Sử dụng phương pháp dạy học phù hợp với năng lực trí tuệ của sinh viên sư phạm - Pdf 30

SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC PHÙ HỢP VỚI
NĂNG LỰC TRÍ TUỆ CỦA SINH VIÊN SƯ PHẠM
Trần Văn Thế
1Hiện nay, quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm không còn là
vấn đề mới trong công cuộc đổi mới phương pháp dạy học, rất nhiều phương pháp
dạy học tích cực được nghiên cứu và áp dụng nhằm giúp người học chủ động chiếm
lĩnh tri thức. Tuy nhiên, các phương pháp này không thể áp dụng có hiệu quả đối
với mọi đối tượng. Việc nghiên cứu năng lực học tập, khả năng tư duy, các đặc
điểm tâm sinh lý của người học để từ đó sử dụng những phương pháp dạy học tích
cực phù hợp với từng đối tượng học sinh – sinh viên (người học) là điều rất cần
thiết nhằm đạt hiệu quả tối ưu trong quá trình dạy - học.

1. Đặt vấn đề
Đào tạo nguồn giáo viên có chất lượng cao giảng dạy trong các cấp học của hệ thống giáo dục
quốc dân là sứ mệnh của các trường sư phạm. Bên cạnh việc đầu tư cơ sở vật chất, tăng cường đội
ngũ, nâng cao hiệu lực quản lý hoạt động dạy và học, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học (PPDH)
nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của sinh viên (SV) đang là mối quan tâm hàng đầu
của các trường sư phạm hiện nay. Tuy nhiên, các phương pháp dạy học chỉ thực sự phát huy hiệu quả
khi được áp dụng đúng lúc, đúng chỗ, đúng đối tượng. Trong bài báo này, chúng tôi tìm hiểu các
phương pháp đánh giá năng lực trí tuệ của người học, trên cơ sở đó, đề xuất sự cần thiết phải lựa chọn
một phương pháp dạy học phù hợp.
2. Nội dung
2.1. Các phương pháp đánh giá năng lực trí tuệ
2.1.1. Đánh giá năng lực trí tuệ của sinh viên bằng các trắc nghiệm tâm lý
Trắc nghiệm tâm lý phổ biến trên thế giới hiện nay vẫn là sử dụng các trắc nghiệm trí thông
minh (Intelligence test), nhằm xác định chỉ số IQ (Intelligence Quotient), từ đó phân loại SV theo các
mức trí tuệ và làm cơ sở để xác định PPDH thích hợp.
Cùng với Intelligence test, chúng ta có thể sử dụng SAT (Scholastic Assessment Test, trắc

và hoạt động cơ thể không liên quan tới nhau
- Tương tác cá nhân: Năng lực cốt lõi để nhận biết sự khác biệt giữa người này với người
khác; những cái tương phản trong tâm trạng, tính khí, động lực và những dự định của họ
- Hướng vào nội tâm: Tiếp cận đời sống tình cảm của bản thân, một loạt những cảm xúc của
bản thân, khả năng phân biệt những cảm xúc này để gọi tên chúng và dựa vào chúng hình thành nên
nhận thức và định hướng hành vi của chính họ
- Tự nhiên học: Thành thạo trong việc ghi nhận và phân loại cây cối và động vật. Những kỹ
năng quan sát, tập hợp, phân loại đó cũng được ứng dụng trong môi trường của “con người”
Ngoài ra, có thể sử dụng dạng trắc nghiệm Raven Test để đánh giá năng lực trí tuệ của sinh viên
đại học, cao đẳng.
Sau khi cho SV thực hiện những bài trắc nghiệm, nhà sư phạm sẽ căn cứ vào số điểm cá nhân
SV đạt được để xếp loại mức trí tuệ, phân loại năng lực theo nhóm tuỳ theo mục đích của mình.
Trên đây là những trắc nghiệm tâm lí chủ yếu được các nhà nghiên cứu sử dụng để tìm hiểu,
đánh giá, phát hiện năng lực trí tuệ của người học. Tuy nhiên trong thực tế dạy học, người dạy có thể
sử dụng những test thích hợp để tìm hiểu khả năng nhận thức của người học, từ đó đưa ra PPDH phù
hợp nhất.
2.1.2. Đánh giá năng lực trí tuệ của sinh viên qua hoạt động của các giác quan
- Phong cách học tập bằng giác quan
Cách đơn giản nhất và thông dụng nhất để xác định các phong cách học tập khác nhau là dựa
vào cảm giác, cách này thường được gọi là mô hình VAK (Visual - Thị giác, Auditory - Thính giác,
Kinesthetic - Xúc giác), khung mô hình này mô tả người học như thị giác, thính giác, xúc giác. Những
sinh viên “thị giác” làm việc có hiệu quả nhất với những thông tin có thể nhìn thấy, những sinh viên
“thính giác” hiểu tốt nhất thông qua việc nghe, và những học viên “xúc giác” học thông qua việc va
chạm và chuyển động.
Mô hình học tập VAK
Thị giác
Tranh ảnh, băng hình, đồ thị, sơ đồ, biểu đồ, mô hình
Thính giác
Bài giảng, ghi âm, chuyện kể, âm nhạc, động từ hóa, đặt câu hỏi
Xúc giác

