm 1611,
người Chiêm nổi loạn, chúa Nguyễn Hoàng cho tướng đánh dẹp và chia Hoài Nhơn
làm 2 phủ: phần đất phía Bắc vẫn giữ nguyên địa d
anh Hoài Nhơn, phần đất phía
Nam lập thành phủ Phú Yên. Như vậy, nói về chiều dài lịch sử thì Phú Yên thuộc
phủ Hoài Nhơn của Thừa Tuyên Quảng Nam vào năm 1471. Nói về danh xưng phủ
Phú Yên thì đã có vào năm 1611, rồi đến năm 1832 đổi thành tỉnh Phú Yên. Còn
phủ Hoài Nhơn, năm 1604 đổi thành phủ Qui Nhơn vẫn thuộc dinh Quảng Nam.
Đến năm 1799, Nguyễn Phúc Ánh đổi là Bình Định. Năm 1832 là tỉnh Bình Định.
Như thế, Thừa Tuyên Quảng Nam
là đất mẹ của bốn tỉnh: Quảng Nam, Quảng
Ngãi, Bình Định, Phú Yên. Dù đất Quảng Nam đã cải đổi từ Thừa Tuyên Quảng
Nam đến xứ Quảng Nam, đến trấn Quảng Nam và dinh Quảng Nam thì vẫn luôn tồn
tại địa danh Quảng Nam. Dù sau 1832, đất Quảng Nam chỉ còn
¼
của Thừa Tuyên
Quảng Nam thuở khai sinh (1471), cũng vẫn là địa danh Quảng Nam. Xác định như
vậy, đến năm 2008 này Quảng Nam tròn 538 tuổi.
Tuy qua nhiều lần đổi tên và sau này (1996) tách thành hai đơn vị hành chính


chắc thắng lợi của những cuộc kháng chiến chống xâm lược phương Bắc là cần
thiết. Điều đó, gần như trở thành một yêu cầu sống còn đối với Đại Việt.
1.1.2. Con người Quảng Nam
1.1.2.1. Thành phần cư dân Quảng Nam
Qua lịch sử hình thành Quảng Nam đầy phức tạp và biến động thì có thể lấy cột
mốc nào để xác định sự có mặt, định cư của dân Đại Việt trên vùng đất Quảng
Nam? Giáo sư Ngu
yễn Văn Hạnh, một học giả uy tín đồng thời cũng là một người
con của Quảng Nam đã khẳng định: “Danh xưng Quảng Nam xuất hiện trên bản đồ
nước ta vào năm 1471, nhưng cư dân Đại Việt tức cư dân Quảng Nam sau này thì
đã có mặt ở vùng đất này từ 1402, đến nay đã 600 năm” [16, tr.480]. Tiến sĩ Bùi
Thị Tân, giảng dạy khoa lịch sử Đại học Sư phạm Huế cũng nêu: “Quảng N
am
được sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt đầu thế kỷ XV, năm 1402 dưới thời Hồ. Quá
trình di dân Việt vào khai khẩn, dựng làng có tổ chức cũng bắt đầu từ đấy” [43,
tr.108]. Nhà nghiên cứu Nguyễn Q. Thắng, cũng nêu cái mốc để xác định sự có mặt
của cư dân Đại Việt trên đất Quảng Nam
: “Nhà Hồ hạ lệnh cho dân có của ở Nghệ
An, Thuận Hoá đem vợ con vào khai khẩn, dân ấy phải khắc hai chữ tên châu mình
trên cánh tay” [50, tr.30].
Như vậy, nói đến cư dân Quảng Nam là nói đến sự có mặt của người Việt sinh
cơ lập nghiệp trên vùng đất này kể từ năm 1402, đến nay đã là sáu thế kỷ. Trong sáu
thế kỷ đầy biến động, thử thách dữ dội liên tục giữa những cuộc nội chiến và chiến
tranh chống ngoại xâm, cư dân Quảng Nam
làm cách nào để có thể vừa tồn tại vừa
phát triển qua bao hưng vong của các triều đại? Họ là ai mà có bản lĩnh vượt qua
những thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên ở vùng “Ô Châu ác địa” lại có thể
đứng mũi chịu sào ở nơi được xem là “đất yết hầu của miền Thuận - Q
uảng”, vùng

người Chiêm vẫn còn. Và họ đã sống cộng cư với người Việt. Sự tồn tại của một số
người Việt mang họ Trà, họ Chế, họ Ma, họ Ông (họ Chiêm Thành) là bằng chứng
cụ thể về sự cộng cư ấy. Nhưng trên đây chưa phải là tất cả. Vào thời nhà Minh có
sự di cư của người Tr
ung Hoa đến Hội An và Tam Kỳ, hình thành những làng Minh
Hương. Dưới thời Mạc Phủ Tokugwa, người Nhật đến buôn bán và định cư ở Hội
An. Trên mảnh đất của phía Tây Quảng Nam lại có người Man là tổ tiên của những
tộc ít người n
hư Cơtu, Xơđăng, Gié, Triêng ở huyện Hiên, Phước Sơn, Trà My hiện
nay…
Như vậy, ngay từ khi mới thành lập, cư dân Quảng Nam là sự cộng cư trong
suốt quá trình mở nước với thành phần rất phức tạp. Ở đây, có sự kế thừa, giao lưu
tiếp nhận những di sản cộng đồng Chăm, sự tổng hợp của sắc thái các làng quê xứ
Bắc, Bắc Trung Bộ tạo nên làng mạc xứ Quảng. Có thể nói: “Đất Quảng quả là nơi
hội tụ, giao tiếp văn hoá Bắc – Nam” [43, tr.113].
1.1.2.2. Tính cách con người Quảng Nam
Tính cách con người là một trong các giá trị tinh thần do con người sáng tạo,
tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong tương tác giữa con người với môi
trường tự nhiên và xã hội. Vì vậy tính cách của con người là một yếu tố văn hoá dâ
n
tộc. Tính cách dân tộc là một cấu trúc tinh thần được định hình trong một quá trình
lịch sử rất lâu dài hàng trăm năm, thậm chí hàng ngàn năm, trên cơ sở những điều
kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hoá nhất định, thay đổi rất chậm chạp trong sự
vận động và phát triển. “Tính cách là hệ thống những phẩm chất, đặc điểm tồn tại
khác
h quan, tất yếu, tạo thành một “hằng số”, một nếp gấp, một “đường mòn”, một
thiên hướng trong tư duy, trong cuộc sống, trong ứng xử, hoạt động của con người,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status