BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
ĐỖ THANH HIỀN
HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
LÀNG NGHỀ TÁI CHẾ KIM LOẠI XÃ ĐẠI BÁI,
HUYỆN GIA BÌNH, TỈNH BẮC NINH
CHUYÊN NGÀNH : KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
MÃ SỐ : 60.44.03.01 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THẾ BÌNH
HÀ NỘI - 2015
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Thế Bình, người
đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn. Với những lời chỉ dẫn, những tài
liệu, sự tận tình hướng dẫn và những lời động viên của Thầy đã giúp tôi vượt qua
nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện luận văn này.
Tôi cũng xin cảm ơn quý thầy cô giảng dạy chương trình cao học "Khoa
học Môi trường” đã truyền dạy những kiến thức quý báu, những kiến thức này rất
hữu ích và giúp tôi nhiều khi thực hiện nghiên cứu. Đặc biệt, tôi xin cám ơn về
những góp ý có ý nghĩa rất lớn khi tôi thực hiện đề cương nghiên cứu.
Xin cảm ơn lãnh đạo Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường tỉnh
Bắc Ninh và các bạn đồng nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình
tôi tham gia thực hiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội, ngày….tháng….năm 2015
Tác giả luận văn
Đỗ Thanh Hiền Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
MỤC LỤC
Page iv
2.2 Phạm vi nghiên cứu 29
2.3 Nội dung nghiên cứu 29
2.4 Phương pháp nghiên cứu 29
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu 29
2.4.2 Phương pháp khảo sát thực địa 30
2.4.3 Phương pháp phân tích 33
2.4.4 Phương pháp chuyên gia 34
2.4.5 Phương pháp so sánh đối chứng 35
2.4.6 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu 35
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực làng nghề tái chế kim
loại xã Đại Bái 36
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 36
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội xã Đại Bái 39
3.2 Thực trạng sản xuất của làng nghề tái chế kim loại xã Đại Bái 41
3.2.1 Lịch sử phát triển làng nghề tái chế kim loại xã Đại Bái 41
3.2.2 Thực trạng sản xuất của làng nghề tái chế kim loại xã Đại Bái 42
3.3 Hiện trạng môi trường làng nghề tái chế kim loại xã Đại Bái 48
3.3.1 Hiện trạng môi trường không khí 48
3.3.2 Hiện trạng môi trường nước 51
3.3.3 Hiện trạng chất thải rắn 58
3.3.4 Đánh giá chung về hiện trạng môi trường làng nghề tái chế kim loại
xã Đại Bái 59
3.3.5 Tác động do hoạt động sản xuất của làng nghề đến môi trường và
sức khoẻ cộng đồng 60
3.4 Hiện trạng công tác quản lý môi trường làng nghề tái chế kim loại
xã Đại Bái 61
3.4.1 Những công tác bảo vệ môi trường đã được thực hiện 61
6 COD : Nhu cầu oxy hóa học
7 DO : Oxy hòa tan
8 KLN : Kim loại nặng
9 KT - XH : Kinh tế - Xã hội
10 HĐND : Hội đồng nhân dân
11 HTX : Hợp tác xã
12 QCVN : Quy chuẩn Việt Nam
13 QCCP : Quy chuẩn cho phép
14 SS : Chất rắn lơ lửng
15 TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
16 TSS : Tổng chất rắn lơ lửng
17 TTCN : Tiểu thủ công nghiệp
18 UBND : Uỷ ban nhân dân
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC BẢNG STT
Tên bảng Trang
1.1 Đặc trưng ô nhiễm từ sản xuất của một số loại hình làng nghề 16
1.2 Đặc trưng nước thải tại một số làng nghề chế biến nông sản thực
