BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
“ỨNG DỤNG MÃ NGUỒN MỞ TRONG VIỆC XÂY
DỰNG VÀ QUẢN TRỊ WEBSITE”
Giáo viên hướng dẫn : ThS. HOÀNG THẾ ANH.
Sinh viên thực hiện : NGUYỄN QUANG CHƯƠNG
Lớp : TIN1102
Khóa : 11
Hà Nội, tháng 4 năm 2010
2
LỜI MỞ ĐẦU
Trong mấy năn gần đây sự phát triển mạnh mẽ của nghành CNTT đã làm thay đổi
cục diện thế giới. Dường như mọi hoạt động luôn gắn liền với CNTT. Ngày
11/01/2006 Việt Nam chính thức là thành viên của WTO, từ khi gia nhập WTO thì
Việt Nam cũng có rất nhiều thuận lợi và khó khăn. Trước tình hình đó thì việc phổ
cập tin học, đào tạo CNTT, vận dụng CNTT vào các lĩnh vực khác nhất là trong Kinh
tế là rất cần thiết. Nhưng khó khăn gặp phải ở đây là chính là chi phí mua và sử dụng
các sản phẩm phần mềm thương mại (Phần mềm có bản quyền) khá đắt cộng thêm
tình hình vi phạm bản quyền phần mềm ở nước ta chiếm tỷ lệ cao. Vậy, để có và sử
dụng những phần mềm giá rẻ thậm chí là miễn phí mà không vi phạm bản quyền, dễ
sử dụng và tính bảo mật cao thì giải pháp tối ưu là sử dụng những phần mềm mã
nguồn mở. Trong nền kinh tế mở như hiện nay, một doanh nghiệp muốn thu hút
khách hàng và tạo ra được nhiều lợi nhuận thì ngoài các yếu tố cần thiết khác cần
phải có thì việc quảng bá thương hiệu, giới thiệu và quảng cáo sản phẩm, dịch vụ và
giao dịch thuận lợi và nhanh chóng của doanh nghiệp với khách hàng và các đối tác
cũng rất quan trọng. Giải pháp tối ưu cho những vấn đề nêu trên đó là xây dựng một
Website cho doanh nghiệp, đây là cách mà các doanh nghiệp sử dụng nhiều nhất
trong thời đại CNTT phát triển mạnh như hiện nay nhất là sự phát triển của Internet.
tiên quyết cho quyền tự do này.)
• Quyền tự do thêm mới các chức năng cho một chương trình và công bố những
tính năng mới đó đến công chúng để toàn cộng đồng được hưởng lợi.
Chương trình sáng kiến nguồn mở OSI(Open Source Initiative)
Là tổ chức quốc tế quản lý và xúc tiến định nghĩa mã nguồn mở, đồng thời phê
chuẩn giấy phép phần mềm nguồn mở thông qua chương trình và chứng chỉ OSI.
OSI duy trì một danh sách các giấy phép phần mềm nguồn mở, những giấy phép tuân
theo định nghĩa mã nguồn mở. nếu sản phẩm được công bố, phân phối có kèm theo
4
các giấy phép trong danh sách giấy phép của OSI. Chú trọng giá trị kỹ thuật của việc
tạo ra những phần mềm mạnh, có độ tin cậy cao và phù hợp với giới kinh doanh, đặc
biệt là lợi ích thực tiễn của phương pháp xây dựng và quảng bá PMNM.
2. Giấy phép nguồn mở GNU(General Public License – GPL).
Giấy phép Công cộng GNU (GNU General
Public License, viết tắt GNU/GPL hay chỉ GPL) là
giấy phép phần mềm tự do phổ biến nhất, mới
đầu do Richard Stallman viết cho dự án GNU.
Phiên bản hiện hành của giấy phép này là phiên
bản 3 năm 1997, phiên bản được sử dụng nhiều
nhất hiện nay là phiên bản 2 năm 1991.
