BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
HOÀNG VĂN BÌNH
ĐÁNH GIÁ SỨC SẢN XUẤT CỦA DÊ CỎ VÀ TỔ HỢP LAI
GIỮA DÊ CỎ VỚI ĐỰC F1(BOER × BÁCH THẢO)
NUÔI TẠI HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH BẮC KẠN LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
cảm ơn và các thông tin trích dẫn được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 28 tháng 8 năm 2014
Tác giả luận văn
Hoàng Văn Bình Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình
của nhiều tập thể và cá nhân. Đến nay luận văn của tôi đã hoàn thành, nhận
dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
Thầy hướng dẫn tôi: PGS.TS. Nguyễn Bá Mùi đã đầu tư nhiều công sức
và thời gian hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện đề tài, đánh giá kết quả
và hoàn thành luận văn.
Ban Quản lý đào tạo, Khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng thuỷ sản, Học viện
Nông nghiệp Việt Nam.
Lãnh đạo, tập thể cán bộ công nhân viên chức của Sở Khoa học công
nghệ tỉnh Bắc Kạn.
Các thầy cô, các bạn sinh viên Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Các hộ chăn nuôi dê trên địa bàn các huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn.
Nhân dịp này cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các
Thầy (Cô) trong hội đồng chấm bảo vệ luận văn đã chỉ bảo giúp tôi hoàn thiện
luận văn.
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC 4
2.1 Một số thông tin về con dê 4
2.1.1 Nguồn gốc, vị trí và phân loại dê 4
2.2.2
Đặc điểm sinh học của con dê 4
2.2.3 Đặc điểm về sinh trưởng của dê 5
2.2.4
Khả năng sản xuất của dê 6
2.2 Đặc điểm về khả năng sinh sản của dê 7
2.3 Đặc điểm của dê Boer, dê Bách thảo, dê cỏ. 8
2.3.1
Vài nét về dê cỏ 8
2.3.2
Đặc điểm của dê Boer 8
2.3.3
3.3.3
Năng suất và phẩm chất thịt của dê cỏ, con lai 3 máu (25% Boer
25% BT và 50% Cỏ) 21
3.4 Phương pháp xử lý số liệu 23
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
4.1 Đặc điểm màu sắc lông và ngoại hình 24
4.2 Khối lượng của dê Cỏ được làm tươi máu 28
4.3 Đặc điểm ngoại hình và khối lượng dê lai 3 máu (25% Boer
25% BT 50% Cỏ) 29
4.4 Tăng trưởng tuyệt đối 33
4.4.1 Tăng trưởng tuyệt đối của dê cỏ 34
4.4.2
Tăng trưởng tuyệt đối của dê lai 3 máu (25%Boer
25%BT50%Cỏ) 36
4.4.3
So sánh khả năng tăng trưởng tuyệt đối của dê cỏ làm tươi máu
so với dê cỏ và dê lai 3 máu 36
5.1.1. Đặc điểm ngoại hình 87
5.1.2. Về sinh trưởng 87
5.1.3. Về sinh sản 87
5.1.4. Khả năng chống đỡ bệnh 87
5.1.5. Năng suất, chất lượng thịt 87
5.1.6. Hiệu quả kinh tế chăn nuôi dê 88
5.2 Đề nghị 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC 97
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Số lượng dê trên thế giới và khu vực từ 2010 – 2013 11
Bảng 2.2: Sản lượng thịt và sữa dê trên thế giới năm 2009 – 2012 12
Bảng 4.1: Màu sắc lông của dê cỏ 24
Bảng 4.16: Ước tính hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi dê lai (25%Boer
25%BT50%Cỏ) 85
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC ĐỒ THỊ
Trang
Đồ thị 2.1: Số lượng và giá bán dê trên thị trường từ năm 1994- 2008 15
Đồ thị 4.1: Khối lượng của dê cỏ qua các tháng tuổi 27
Đồ thị 4.2: Khối lượng của dê lai 3 máu (25%Boer 25%BT50%Cỏ)
qua các tháng tuổi 32Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
1. MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Dê là loài gia súc nhai lại nhỏ được nuôi ở nhiều nơi trên thế giới - từ
Bắc bán cầu tới Nam Bán Cầu, từ những vùng rừng rậm ẩm ướt tới những
vùng Trên thế giới, chăn nuôi dê tập trung ở các nước đang phát triển, những
vùng khô cằn núi đá và chủ yếu ở khu vực nông thôn với quy mô nhỏ. Ở những
nước phát triển, chăn nuôi dê có quy mô đàn lớn hơn và theo phương thức chăn
nuôi thâm canh, hiệu quả kinh tế đạt khá cao (FAO, 2004). Trong vòng 15 năm
thay đổi và tiềm năng của nó bắt đầu được khai thác tích cực hơn. Tuy còn có
những quan điểm khác nhau về chủ trương phát triển, song chăn nuôi dê đang
ngày càng được chú trọng và có đóng góp lớn vào việc phát triển kinh tế của
người nghèo. Đặc biệt là ở các vùng mà chăn nuôi bò sữa và lợn lai không
thích hợp, thì dê được coi là con vật có thể giúp người nông dân tăng thêm
thu nhập, xoá đói, giảm nghèo và vươn lên làm giàu.