phẩm điển hình 17
1.3 Ước tính tải lượng ô nhiễm thải ra từ một số làng nghề dệt nhuộm 18
sản xuất tại làng nghề tái chế kim loại xã Đại Bái 50
3.4 Kết quả phân tích chất lượng nước mặt tại khu vực làng nghề tái
chế kim loại xã Đại Bái 52
3.5 Kết quả phân tích chất lượng nước thải tại khu vực làng nghề tái
chế kim loại xã Đại Bái 55
3.6 Kết quả phân tích chất lượng nước ngầm tại khu vực làng nghề tái
chế kim loại xã Đại Bái 57
3.7 Phân tích SWOT tình hình quản lý môi trường làng nghề tái chế
kim loại xã Đại Bái 64 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ix
DANH MỤC HÌNH STT Tên hình Trang
1.1 Phân loại làng nghề Việt Nam theo loại hình sản xuất 7
3.1 Nhiệt độ trung bình các mùa qua các năm 37
3.2 Độ ẩm trung bình các mùa qua các năm 37
3.3 Số giờ nắng trung bình các mùa qua các năm 38
3.4 Quy trình sản xuất nồi đồng, nhôm tại Đại Bái 43
3.5 Sơ đồ dòng vật chất điển hình cho 1 hộ sản xuất 46
3.6 Quy trình tạo tranh đồng 47
3.7 Tác hại của rác thải tại làng nghề đối với sức khỏe cộng đồng 61
3.8 Sơ đồ tổng thể hệ thống thu gom chất thải rắn 68
3.9 Sơ đồ công nghệ xử lý khí thải lò tái chế kim loại của làng nghề 70
3.10 Sơ đồ công nghệ xử lý nước thải tập trung của làng nghề 72
nhiễm môi trường đất, nước, không khí và làm ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe
của nhân dân nơi đây.
Trước tình hình thực tế trên, nhằm cung cấp thông tin cụ thể về hiện trạng
môi trường làng nghề tái chế kim loại xã Đại Bái, huyện Gia Bình và đề xuất giải
pháp nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường phục vụ cho sự phát triển làng nghề, tôi
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Hiện trạng và giải pháp bảo vệ môi trường làng nghề tái chế kim loại
xã Đại Bái, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh”
Mục đích nghiên cứu
Đánh giá hiện trạng môi trường và đề xuất một số giải pháp nhằm bảo vệ môi
trường làng nghề tái chế kim loại xã Đại Bái, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.
Yêu cầu của đề tài
- Phản ánh trung thực điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của làng nghề tái
chế kim loại xã Đại Bái.
- Phản ánh trung thực, chính xác quá trình sản xuất của làng nghề, từ đó
đưa ra nguồn thải và chất thải đặc trưng của làng nghề.
- Phản ánh được hiện trạng môi trường (nước, không khí, chất thải rắn) tại
làng nghề tái chế kim loại xã Đại Bái.
- Đề xuất được các giải pháp có tính thực tiễn, gắn với hiện trạng môi
trường tại địa phương nghiên cứu.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
khăn buộc họ phải bươn chải, tìm đường cải thiện đời sống theo con đường tự
phát. Nhiều nghề đã được khôi phục tại làng nhằm đáp ứng nhu cầu rất thấp của
người dân.
- Giai đoạn 1986 – 1992: Đây là giai đoạn phát triển quan trọng của làng
nghề. Giai đoạn này được dánh dấu bằng bước ngoặt chuyển đổi từ cơ chế quản
lý bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của nhà nước. Các chính
sách kinh tế, đặc biệt là chính sách đổi mới quản lý trong nông nghiệp và chính
sách phát triển các thành phần kinh tế đã có tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến
sự phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói chung và làng nghề nói riêng.