3. Lịch sử ra đời và phát triển của mã nguồn mở.
Năm 1984, Richard Stallman, nhân viên phòng thí nghiệm trí tuệ nhân tạo của
Học viện MIT (Massachusett Institute of Technology) – Mỹ, bắt đầu cuộc vận động
cho phần mềm miễn phí. Ông đã xây dựng dự án GNU và cho ra giấy phép Mã nguồn
mở GPL, hai nền tảng then chốt cho sự phát triển của Mã nguồn mở.
PMNM thực sự trở thành một khuynh hướng rõ rệt trong khoảng những năm
1991, sau khi một sinh viên Phần Lan 25 tuổi, Linus Torvalds đã phát triển và công
bố thành phần cốt yếu của hệ điều hành Linux. Và đến năm1997 GNU/Linux chiếm
25% thị trường máy chủ.
Năm 1998, The Open Source Initiative (OSI) – một tổ chức xúc tiến phần mềm
được phát hiện. Các lỗi hay lỗ hổng bảo mật sẽ được sửa nên các PMNM sẽ cần ít
miếng vá (patch) và các cuộc tấn công nguy hiểm sẽ ít hơn.
Với khả năng định dạng không hạn chế nên các công ty, tổ chức hay cá nhân có thể
tùy biến cho phù hợp với nhu cầu và mục đích của mình. Điều này cho phép mã nguồn mở
liên tục được phát triển dẫn đến ổn định và tin cậy hơn, do đó hiệu năng của PMNM sẽ
cao hơn. Ngoài ra dùng PMNM sẽ giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu CNTT, không lệ
thuộc vào nhà sản xuất và tình trạng vi phạm bản quyền phần mềm.
Phát triển một hệ thống open source hoàn toàn không dễ dàng bởi nó cần được
thiết kế, tổ chức đúng đắn và chuyên nghiệp ngay từ đầu. Nếu không, sẽ không thể
6
tiếp nhận hay đủ "mở" để được cộng đồng PMNM hỗ trợ và tiếp nhận. Chính vì lý do
này mà hầu hết các PMNM đều được phát triển bởi các lập trình viên chuyên nghiệp,
giàu kinh nghiệm, giữ vị trí quan trọng tại các công ty IT hay các phòng IT lớn.
Những yếu tố này cho thấy chất lượng của các open source hòan toàn không thua
kém các phần mềm sản xuất và bán bởi các hãng phần mềm nổi tiếng.
4.2. Hạn chế của mã nguồn mở
Phần mềm open source chưa đạt chuẩn về mặt hỗ trợ khách hàng tốt do thường
không có một công ty, một đại diện nào đứng ra quản lý khách hàng. Tất cả các yêu
cầu hầu như không thể hỗ trợ bằng điện thọai mà phải dùng forum, mail hay
newsgroup,...
Các PMNM thường không quan tâm đến việc quản cáo, giới thiệu sản phẩm. Chúng
thường được biết tới nhiều bởi cộng đồng những nhà phát triển phần mềm, những
người chuyên về IT nhiều hơn là các doanh nghiệp. Với nhóm phát triển open source,
khái niệm về "bán" được thay bằng "nhận tài trợ". Vì vậy, PMNM không mong đợi
tài chính từ các cá nhân người dùng mà dựa vào tài trợ chủ yếu từ những tổ chức lớn.
PMNM mang tính chất "mở" trong các tính năng của phần mềm. Điều này có
nghĩa là đôi khi phần mềm trở nên khó sử dụng bởi sự phức tạp quá hay đơn giản quá
của một tính năng mà nó cung cấp. Bản chất của việc đưa ra một tính năng như vậy là
bởi nhóm phát triển muốn cộng đồng PMNM có nhiều khả năng để thay đổi và biến
hóa nó nên cần tuân theo những chuẩn nhất định để giao tiếp hay tích hợp với các
hiện nay Linux đã có được sự hỗ trợ bởi các công ty lớn như IBM và Hewlett-
Packard, đồng thời nó cũng bắt kịp được các phiên bản Unix độc quyền và thậm chí
là một thách thức đối với sự thống trị của Microsoft Windows trong một số lĩnh vực.
