TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN TRẦN VĂN CHÍ LINH ĐÁNH GIÁ SỰ TĂNG TRƢỞNG VÀ TỶ LỆ
SỐNG CỦA ẤU TRÙNG TÔM CÀNG XANH
(Macrobrachium rosenbergii) DÒNG TÔM ĐỒNG
NAI THẾ HỆ F3 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN CÁN BỘ HƢỚNG DẪN
PGS.TS. TRẦN NGỌC HẢI
ThS. TRẦN MINH NHỨT
càng xanh ở Đồng bằng sông Cửu Long. Thí nghiệm gồm 3 nhóm tôm mẹ: nhóm
tôm mẹ lớn: ương ấu trùng tôm càng xanh từ tôm bố mẹ lớn của dòng tôm Đồng
Nai F2 (gồm 21 cặp tôm bố mẹ lớn và tôm mẹ có khối lượng ≥ 23,5g). Nhóm tôm
mẹ toàn đàn: ương ấu trùng tôm càng xanh từ tôm bố mẹ bình thường của dòng
tôm Đồng Nai F2 (gồm 68 cặp tôm bố mẹ). Nhóm tôm mẹ nhỏ: ương ấu trùng
tôm càng xanh từ tôm bố mẹ nhỏ của dòng tôm Đồng Nai F2 (gồm 47 cặp tôm bố
mẹ nhỏ và tôm mẹ có khối lượng < 23,5 g).
Kết quả thí nghiệm: khối lượng tôm post 15 chọn lọc ở nhóm tôm mẹ lớn
(0,020±0,0027 g) lớn hơn nhóm tôm mẹ toàn đàn (0,019±0,003 g) và nhóm tôm
mẹ nhỏ (0,018±0,0023 g), khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Kích thước
tôm post 15 chọn lọc ở nhóm tôm mẹ lớn (11,77±0,81 mm) cao hơn nhóm tôm
mẹ toàn đàn (11,64±0,96 mm) và vượt trội hơn so với nhóm tôm mẹ nhỏ
(11,56±0,97 mm), các khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0.05). Tỷ lệ sống trung
bình ở cả 3 nhóm tôm mẹ đạt trên 45% và năng suất đạt được trên 27,5 con/lít và
khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Đánh giá chất lượng ấu trùng tôm
càng xanh: Sốc formol và sốc ammonium của cả 3 nhóm tôm mẹ trên 96% và
khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
Cần nghiên cứu tiếp sự ảnh hưởng của kích thước tôm bố mẹ lên ấu trùng tôm
càng xanh, để tạo ra nguồn tôm bố mẹ có chất lượng cao để phục vụ cho sản xuất
giống và nghề nuôi tôm càng xanh ở nước ta.
- iii -
LỜI CAM ĐOAN
Luận văn báo cáo được chỉnh sửa theo yêu cầu của hội đồng Kỹ Thuật
Nuôi Hải Sản – Khoa Thủy Sản – trường Đại Học Cần Thơ. Ngày 13 tháng 12
năm 2013
Xác nhận của CBHD: Sinh viên thực hiện: PGs.Ts. Trần Ngọc Hải Trần Văn Chí Linh
- iv -
- v -
2.2.2. Hiện trạng nuôi tôm càng xanh……………………….……… ……… 9
2.2.3. Một số khó khăn của nghề sản xuất giống và nuôi tôm càng xanh 10
2.3. Nghiên cứu kỹ thuật sản xuất giống và ảnh hưởng của các nguồn tôm mẹ lên
chất lượng ấu trùng tôm càng xanh…………… …………… ………….11
2.3.1. Nuôi vỗ tôm bố mẹ………………………………………… …… ….11
2.3.2. Ương ấu trùng… … ………….12
2.3.3. Tình hình nghiên cứu ảnh hưởng của các nguồn tôm bố mẹ khác nhau lên
chất lượng ấu trùng tôm càng xanh…………………… ………… ….….12
Phần 3: PHƢƠNG PHÁP VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU… ………….14
3.1. Vật liệu…………………………………………………… ……………14
3.1.1. Nguồn tôm bố mẹ……………………………………… ……….……14
3.1.2. Vật tư và dụng cụ……………………………………… …………….14
3.2. Phương pháp nghiên cứu ……………………………………………15
3.2.1. Ương ấu trùng tôm càng xanh…………………………… …… ……15
3.2.2 Đánh gía chất lượng ấu trùng tôm càng xanh……………… …………18
3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu………………………………… …….……18
PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN………………………… ….……19