Trong giai đoạn này nhiều làng nghề truyền thống được khôi phục và phát
triển, trong mỗi làng nghề quy mô sản xuất được mở rộng, đầu tư về vốn, kỹ
thuật được tăng cường. Đặc biệt đã hình thành mới nhiều cơ sở sản xuất kinh
doanh, sản lượng sản phẩm ngày càng lớn, giá trị kim ngạch xuất khẩu ngày càng
tăng, thu hút một số lượng lớn lao động chuyên và không chuyên nghiệp vào quá
trình sản xuất và dịch vụ sản xuất… Trong giai đoạn này một số nghề điển hình
có tốc độ khôi phục và phát triển khá nhanh như gốm sứ Bát Tràng (Hà Nội),
gốm Đồng Nai, Sông Bé, chạm khảm, điêu khắc ở Hà Tây, thêu ren ở Thái Bình,
Hà Tây…(Đặng Kim Chi và cs., 2005)
Các sản phẩm truyền thống của các làng nghề đã có được thị trường tiêu
thụ tương đối ổn định ở Đông Âu và Liên Xô (cũ). Chính sự ổn định này đã cho
phép các làng nghề duy trì được sự phát triển và thu được những nguồn thu đáng
kể từ các sản phẩm xuất khẩu. Năm 1986, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công
mỹ nghệ đạt giá trị cao nhất, trên 246 triệu rúp. Ở nhiều địa phương, việc phát
triển làng nghề đã thu hút và giải quyết được việc làm cho nhiều lao động, đồng
thời làm tăng nhanh sản phẩm phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu. Làng nghề
Đồng Xâm (Thái Bình) chỉ riêng hợp tác xã Việt Hồng năm 1987 giá trị tổng sản
ương, tính đến tháng 7 năm 2011, tổng số làng nghề và làng có nghề trên toàn
quốc là 3.355 làng, trong đó có 1.318 làng nghề đã được công nhận và 2.037 làng
có nghề chưa được công nhận (Trần Duy Khánh, 2012).
1.1.2. Phân loại và đặc trưng sản xuất của làng nghề
Dựa trên các tiêu chí khác nhau, có thể phân loại làng nghề theo một số
dạng như sau:
- Theo làng nghề truyền thống và làng nghề mới: Cách phân loại này cho
thấy đặc thù văn hóa, mức bảo tồn của các làng nghề, đặc trưng cho các vùng văn
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
hóa lãnh thổ.
- Theo ngành sản xuất, loại hình sản phẩm: Cách phân loại này nhằm xác
định phân bố về mặt địa lý, về nguồn và khả năng đáp ứng nguyên liệu cho hoạt
động sản xuất của làng nghề và cũng như phần nào thấy được xu thế và nhu cầu
tiêu thụ của xã hội.
- Theo quy mô sản xuất, quy trình công nghệ: Cách phân loại này nhằm
xác định trình độ công nghệ sản xuất và quản lý sản xuất tại các làng nghề, qua
đó có thể xem xét tới tiềm năng phát triển đổi mới công nghệ sản xuất đáp ứng
cho các nhu cầu như đa dạng hóa sản phẩm và giảm thiểu ô nhiễm môi trường
- Theo nguồn thải và mức độ ô nhiễm: Đây là cách phân loại phục vụ mục
tiêu đánh giá đặc thù, quy mô các nguồn thải từ hoạt động sản xuất của làng nghề.
- Theo mức độ sử dụng nguyên/nhiên liệu: Cách phân loại này nhằm xem
xét, đánh giá mức độ sử dụng tài nguyên tại các làng nghề, tiến tới có được các
giải pháp quản lý và kỹ thuật trong sản xuất nhằm giảm lượng tài nguyên sử
dụng cũng như hạn chế các tác động tới môi trường
- Theo thị trường tiêu thụ sản phẩm, tiềm năng tồn tại và phát triển: Với
đặc thù phát triển tự phát, sự phát triển của làng nghề phụ thuộc nhiều yếu tố khác
nhau nhưng quan trọng nhất là thị trường. Cách phân loại này xem xét tới các yếu tố
đều trên cả nước, phần nhiều sử dụng lao động lúc nông nhàn, không yêu cầu
trình độ cao, hình thức sản xuất thủ công và gần như ít thay đổi về quy trình sản
xuất so với thời điểm khi hình thành nghề. Phần lớn các làng nghề chế biến
lương thực, thực phẩm nước ta là các làng nghề thủ công truyền thống nổi tiếng
như nấu rượu, làm bánh đa nem, đậu phụ, miến dong, bún, bánh đậu xanh, bánh
gai… với nguyên liệu chính là gạo, ngô, khoai, sắn, đậu và thường gắn với hoạt
động chăn nuôi ở quy mô gia đình.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
- Làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ, thuộc da: nhiều làng đã có từ lâu đời, có
các sản phẩm mang tính lịch sử, văn hóa, mang đậm nét địa phương. Những sản
phẩm như lụa tơ tằm, thổ cẩm, dệt may… không chỉ là những sản phẩm có giá trị
mà còn là những tác phẩm nghệ thuật được đánh giá cao. Quy trình sản xuất
không thay đổi nhiều, với nhiều lao động có tay nghề cao. Tại các làng nghề
nhóm này, lao động nghề thường là lao động chính (chiếm tỷ lệ cao hơn lao động
nông nghiệp).
- Làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá: hình thành từ
hàng trăm năm nay, tập trung ở vùng có khả năng cung cấp nguyên liệu cơ bản
cho hoạt động xây dựng. Lao động gần như thủ công hoàn toàn, quy trình công
nghệ thô sơ, tỉ lệ cơ khí hóa thấp, ít thay đổi. Khi đời sống được nâng cao, nhu
cầu về xây dựng nhà cửa, công trình ngày càng tăng, hoạt động sản xuất vật liệu
xây dựng phát triển nhanh và tràn lan ở các vùng nông thôn. Nghề khai thác đá
cũng phát triển ở những làng gần các núi đá vôi được phép khai thác, cung cấp
nguyên liệu cho các hoạt động sản xuất sản phẩm thủ công mỹ nghệ và vật liệu
xây dựng.
- Làng nghề tái chế phế liệu: chủ yếu là các làng nghề mới hình thành, số
lượng ít nhưng lại phát triển nhanh về quy mô và loại hình tái chế (chất thải kim
loại, giấy, nhựa, vải đã qua sử dụng). Ngoài ra các làng nghề cơ khí chế tạo và
làng nghề không ngừng gia tăng. Mức thu nhập của người lao động sản xuất nghề
cao gấp 3 - 4 lần so với thu nhập của sản xuất thuần nông. Nghiên cứu của Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã thực hiện năm 2004 chỉ ra rằng, tỷ lệ hộ
nghèo trong số hộ sản xuất thủ công nghiệp là 3,7%, thấp hơn nhiều so với mức
trung bình cả nước là 10,4%. Như vậy có thể thấy, làng nghề đóng một vai trò
quan trọng trong xóa đói giảm nghèo, trực tiếp giải quyết công ăn việc làm cho
người lao động trong lúc nông nhàn, góp phần đáng kể trong việc nâng cao chất
lượng cuộc sống của người dân nông thôn (Chính phủ, 2011).
Bên cạnh đó, làng nghề còn có một ý nghĩa gián tiếp đặc biệt quan trọng
khác, đó là hạn chế việc di dân tự do từ khu vực nông thôn vào khu vực thành thị
trong thời kỳ nông nhàn, để tìm kiếm công ăn, việc làm và thu nhập.
Hoạt động sản xuất nghề nông thôn đã tạo ra việc làm cho hơn 11 triệu lao
động, thu hút khoảng 30% lực lượng lao động nông thôn, đặc biệt có những địa
phương đã thu hút được hơn 60% nhân lực lao động của cả làng. Mức thu nhập
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
từ sản xuất nghề cao hơn nhiều so với nguồn thu từ nông nghiệp, đặc biệt là đối
với vùng đất chật người đông như đồng bằng sông Hồng. Tại các làng nghề quy
mô lớn, trung bình mỗi cơ sở, doanh nghiệp tư nhân tạo việc làm ổn định cho
khoảng 30 lao động thường xuyên và 8-10 lao động thời vụ; các hộ cá thể tạo
việc làm cho 4-6 lao động thường xuyên và 2-5 lao động thời vụ. Tại các làng
nghề dệt, thêu ren, mây tre đan mỗi cơ sở vào thời kỳ cao điểm, có thể thu hút
200-250 lao động (Chính phủ, 2011).