Nhiều nghiên cứu đã cho thấy lai tạo là phương pháp cải tiến giống
nhanh nhất. Con lai có sức sản xuất cao hơn nhiều so với giống bản địa. Cải
tạo tầm vóc, khối lượng giống dê, nâng cao thu nhập cho người chăn nuôi,
góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân ở các vùng gò, đồi, núi trong
tỉnh Bắc Kạn, đặc biệt là người nghèo có ý nghĩa kinh tế rất lớn. Vấn đề còn
có ý nghĩa rất lớn về khoa học, các giống dê cỏ là nguồn gen quý để thực hiện
các công thức lai kinh tế có hiệu quả cao trong thực tại. Đồng thời, những sản
phẩm chăn nuôi có giá trị cao còn mang dấu ấn địa phương, trong tương lai sẽ
là cơ sở để xây dựng thương hiệu sản phẩm chăn nuôi của Bắc Kạn, ví dụ “Dê
núi đồi Bắc Kạn”.
Từ những nhận thức trên, chúng tôi tiến hành Đề tài: “Đánh giá sức sản
xuất của dê Cỏ và tổ hợp lai giữa dê Cỏ với đực F1(Boer x Bách Thảo)
nuôi tại huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn”
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
Đề tài là sự cụ thể hóa đường lối và phương hướng phát triển kinh tế xã
hội của tỉnh Bắc Kạn trong nông, lâm nghiệp nói chung và trong chăn nuôi nói
riêng, tăng hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi.
1.2 Mục đích của đề tài
Chọn lọc đàn dê cỏ tạo ra đàn cái nền có khả năng sinh sản cao cho lai
tạo với dê lai F1(Boer x BT) tạo ra con lai có năng suất cao, tăng từ 10 - 20 %
so với giống dê cỏ với chất lượng thịt tốt, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho
2.2.2 Đặc điểm sinh học của con dê
Đặc điểm sinh học của dê có nhiều ưu thế hơn so với các loài gia súc
khác nên chúng ngày càng được con người đầu tư và phát triển.
Theo Sharma (1993), dê là loài gia súc có thể sống trong những điều
kiện khắc nghiệt và có khả năng thích nghi với nhiều vùng khí hậu khác nhau.
Chúng sống được ở những vùng sa mạc khô cằn như sa mạc Thar, Sahel hoặc
những vùng có độ cao so với mặt nước biển 2.500 m như vùng Hindu-Kush,
Himalaya cho tới những vùng rừng rậm nhiệt đới có nhiệt độ, ẩm độ cao và
lượng mưa lớn (3.000 – 5.500 mm/năm).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
Dê có đặc điểm nhanh nhẹn, dẻo dai và linh hoạt hơn những gia súc
khác. Với khả năng leo đồi núi tốt chúng có thể di chuyển trên những mỏm
núi đá cao mà trâu và bò không bao giờ tới được. Dê ưa sống ở những vùng
núi cao nhất là những vùng núi đá, khô ráo, sạch sẽ, thức ăn tươi không dập
nát. Khả năng tiêu hoá chất xơ của dê tới 64% nên chúng có thể ăn được
nhiều loại thực vật khác nhau, trong đó có nhiều loại thực vật là cây thuốc,
cây có nhiều chất tanin nên tạo cho dê có khả năng chống bệnh tốt, ít mắc
bệnh hơn những gia súc khác (Nguyễn Đình Rao và cs., 1979).