Sở dĩ Linux đạt được những thành công một cách nhanh chóng là nhờ vào các đặc
tính nổi bật so với các hệ thống khác, chi phí phần cứng thấp, tốc độ cao (khi so sánh
với các phiên bản Unix độc quyền) và khả năng bảo mật tốt, độ tin cậy cao (khi so
sánh với Windows) cũng như là các đặc điểm về giá thành rẻ, không bị phụ thuộc vào
8
nhà cung cấp. Một đặc tính nổi trội của nó là được phát triển bởi một mô hình phát
triển phần mềm nguồn mở hiệu quả.
Các bản phân phối Linux
Linux hiện nay có nhiều bản phân phối khác nhau, một phần là bởi vì tính chất
nguồn mở của nó. Sau đây là một số bản phân phối chủ yếu:
Tên bản phân
phối
Phiên bản
mới nhất
Trang web chính thức Các bản tương tự
Ubuntu 9.10 www.ubuntu.com
Kubuntu,
Xubuntu,
Edubuntu,
Debian
GNU/Linux
5.0 www.debian.org
Ultimate Edition 1.7
Red Hat
Enterprise Linux
5.0 www.redhat.com/rhel/
Fedora 12 www.fedoraproject.org
phiên bản đầu tiên 4.3BSD. Sự phát triển của BSD 9 chính là sự kết hợp giữa các
cam kết thương mại và quân sự. hầu hết các tính năng của BIOND 9 được tài trợ bởi
các nhà phân phối UNIX nhằm cạnh tranh với hệ thống DNS do Microsoft đưa ra.
5.3. Apache (máy chủ Web)
Apache HTTP Server, còn được gọi ngắn gọn là Apache, là một hệ thống máy
chủ Web phổ biến hiện nay trên môi trường Wordl Wide Web. Apache được phát
triển và bảo trì bởi một cộng đòng phát triển nguồn mở (Apache Software
Foundation) có thể chạy trên các hệ điều hành khác nhau: Unix, FreeBSD, Linux,
Solaris, Novell NetWare, Mac OS X, và Microsoft Windows. Apache thuộc dạng free
software và open source software dưới giấy phép Apache License. Chịu trách nhiêm
nhận và thực hiện các yêu cầu do chức năng trình duyệt mạng gửi đến, máy chủ
Apache là một trong những nền tảng của hệ thống Mạng Toàn Cầu (WWW) như ta
biết đến ngày nay. Apache đã vươn lên vị trí số một về máy chủ mạng kể từ năm
1996 và hiện đang nắm giữ 62,53% thị trường máy chủ mạng toàn cầu, gấp hơn hai
lần thị phần của đối thủ cạnh tranh sát nhất là máy chủ IIS của Microsoft.
Tất nhiên, những số liệu thống kê ở trên luôn thay đổi hàng tháng. Số liệu cập nhật
nhất có thể tìm trên trang web “Khảo sát Máy chủ mạng” do Netcraft vận hành, tại
địa chỉ http://news.netcraft.com/archives/web_server_survey.html
10
5.4. Sendmail (máy chủ thư điện tử)
Sendmail là phần mềm truyền nhận mail (MTA – mail transfer agent). Đây là
một dự án open source, free software của cộng đòng Unix. Sendmail đã trở thành
MTA phổ biến nhất trên Internet. Sự phổ biến này một phần là do sự phổ biến của
các HĐH tựa Unix. Kết quả khảo sát do D.J. Bernstein tiến hành năm 2001 cho thấy
Unix Sendmail hiện đang nắm giữ thị phần lớn nhất: 42% toàn bộ các máy chủ email
trên thế giới. Như vậy và tỷ lệ chiếm lĩnh của ứng dụng nguồn mở này còn lớn hơn
cả thị phần cộng gộp của hai đối thủ liền sau là Microsoft Exchange với 18% thị
trường và Unix qmail với 17% thị trường. Lưu ý rằng qmail là một dạng máy chủ
email dựa trên nền Unix nhưng không phải là phần mềm nguồn mở do các điều kiện
cấp phép sử dụng quá hạn chế.