4.1. Đánh giá các chỉ tiêu môi trường ương…………………… ……….… 19
4.2. Sự phát triển của ấu trùng……………………………… ………………22
4.2.1 Chỉ số biến thái………………………………………… … ……… 22
4.2.2 Kích thước ấu trùng…………………………………… ……… …….23
4.2.3 Tỷ lệ sống, năng suất và khối lượng tôm post………… ………… ….25
4.3 Đánh giá chất lượng ấu trùng tôm càng xanh 27
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT……………………… ……….… ….28
5.1 Kết Luận………………………………………… ………….…….… …28
5.1 Đề Xuất………………………………………………… ….….….…… 28
Hình 4.1 Biến động của hàm lượng NO2- và TAN trong môi trường ương tôm
càng xanh… 20
Hình 4.2 Kích thước các giai đoạn phát triển ấu trùng tôm càng xanh… …… 24
Hình 4.3 Tỉ lệ sống ấu trùng theo các nhóm tôm mẹ………………… …… ….26
1
Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Giới thiệu
Tôm càng xanh (Macrobrachium Rosenbergii) là một trong những đối tượng
thủy sản nước ngọt có giá trị kinh tế cao ở Việt Nam và nhiều nước trên thế
giới. Tôm càng xanh có kích thước lớn nhất trong 100 loài thuộc giống
Macrobrachium (Nguyễn Việt Thắng, 1993) với chất lượng thịt ngon và là một
trong những mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao. Trước đây, tôm càng
xanh chủ yếu được khai thác từ môi trường tự nhiên với sản lượng lớn khoảng
6000 tấn/năm và hiện nay thì sản lượng khai thác đã giảm xuống chỉ còn từ
khoảng 3000 – 4000 tấn/năm (Phạm Văn Tình, 2001). Theo thống kê năm
2011 của Bộ Thủy sản thì cả nước đạt khoảng 10.000 tấn tôm càng xanh, mà
chủ yếu là của đồng bằng sông Cửu Long. Nghề nuôi tôm càng xanh phổ biến
ở các tỉnh An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp, Bến Tre, Vĩnh Long và Trà Vinh
với các mô hình như nuôi tôm trong mương vườn, nuôi tôm trên ruộng lúa,
nuôi tôm trong đăng quầng. Năng suất tôm nuôi đạt bình quân 184 kg/ha/vụ
đối với nuôi tôm kết hợp với trồng lúa, 686 kg/ha/vụ đối với nuôi tôm luân
canh, 4.120 kg/ha/vụ đối với tôm đăng quầng, 1.200 kg/ha/vụ đối với tôm nuôi
ao (Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2003).
Năng suất và chất lượng tôm thịt thu được là một trong những vấn đề đáng
quan tâm của người nuôi tôm. Tuy nhiên, nghề nuôi tôm càng xanh hiện nay
vẫn còn nhiều khó khăn nhất lầ về giống, không chỉ thiếu hụt về số lượng mà
chất lượng giống cũng chưa được đảm bảo, nguồn tôm giống chưa qua chon
giống dẫn đến năng suất nuôi thấp và chất lượng tôm thịt ngày càng kém, ảnh
2.1. Đặc điểm sinh học tôm càng xanh
2.1.1. Phân loại và phân bố tôm càng xanh
2.1.1.1. Phân Loại
Ngành tiết túc: Arthropoda
Lớp giáp xác: Crustacea
Bộ mười chân: Decapoda
Phân bộ: Caridea
Họ: Palaemonidae
Giống: Macrobrachium
Loài - Macrobrachium rosenbergii
de Man 1879 (Tên tiếng Anh: Giant prawn)
Tôm càng xanh là loài có kích cỡ lớn nhất trong nhóm tôm nước ngọt. Có thể
phân biệt tôm càng xanh với nhóm tôm khác dựa vào hình dạng và màu sắc
bên ngoài. Tôm càng xanh có cơ thể thon dài, đối xứng hai bên. Cơ thể gồm 2
phần là đầu ngực phía trước và phần bụng phía sau.
Phần đầu ngực lớn, có dạng hơi giống hình trụ, gồm phần đầu với 5 đốt gần
nhau, mang 5 đôi phụ bộ và phần ngực với 8 đốt liền nhau mang 8 đôi phụ bộ.