Dê ăn được nhiều loại lá cây địa phương hơn trâu, bò, cừu và thỏ. Chăn
nuôi dê cần vốn đầu tư ban đầu thấp, thu hồi vốn nhanh, tận dụng được lao
động và sản phẩm phụ nông nghiệp. Đối với một số vùng sâu, vùng xa chăn
nuôi dê còn đóng một vai trò quan trọng trong công tác xoá đói giảm nghèo.
Thịt và sữa dê có giá trị dinh dưỡng cao, được nhiều người ưa chuộng, thịt dê
thơm ngon, sữa dê rất bổ, đặc biệt thích hợp với người già và trẻ em. Khác
với các động vật khác, dê ít mắc bệnh truyền nhiễm nguy hiểm (Phạm Sỹ
Lăng và Nguyễn Đăng Khải, 2001).
2.2.3 Đặc điểm về sinh trưởng của dê
Sinh trưởng là quá trình tích luỹ các chất dinh dưỡng trong cơ thể để gia
cấp đầy đủ, cân đối cả về số lượng và chất lượng thức ăn.
Khả năng sản xuất thịt và chất lượng thịt: Đánh giá khả năng sản xuất
thịt của gia súc ngoài việc theo dõi tốc độ sinh trưởng, phát triển của gia súc
theo từng giai đoạn, còn phải theo dõi đến sự thay đổi về khối lượng, phẩm
chất thịt, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng, khối lượng lúc giết mổ, thời
điểm giết mổ, tỷ lệ thịt xẻ và các yếu tố mùa vụ. Do vậy nghiên cứu xác định
tuổi, thời gian giết mổ thích hợp phù hợp với quy luật sinh trưởng của gia súc,
thời vụ trong năm, tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng là rất cần thiết, nhằm xây
dựng chế độ nuôi dưỡng hợp lý, phù hợp với đặc điểm của con dê để đem lại
hiệu quả kinh tế cao nhất.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
2.2 Đặc điểm về khả năng sinh sản của dê
Sinh sản là một đặc tính quan trọng của gia súc nhằm duy trì và bảo tồn
nòi giống, so với các gia súc ăn cỏ địa phương khác, dê là con vật có khả năng
sinh sản cao. Các đặc tính sinh sản của dê được biểu hiện ra ngoài khi chúng
đã thành thục về tính dục.
Sự thành thục về tính của dê được xác định khi dê cái có biểu hiện thải
trứng và dê đực sản xuất được tinh trùng và có biểu hiện tính dục. Tuổi đưa
vào sử dụng thường đến muộn hơn, khi đó cơ thể con vật đã phát triển khá
đầy đủ và có khả năng sinh sản, nhân giống được. Theo Devendra và cs
(1984) tuổi thành thục về tính trung bình của dê: 4 – 12 tháng tuổi, khác nhau
theo giống và chế độ nuôi dưỡng. Theo Đặng Xuân Biên (1993) dê cỏ thành
thục về tính lúc 4 – 6 tháng tuổi. Sau khi thành thục về tính thực sự, dê bước
vào thời kỳ sinh sản.
Theo Devendra và cs (1983) thời kỳ sinh sản của dê từ 7 - 10 năm.