đông dảo ở khắp nơi trên thế giới
5.8. Các công cụ lập trình
Perl, Zope, và PHP, là những engine phổ biến sau "các nội dung trực tiếp" (live
content) trên mạng toàn cầu. Các ngôn ngữ cao cấp khác như Python, Ruby, và
Tcl/Tk rất thành công và thịnh hành trong đội ngũ những nhà phát triển năng động.
Trình biên dịch GNU và các công cụ (GCC, Make, Autoconf, Automake, và một số
khác) được cho là trình biên dịch mạnh, linh hoạt cũng như dễ mở rông nhất hiện
nay. Hầu hết tất cả dự án mã nguồn mở đều sử dụng chúng như công cụ phát triển
chính. Các công cụ phát triển được thiết kế đặc biệt tốt bởi không có các công cụ
chương trình mã nguồn mở, PMNM sẽ đòi hỏi công cụ thích hợp để xây dựng và tinh
chỉnh nó. Có hàng trăm ngàn gói mã nguồn mở phổ biến, bao quát nhiều lĩnh vực
phần mềm, và ngày một phát triển nhiều hơn.
6. Các giải pháp mã nguồn mở.
• Các ứng dụng quản trị nội dung ( Content Managerment Systems - CMS ).
• Các Ứng dụng trong giáo dục ( E-learning ).
• Các ứng dụng trong kinh doanh ( Customer Relationship Managerment –
CRM, Enterprise Resource Planning – ERP, eCommerce, eGroupware,…)
7. Tình hình phát triển và ứng dụng PMNM trên thế giới.
Theo đánh giá của giới chuyên môn, phần mềm nguồn mở với nền tảng là hệ điều
hành Linux là một cộng đồng phần mềm tin cậy đang phát triển rất nhanh. Trong thời
gian qua, các phần mềm nguồn mở thường chủ yếu gắn với môi trường UNIX và
12
mạng Internet. Do đó chúng thường được dùng trong các máy chủ, trong các máy
phân phối dịch vụ và chứa dữ liệu nội tại trong các hệ thống thông tin của các cơ
quan và trên Internet. Hiện tại, phần mềm nguồn mở đã dần dần xâm nhập vào các
máy khách, đặc biệt sau khi xuất hiện hàng loạt các công cụ văn phòng đủ chất lượng
cho các ứng dụng chuyên nghiệp, trong đó có StarOffice, OpenOffice. Với những
phiên bản sau này, Sun Micro System đã thương mại hóa StarOffice, nhưng
OpenOffice vẫn tiếp tục là phần mềm nguồn mở miễn phí. Linux đã trở thành một hệ
điều hành cho phép thực hiện các ứng dụng văn phòng theo các chuẩn thông dụng
cục Thuế quốc gia Pháp, với các ứng dụng mà vấn đề an toàn và bảo mật dữ liệu
được coi là quan trọng hàng đầu, cũng đã chuyển 950 máy chủ sang hệ điều hành
nguồn mở.
Chính phủ Đức đã đưa ra quy định ngăn cấm sử dụng các hệ điều hành mã nguồn
đóng trong các hệ thống máy tính nhạy cảm. Nhằm giám sát và bảo vệ các mạng máy
tính của các quốc gia thành viên, Cộng đồng châu Âu đã khuyến cáo các tổ chức của
Cộng đồng và các cơ quan công quyền của các quốc gia thành viên “khuyến khích
các dự án dùng phần mềm có mã nguồn công khai, vì đó là cách duy nhất bảo đảm
trong phần mềm không có các back door.