Đặc biệt đối với các làng nghề mà nhất là các làng nghề truyền thống,
hoạt động sản xuất còn có một ý nghĩa xã hội tích cực khác là sử dụng được
lao động là người cao tuổi, người khuyết tật, những người rất khó kiếm việc
làm từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp và công nghiệp tập trung cũng như
các ngành kinh doanh, dịch vụ khác. Sự phát triển của làng nghề đã và đang
của đời sống tự cung, tự cấp của đồng bào vùng cao, mặc khác, giữ gìn được
những kiến thức, kinh nghiệm bản địa vào duy trì việc tạo ra những sản phẩm có
giá trị văn hóa, tinh thần đáng tự hào cho dân tộc như hàng thổ cẩm của người
Dao, Tày, Thái, H’Mông; đồ trang sức, mỹ nghệ của các đồng bào dân tộc miền
núi phía Bắc
Tại nhiều địa phương, việc giải quyết việc làm cho rất nhiều lao động đã
tạo điều kiện giảm các tệ nạn xã hội như cờ bạc, nghiện hút,… góp phần đảm bảo
an sinh, xã hội cho khu vực nông thôn. Đồng thời với sự quy tụ các tay nghề sản
xuất giỏi, có cơ hội trao đổi, học hỏi kinh nghiệm, nâng cao trình độ; quy tụ các
nguyên liệu sản xuất phong phú là một trong những yếu tố tạo sự đa dạng hóa
của nền văn hóa và sản xuất tại nông thôn (Chính phủ, 2011).
1.2.3. Vai trò của làng nghề trong phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật nông thôn
Điều kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật là một yếu tố cực kỳ quan trọng hỗ trợ
phát triển các làng nghề. Khả năng tiếp cận thông tin, điện, nước sạch, giao thông
và các yếu tố khác về cơ sở vật chất là rất cần thiết đối với sự tăng trưởng và phát
triển của các làng nghề. Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật tốt sẽ góp phần thực
hiện mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống người dân, tạo việc làm, xóa nghèo
ở nông thôn thông qua việc phát triển các ngành nghề tại các làng nghề. Ngược
lại, sự phát triển kinh tế của các làng nghề cũng góp phần đổi mới bộ mặt nông
thôn, cải thiện và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật tại đây.
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở những nơi tập trung nhiều làng nghề như khu vực
Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ và Đông Nam Bộ nhìn chung phát triển
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
khá tốt do các làng nghề phần lớn được hình thành, phát triển ở những nơi tiếp
cận thuận lợi mạng lưới đường quốc lộ, tỉnh lộ, cùng sự hỗ trợ của các chính sách
từ chính quyền tỉnh/thành phố nhằm đẩy mạnh phát triển làng nghề.
Tại khu vực miền núi, cũng có một số làng nghề phát triển, tuy nhiên điều
- Quy mô sản xuất nhỏ, phần lớn ở quy mô gia đình (chiếm 80% tổng số
cơ sở sản xuất). Sản xuất tự phát, khó khăn về vốn, đầu ra sản phẩm phụ thuộc
nhiều vào nhu cầu của thị trường:
Quy mô sản xuất nhỏ, khó phát triển vì chật hẹp xen kẽ với khu vực sinh
hoạt. Sản xuất càng phát triển thì nguy cơ lấn chiếm khu vực sinh hoạt, phát thải
ô nhiễm tới khu dân cư càng lớn dẫn đến chất lượng môi trường giảm mạnh
(Đặng Kim Chi và cs.,2011).
- Quan hệ sản xuất mang đặc thù của quan hệ gia đình, làng xã:
Làng nghề là khu vực sử dụng lao động có tính gia đình và lao động mọi
lứa tuổi từ trẻ em đến người già, phụ nữ tham gia. Tại một số làng nghề phụ nữ
lao động chiếm tỷ lệ cao, kể cả tham gia quản lý lao động và kinh tế.