Trong thời kỳ sinh sản, dê đực thường có hoạt động sinh sản thường xuyên và
liên tục, dê cái có hoạt động sinh sản theo chu kỳ động dục, chửa đẻ, tiết sữa
nuôi con rồi lại động dục. Devendra (1984) cho rằng ở dê có ba loại chu kỳ
Dê cỏ có màu lông không thuần nhất loang vá song cũng có 1 số màu
chính: đen, vàng, tro, cánh gián. Một số con vùng mặt có 2 sọc nâu đen. Dọc
lưng từ đầu đến khấu đuôi có 1 dải lông đen, bốn chân có đốm đen, chân chắc
khoẻ, vận động linh hoạt. Dê cỏ có tầm vóc nhỏ, trọng lượng trưởng thành
khoảng 30 – 35 kg, sơ sinh 1,7 - 1,9 kg, 6 tháng tuổi đạt 11 – 12 kg, khả năng
cho sữa 350 - 370 g/con/ngày, với chu kỳ cho sữa là 90 – 105 ngày, tuổi phối
giống lần đầu 6 - 7 tháng, đẻ 1,4 lứa/năm, 1,3 con/lứa, tỷ lệ nuôi sống đến cai
sữa 65 – 75%, phù hợp với chăn thả quảng canh với mục đích lấy thịt.
2.3.2 Đặc điểm của dê Boer
Đây là giống dê chuyên thịt có năng suất thịt cao nhất hiện nay thế giới.
Dê có nguồn gốc từ châu Phi được nuôi nhiều ở Mỹ, Việt Nam mới nhập
giông dê này năm 2002. Dê có lông: thân màu trắng, lông đầu và cổ màu nâu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
đỏ, sừng ngắn (hoặc không sừng). Dê có cơ bắp rất phát triển, sinh trưởng
nhanh tỷ lệ thịt cao và có chất lượng tốt. Có thể xác định tỷ lệ thịt xẻ theo lứa
tuổi như sau:
Từ 3 đến 10 tháng tuổi: 48%
Lúc có 2 răng : 50%
Lúc có 4 răng : 52%
Lúc có 6 răng : 54%
Lúc răng đủ : 55 – 60% hoặc cao hơn
Như vậy, không có một giống dê nào có tỷ lệ thịt xẻ cao hơn giống dê
Boer cải tiến này.
Dê có khối lượng sơ sinh 2,5 – 4,5kg, 3 tháng tuổi đạt 20 – 30kg, khối
lượng trưởng thành ở con cái đạt 60 – 90kg, con đực đạt 70 – 110kg. Với những
ưu điểm trên nên dê Boer đã được nhập nội vào nước ta nhằm nhân thuần, phát
triển sản xuất và dùng con đực lai cải tạo nâng cao năng suất thịt các giống dê
Châu Đại Dương. Ở đâu có người thì ở đó hiện nay hoặc trước đây đã có nuôi
dê, Nguyễn Thiện 2008. Theo Sharma (1993), dê ưa sống ở những vùng núi
cao, nhất là những vùng núi đá, khô ráo, sạch sẽ, thức ăn không dập nát. Khả
năng tiêu hoá chất xơ của dê tới 64% và chúng có thể ăn được nhiều loại thực
vật khác nhau, trong đó có nhiều loại thực vật là cây thuốc, cây nhiều chất
Tanin nên tạo cho dê khả năng chống bệnh tốt, ít mắc bệnh hơn những gia súc
khác, Nguyễn Đình Rao và cs (1979). Do có đặc điểm ưu việt hơn nhiều gia
súc khác nên con dê ngày càng được nhiều người quan tâm và đầu tư phát
triển, đặc biệt ở những nước đang phát triển.