Phần đầu ngực được bao dưới tấm vỏ dày gọi là giáp đầu ngực (Nguyễn
Thanh Phương và ctv, 2003)
Phần bụng gồm có 6 đốt có thể cử động và một đốt đuôi. Mỗi đốt mang một
đôi phụ bộ gọi là chân bơi. Mỗi đốt bụng có tấm vỏ bao. Tấm vỏ phía trước
xếp chồng lên tấm vỏ phía sau. Tuy nhiên tấm vỏ của đốt bụng thứ hai phủ lên
cả hai tấm vỏ trước và sau nó. Các đốt bụng hơi tròn trên mặt lưng và dẹp hai
bên. Cơ thể có dạng hơi cong như hình dấu phẩy, to ở phần đầu và thon nhỏ về
phái sau.
Ở tôm nhỏ có màu trong sáng. Trên giáp đầu ngực có những sọc xanh đen dọc
hai bên. Tôm trưởng thành có những vệt màu xanh sậm ngang lưng xen kẽ với
màu trắng trong của cơ thể. Tôm có chủy dài vượt vảy râu, uống cong lên từ
đoạn giữa chủy, gốc chủy ở nơi hốc mắt nhô cao lên thành mào. Chủy có 11-
16 răng trên chủy (2-3 răng sau hốc mắt) và 10-15 răng dưới chủy.
trùng và tôm trưởng thành. Tôm càng xanh trưởng thành sống chủ yếu ở nước
ngọt. Khi thành thục, tôm bắt cặp, đẻ trứng và trứng dính vào các chân bụng
của tôm mẹ. Tôm trứng di cư ra vùng cửa sông nước lợ (6-18 %o) để nở. Ấu
trùng nở ra sống phù du, ăn động vật phù du và trải qua 11 lần biến thái để trở
thành hậu ấu trùng. Lúc này tôm có xu hướng tiến vào vùng nước ngọt như
sông, rạch, ruộng, ao hồ , ở đó, chúng sinh sống và lớn lên. Tôm có thể di cư
rất xa, trong phạm vi hơn 200 km từ bờ biển vào nội địa (Sandifer và Smith,
5
1985). Khi trưởng thành chúng lại di cư ra vùng nước lợ nơi độ mặn thích hợp
để sinh sản và vòng đời lại tiếp tục.
2.1.2.2. Đặc điểm dinh dƣỡng
Tôm càng xanh là loài ăn tạp thiên về động vật, hàm lượng đạm tối ưu trong
thức ăn cho tôm từ 27-35%. Nhu cầu đạm thay đổi rất lớn theo giai đoạn phát
triển. Ngoài ra nhu cầu chất béo dao động trong khoảng từ 6,0-7,5%, chất bột
đường được tôm càng xanh tiêu hóa rất tốt (40% trong thức ăn vẫn cho kết quả
tăng trưởng tốt), hàm lượng cholesterol 0,5–1% rất cần thiết cho tôm con, cần
thường xuyên bổ xung chất khoáng và vitamine cho tôm (Nguyễn Thanh
Phương và ctv, 2003).
Tôm càng xanh có hàm răng nghiền khỏe, ruột có cấu tạo ngắn nên khả năng
tiêu hóa nhanh. Chúng ăn hầu hết các loài động vật nhỏ, các mảnh vụn hữu cơ,
thích bắt mồi vào ban đêm hơn ban ngày râu là cơ quan xúc giác giúp tôm tìm
thức ăn, đôi chân ngực thứ nhất như một cái kẹp giúp tôm giữ và đưa thức ăn
vào miệng (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 2002).
2.1.3. Đặc điểm sinh sản
2.1.3.1. Phân biệt đực cái
Theo Nguyễn Thanh Phương và ctv (2003), ta có thể phân biệt giới tính tôm
càng xanh thông qua hình thái bên của chúng. Tôm càng xanh đực lớn hơn
tôm càng xanh cái, đầu ngực to hơn và khoang bụng hẹp hơn tôm càng xanh
cái, đôi càng thứ hai to dài và hơi thô hơn tôm càng xanh cái. Ở tôm càng xanh
Theo Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải (2004), trong quá trình thành
thục, buồng trứng trải qua 4 giai đoạn bao gồm: Giai đoạn chưa thành thục
(có buồng trứng trong suốt, đường kính trứng 0.04-0.13mm); giai đoạn bắt đầu
thành thục (buồng trừng vàng nhạt, trứng đạt 0.19-0.45mm); giai đoạn thành
thục (buồng trứng vàng cam, trứng đạt 0.32-0.55mm); và giai đoạn chín muồi
(buồng trứng vàng sậm, trứng 0.45-0.77mm). Quá trình phát triển buồng trứng
kéo dài trong trong vòng 14-20 ngày.