Nhiều làng nghề đặc biệt là các làng nghề truyền thống còn sản xuất theo
kiểu “bí truyền”, giữ bí mật cho dòng họ, tuân theo hương ước không chịu cải
tiến áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật nên cản trở việc áp dụng giải pháp
kỹ thuật mới, cũng như khuyến khích sáng kiến của người lao động mang hiệu
quả kinh tế cùng với hiệu quả bảo vệ môi trường như làng nghề đúc đồng, thủ
công mỹ nghệ, gốm sứ… (Đặng Kim Chi và cs.,2011)
- Công nghệ sản xuất và thiết bị kỹ thuật phần lớn ở trình độ lạc hậu chắp
vá, kiến thức tay nghề không toàn diện:
Điều này dẫn tới tiêu hao nhiều nguyên, nhiên liệu, làm tăng phát thải
nhiều chất ô nhiễm môi trường nước, đất, khí ảnh hưởng tới giá trị sản phẩm
(kinh tế) và chất lượng môi trường (sinh thái). Quy trình sản xuất thủ công chiếm
70,69% đối với ngành thủ công mỹ nghệ, 61,5% đối với ngành chế biến nông sản
thực phẩm, trung bình chiếm 60% đối với ngành khác (Đặng Kim Chi và cs., 2011).
Tuy nhiên, do tính cạnh tranh thị trường có thể thúc đẩy dân làng nghề
phải đầu tư đối mới công nghệ, kỹ thuật sản xuất nhưng không phải là đầu tư kỹ
thuật môi trường. Vì vậy hầu như các cơ sở đều không có các hệ thống xử lý chất
thải trước khi ra môi trường.
trường, các chính sách hỗ trợ cho công tác cải thiện môi trường… Quản lý nhà
nước về hoạt động làng nghề tại một số địa phương còn chồng chéo nhau giữa
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15
các Sở Công nghiệp, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Khoa học và
Công nghệ (Đặng Kim Chi và cs., 2011)
- Chưa có được các giải pháp đồng bộ của các cấp ngành từ trung ương
tới địa phương về quy hoạch, quản lý, giáo dục tới giải pháp kỹ thuật nhằm cải
thiện từng bước môi trường làng nghề, một số tỉnh và địa phương đã quan tâm
tới quy hoạch khu công nghiệp làng nghề, nhưng còn rải rác, một số đề tài thuộc
các Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công nghiệp, Khoa học và Công
nghệ, Tổng cục Môi trường đã xây dựng mô hình cải thiện môi trường nhưng
chưa phát huy được tác dụng rộng rãi đối bởi các làng nghề tương tự.
Tất cả những áp lực trên đã ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường làng nghề
và làm suy giảm chất lượng sống tại nông thôn.
1.3.2. Hiện trạng ô nhiễm môi trường làng nghề
1.3.2.1. Đặc điểm của ô nhiễm môi trường làng nghề:
Các chất thải phát sinh tại nhiều làng nghề đã và đang gây ô nhiễm và làm
suy thoái môi trường nghiêm trọng, tác động trực tiếp tới sức khỏe người dân và
ngày càng trở thành vấn đề bức xúc. Ô nhiễm môi trường làng nghề có một số
đặc điểm sau:
- Ô nhiễm môi trường tại làng nghề là dạng ô nhiễm phân tán trong phạm
vi một khu vực (thôn, làng, xã…). Do quy mô sản xuất nhỏ, phân tán, đan xen
với khu sinh hoạt nên đây là loại hình ô nhiễm khó quy hoạch và kiểm soát.
- Ô nhiễm môi trường tại làng nghề mang đậm nét đặc thù của hoạt động
sản xuất theo ngành nghề và loại hình sản phẩm (bảng 1.1) và tác động trực tiếp
tới môi trường nước, khí, đất trong khu vực.
- Ô nhiễm môi trường tại các làng nghề thường khá cao tại khu vực sản