2.4.2 Tình hình chăn nuôi dê trên thế giới
Số lượng dê trên thế giới tăng dần qua các năm gần đây. Theo số liệu
FAO năm 2009 toàn thế giới có khoảng 879,7 triệu con dê đến năm 2013 tăng
lên trên 1 tỷ con; trong đó dê được nuôi chủ yếu ở Châu Á với 59,39%, Châu
Phi chiếm trên 35% tổng đàn dê toàn cầu; Châu Mỹ chiếm 3,6%, Châu Âu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
1,6% và Châu Đại Dương chiếm chưa tới 1%. Số liệu cụ thể được trình bày
qua bảng 2.1:
Bảng 2.1: Số lượng dê trên thế giới và khu vực từ 2010 – 2013
(Đơn vị tính: con)
Khu vực
Năm
2010 2011 2012 2013
Thế giới
972.463.127
979.854.563
Châu Mỹ
38.810.465
37.934.150
35.919.607
36.013.781
Châu Đại Dương
3.920.891
3.913.880
3.969.656
3.972.060
(Nguồn FAO 2014
Qua số liệu bảng 2.1 cho thấy tốc độ tăng đàn dê trên thế giới chủ yếu
tăng đàn ở Châu Á và Châu Phi, các Châu lục còn lại không tăng, thậm chí
còn giảm số lượng. Cũng theo số liệu của FAO (2014) nước có nhiều dê nhất
là Trung Quốc (182,89 triệu con) sau đó đến Ấn Độ (162 triệu con), Việt Nam
có số lượng dê đứng thứ 72 trên thế giới (1,38 triệu con).
Theo Nguyễn Thiện (2008), chăn nuôi dê trên thế giới tập trung chủ
yếu ở các nước đang phát triển, nhưng chủ yếu ở khu vực nông hộ quy mô
nhỏ, ở những vùng khô cằn, nông dân nghèo. Ở những nước phát triển, chăn
nuôi dê có quy mô đàn lớn hơn và chăn nuôi theo phương thức thâm canh với
mục đích lấy sữa làm pho mát hoặc chuyên lấy thịt cho tiêu dùng trong nước
Châu Á 3.528
9.128
3.676
9.863
3.706
10.189
3.747
10.41
Châu Phi 1.200
3.342
1.241
4.139
1.266
4.341
1.273
13
59
Châu Đại
Dương
20
40
27
42
27
45
27
48
(Nguồn FAO 2014)
Cũng theo số liệu của FAO (2014), tổng sản lượng sữa các loại trong
năm 2012 của toàn thế giới đạt khoảng 753,92 triệu tấn trong đó sữa dê là
17,89 triệu tấn (chiếm 2,37%). Cũng như thịt dê, sữa dê chủ yếu do các nước
đang phát triển sản xuất. Các nước Châu Á cung cấp phần lớn lượng sữa này
(10,41triệu tấn, chiếm 58,18%), trong đó đứng đầu là Ấn Độ (4,85 triệu tấn)
Về số lượng các giống dê theo Acharya (1992) trên thế giới có 150
giống dê đã được miêu tả cụ thể, phần còn lại chưa được biết đến và phân bố
+ Nghiên cứu về tỷ lệ thịt xẻ của các giống dê, Ganan (1981) cho biết
giống dê Anglo-Nubian ở Philippin cho tỷ lệ là 51,4%, giết thịt lúc trọng lượng
là 22,2kg. Bhernagar và cộng sự (1971) xác định tỷ lệ thịt xẻ của dê Beetal-
India là 55,1%. Khan và Shani (1979) cho biết tỷ lệ thịt xẻ của dê Jumnapari
nuôi từng con giết thịt lúc 6 tháng là 54,2%, 9 tháng là 55,8% (khi trọng lượng
đạt 15,6 và 24kg). Bhatnagen et al cho biết dê Alpine Pháp tỷ lệ thịt xẻ dê đực
là 48,2%, dẫn theo Chu Đình Khu (1996).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
2.4.3 Tình hình chăn nuôi dê ở Việt Nam
Theo số liệu của Cục chăn nuôi năm 2013 cả nước có 1.334.328 con
dê, tập trung chủ yếu ở vùng núi và trung du phía bắc 594.243 con, chiếm
44,54% tổng đàn; khu vực Đồng bằng Sông Hồng 65.696 con, chiếm
4,92%; vùng bắc trung bộ và duyên hải miền trung 292.614 con, chiếm
21,93%; khu vực Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long 289.365
con, chiếm 22%; vùng Tây Nguyên 92.410 con, chiếm 6,93%; tổng lượng
thịt hơi xuất chuồng đạt 17.065 tấn. Giống dê chủ yếu ở nước ta là dê Cỏ
(470.000 con) và dê Bách Thảo (105.000 con). Ngoài ra còn có số lượng dê
lai và một số giống dê nhập từ Ấn Độ: giống dê Barbari: 250 con, giống dê
Jumnapari 210 con, giống dê Beetal 50 con được nuôi ở Hà Tây, Ninh
Thuận, dê Anglo-Nubian (10 con) nuôi ở Thủ Đức, thành phố Hồ Chí
Minh, dê Alpine, Saanen, Boer (250 con) nuôi ở Hà Tây, Đinh Văn Bình và
CS (2004).