như sau:
- Dùng phiếu điều tra: có thể dùng phiếu trắc nghiệm. Cấu trúc của phiếu bao gồm các chữ cái
sắp xếp không theo một qui luật logic nào, phát cho mỗi SV 1 phiếu tiếp đó yêu cầu SV rà soát, gạch
chéo (/) loại bỏ các chữ cái thuộc một nhóm (có thể gồm một số chữ), nhóm chữ khó hay dễ nhớ được
sử dụng tuỳ theo đối tượng hoặc mục đích thực nghiệm (ví dụ nhóm chữ có hình dạng tương tự nhau
như C, O, Q, SV có thể dễ gạch nhầm do làm nhiều dẫn đến mệt mỏi thần kinh) sau mỗi phút đánh
dấu bằng một gạch thẳng (|), làm như vậy liên tục trong 5 phút. Quá trình này được theo dõi và thông
báo mốc thời gian (mỗi phút và hết 5 phút)
- Xử lí kết quả: Thống kê tổng số chữ được soát, số đúng, số sai và số sót. Các số liệu được
phân loại theo giới tính, qua đó phát hiện những SV có khả năng tập trung chú ý Cao, Trung bình và
Thấp
Sau khi thu thập được các thông tin về khả năng tập trung chú ý, người GV có thể phần nào xác
định được năng lực chủ động tiếp thu tri thức trong học tập của cá nhân mỗi SV, khả năng tư duy độc
lập, sự bền bỉ và tính chính xác cao trong lao động trí tuệ của họ
Trên đây là một số cách tìm hiểu năng lực trí tuệ của người học - chủ thể của hoạt động học tập
là những cơ sở tâm, sinh lí quan trọng giúp người dạy phần nào đánh giá đúng năng lực cá nhân, khả
năng tiếp thu tri thức, phát hiện năng khiếu bẩm sinh, và đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp
những thông tin cần thiết để người dạy thực hiện việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy học đạt
kết quả tốt hơn.
2.2. Lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp năng lực trí tuệ của sinh viên
Sau khi tìm hiểu kĩ năng lực trí tuệ của người học bằng cách sử dụng các biện pháp nêu trên,
người dạy sẽ có những định hướng đổi mới PPDH theo các tiêu chí sau:
- Lựa chọn các PPDH phù với đối tượng người học
Đổi mới PPDH không có nghĩa là thay đổi bản chất của từng phương pháp cụ thể mà chỉ có thể
nghiên cứu để vận dụng, lựa chọn, phối hợp các PPDH phù hợp với từng loại bài, từng đơn vị kiến
thức bài học sao cho phù hợp với từng đối tượng hoặc từng nhóm đối tượng người học. Mỗi loại
PPDH đều có những ưu, nhược điểm nhất định, nó sẽ phát huy được tác dụng khi người dạy biết rõ
đối tượng dạy học của mình để có cách vận dụng thích hợp.
- Tích cực hoá hoạt động học tập của người học
Mục tiêu của đổi mới phương pháp là thay đổi căn bản - tạo sự biến đổi về chất trong hoạt động dạy


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Ngô Công Hoan và cộng sự, Những trắc nghiệm Tâm lý, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội,
1997.
2. Đỗ Công Huỳnh, Chương trình phục vụ đề tài Z1- Senue – 1999.
3. Mai Văn Hưng, Nghiên cứu thời gian phản xạ cảm giác- vận động của giáo sinh trường
Trung học Sư phạm Thanh hoá, Tạp chí Sinh lí học, tập 5-No-1, Hà Nội, 4/2001.
4. Tạ Thuý Lan, Sinh lý thần kinh trẻ em, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, 1992.
5. Lê Quang Long, Hoá điện phản xạ và trí nhớ, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1983.
6. Chu Văn Mẫn, Đào Hữu Hồ, Thống kê sinh học, Nxb Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội, 2000.
7. Miller, Các phong cách học tập: Trí tuệ đa phương tiện. 2001.
8. http://www.hieuhoc.com/goc-hoc-sinh/hocdesong/chitiet/nang-luc-tri-
tue-con-nguoi-2011-04-21.
9. http://staff.agu.edu.vn/hphai/sites/default/files/Styles.pdf.

TO USE TEACHING METHODS CONSISTENT WITH THE INTELLECTUAL CAPACITY
OF PEDAGOGICAL STUDENTS
Tran Van The
Abstract
Nowadays, the view of teaching of learner-centered is not new issue in the innovation of
teaching methods, many active teaching methods are studied and applied to help learners actively
occupy knowledge. However, these methods can not be applied effectively to all subjects, the study of
learning ability, thinking ability, the psychological characteristics of learners from which to use the
active teaching methods appropriately to each student (learner) is essential to achieve optimal
efficiency in the process of teaching.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status