Khi buồng trứng đạt giai chín muồi, tôm cái lột xác tiền giao vĩ. Sau khi tôm
cái lột xác vài giờ, tôm bắt đầu giao vĩ. Tôm đực lúc này vẫn ở trạng thái vỏ
cứng. Sau đó, con đực chuyển túi tinh vào túi chứa tinh của tôm cái. Quá trình
giao vĩ xảy ra vào ban đêm trong vòng 20-30 phút. Sau khi giao vĩ 2-5 giờ,
tôm cái bắt đầu đẻ trứng. Trong quá trình đẻ trứng, trứng được thụ tinh khi đi
ngang túi chứa tinh. Trứng sẽ lần lượt dính từng chùm vào các lông tơ của các
đôi chân bụng. Thời gian đẻ trứng khoảng kéo dài trong khoảng 1 giờ. Tôm
cái dùng các chân ngực cuối để hướng trứng xuống phần bụng và dính vào 4
đôi chân bụng đầu tiên.
Theo Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải (2004), sức sinh sản của tôm
thông thường khoảng 20.000-80.000 trứng tùy vào kích cỡ, điều kiện nuôi và
số lần sinh sản của tôm. Trung bình, sức sinh sản tương đối (thực tế) của tôm
khoảng 500-1.000 trứng/g trọng lượng tôm. Tôm cái có thể tái phát dục và đẻ
lại sau 16-45 ngày. Tùy trường hợp, chúng có thể tái phát dục và đẻ lại 5-6 lần
trong năm.
Trong quá trình ấp trứng tôm cái dùng các chân bụng quạt nước để tạo dòng
chảy làm thông khí cho trứng và các chân ngực để loại bỏ những trứng bị hư
7
hay vật lạ dính vào khối trứng. Tuỳ vào thời gian và nhiệt độ mà trứng có thể
nở sau 15 - 23 ngày ấp.
2.1.3.3. Quá trình phát triển phôi, ấu trùng và hậu ấu trùng của tôm
Trứng mới đẻ ra có hình elip, có kích cỡ khoảng 0,6-0,7 mm. Trong quá trình
Trong quá trình lớn lên, tôm trải qua nhiều lần lột xác. Tôm nhỏ có chu kỳ lột
xác ngắn hơn tôm lớn. Chu kỳ lột xác của tôm tùy thuộc vào nhiều yếu tố như:
8
kích cỡ tôm, nhiệt độ, thức ăn, giới tính và điều kiện sinh lý của tôm (Nguyễn
Thanh Phương và ctv, 2003).
Quá trình lột xác của tôm càng xanh được chia thành 4 giai đoạn gồm:
- Giai đoạn tiền lột xác
- Giai đoạn lột xác
- Giai đoạn hậu lột xác
- Giai đoạn giữa chu kỳ lột xác
Sự tăng trưởng về chiều dài và khối lượng của tôm cũng như các loài giáp xác
khác không tăng liên tục mà theo hình bậc thang. Tôm nhỏ tốc độ tăng trưởng
nhanh hơn tôm lớn, tôm đực lớn nhanh hơn tôm cái đặc biệt giai đoạn sau.
Tôm được bổ sung thức ăn động vật sẽ lớn nhanh và chậm thành thục hơn so
với tôm cho thức ăn công nghiệp hoàn toàn (Nguyễn Thanh Phương và ctv,
2003).
Theo Nguyễn Thanh Phương và ctv (2010), môi trường thuận lợi cho tôm phát
triển:
- Nhiệt độ: Thích hợp trong khoảng 26-31
º
C, tốt nhất là 28-30
º
C
- Độ mặn: Thích hợp 0-16‰ , tốt nhất trong khoảng 2-5‰
- Oxy: nên được duy trì trên 5 ppm
- pH: Thích hợp cho sinh trưởng 7,0-8,5
- Độ cứng: Tốt nhất cho ương nuôi tôm 50-150 ppm
- NH
3