Nghề chăn nuôi dê ở Việt Nam đã có từ lâu đời, nhưng chưa phát
huy hết tiềm năng sẵn có, dê chủ yếu vẫn được chăn thả quảng canh, thiếu
sự đầu tư và quan tâm thích đáng tới công tác giống, thức ăn cũng như vệ
sinh phòng, chữa bệnh. Giống dê Cỏ có biểu hiện thoái hoá giống rõ rệt do
giao phối cận huyết kéo dài. Để khắc phục tình trạng đó nên thay đổi đực
giống giữa các đàn dê, Phan Đình Thắm và cs (1997).
20000
30000
40000
50000
60000
70000
1994
1995
1996
19
9
7
19
9
8
1
9
9
9
2
0
00
2
0
01
2002
2003
2004
2005
2006
thiện đời sống nông dân nghèo bằng cách phát triển sản xuất sữa dê dựa trên
nguồn thức ăn sẵn có của địa phương”, Dự án” Phát triển chăn nuôi dê lai tại
tỉnh Bắc Thái cũ”, Dự án IFAD-TAG 443 “Nghiên cứu ứng dụng và phát triển
các biện pháp tổng hợp phòng trị ký sinh trùng ở các nước Đông Nam Á”,
Chương trình giống dê Quốc gia 2000-2010, Dự án SAREC: Nghiên cứu sử
dụng các nguồn thức ăn sẵn có trong tự nhiên để phát triển chăn nuôi Nhiều
cuộc Hội thảo về phát triển chăn nuôi dê đã được tổ chức nhằm đánh giá tình
hình chăn nuôi dê, tiềm năng phát triển chăn nuôi dê và tìm ra những giải pháp
thúc đẩy phát triển chăn nuôi dê ở nước ta. Nhiều công trình nghiên cứu về con
dê đã và đang được triển khai: Nghiên cứu về dê Bách Thảo, Đinh Văn Bình
(1994), sử dụng dê đực Bách Thảo lai với dê Cỏ tại Hà Tây, Đinh Văn Bình và
Cs (2003), nghiên cứu lai ba giống dê Ấn Độ nhập nội với dê Cỏ, Đinh Văn
Bình và Cs (1997). Chọn lọc và nhân thuần dê Bách Thảo, Nguyễn Thị Mai
(1999), Nghiên cứu đánh giá thích nghi 3 giống dê Ấn Độ nhập nội, Đinh Văn
Bình và Cs (1997), Khả năng sinh sản của một số giống dê nhập nội, Nguyễn
Bá Mùi, Đinh Văn Bình (2006)…
Với sự quan tâm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, sự nỗ
lực của nhiều cơ quan nghiên cứu, sản xuất và cố gắng của các hộ chăn nuôi
dê cùng với xu thế tiêu thụ thịt và sữa dê ngày một tăng, ngành chăn nuôi dê
ở Việt Nam đang có những bước tiến rõ rệt. Sản phẩm từ chăn nuôi dê đã
dóng góp một phần quan trọng nhằm giải quyết nhu cầu thịt, sữa cho con
người. Chăn nuôi dê đã và đang đem lại một nguồn thu đáng kể cho nhiều
hộ nông dân, đặc biệt là đồng bào vùng cao, vùng xa. Số lượng và giá dê
luôn tăng hàng năm, chăn nuôi dê hiện nay là một nghề mang lại nguồn thu
nhập cho người dân, nhiều hộ đã làm giàu từ chăn nuôi dê.