Tại khu vực Châu Á, phần mềm nguồn mở và đặc biệt là Linux, phát triển rất
mạnh. Cũng theo thông tin từ hãng IDC, thị trường các hệ điều hành Linux tại Trung
Quốc đạt giá trị 41,9 triệu USD vào năm 2008 và tại Nhật Bản đạt giá trị 105 triệu
USD vào năm 2007.
Từ nhiều năm qua, Chính phủ các nước châu Á đã luôn khuyến khích và ra sức
đẩy mạnh việc nghiên cứu, áp dụng hệ điều hành nguồn mở và Chính phủ Trung
Quốc được coi là đi đầu trong việc cỗ vũ phát triển ứng dụng và phát triển hệ điều
hành Linux.
Tháng 9-2003, Trung Quốc mời hãng Hewlett-Packard trợ giúp công ty RedFlag
Linux điều hành hệ RedFlag Server 4 trên các tuyến máy chủ. Công ty Hewlett-
Packard cũng đã thỏa thuận với Bộ Công nghệ Thông tin Trung Quốc giúp xây dựng
một phòng thí nghiệm Linux với kinh phí lên đến khoảng 24 triệu đôla.
14
Hiện tại, công ty Hewlett-Packard đã trở thành nhà cung cấp máy tính lớn đầu tiên
trên thế giới cung cấp các máy tính cá nhân hoạt động với hệ điều hành Linux, đặc
biệt chú ý tới thị trường châu Á. Thông qua Chi nhánh Hewlett-Packard tại Nhật Bản,
Hewlett-Packard đã tuyên bố sẽ khởi thủy việc cung cấp máy vi tính dùng hệ Linux
tại 12 thị trường chủ yếu của châu Á như Trung Quốc, Hồng Kông, Hàn Quốc,
Malaysia, Thái Lan, Singapore, Đài Loan, Philippines, Indonesia và Việt Nam. Nếu
như Dự án tại châu Á thành công thì công ty Hewlett-Packard sẽ mở rộng thị trường
máy vi tính với hệ điều hành Linux sang Bắc Mỹ và châu Âu trong tương lai.
UNDP, Hàn quốc, Trung quốc, Nhật bản...
Quyết định 235/QĐ-TTg ngày 2/3/2004 của Thủ tướng Chính phủ khẳng định quyết
tâm của Chính phủ và nền CNTT Việt Nam trong việc ứng dụng và phát triển phần
mềm nguồn mở ở nước ta.
• Một số khó khăn
Hiện thời, số lượng người sử dụng các hệ điều hành kiểu UNIX/Linux tại Việt
Nam là quá nhỏ bé (dưới 1%) so với đội ngũ người sử dụng máy tính. Thực tế này có
nhiều nguyên nhân, khách quan và chủ quan, nhưng đây là một trong những cản trở
lớn nhất của việc phổ cập hệ điều hành Linux-VN tại Việt Nam. Một nguyên nhân
quan trọng là thói quen sử dụng và ý thức vi phạm bản quyền theo mọi hình thức
trong sử dụng phần mềm tại Việt Nam. Theo thống kê chưa đầy đủ, chưa chính thức
thì hiện tượng vi phạm bản quyền phần mềm ở Việt Nam tới 92%. Ứng dụng và phát
triển phần mềm nguồn mở đòi hỏi nhân lực phát triển phần mềm trình độ cao, đủ
năng lực khai thác và phát triển phần mềm nguồn mở. Tuy nhiên, hiện tại ở Việt Nam
đội ngũ này có số lượng ít và đa phần trong số đó đang triển khai phát triển phần
mềm theo cách thức truyền thống của phần mềm độc quyền.
• Một số thuận lợi
Việc sử dụng phần mềm nguồn mở ngày càng được phổ biến trên thế giới. Xu thế
sử dụng Linux trên thế giới càng ngày càng tăng, thể hiện qua việc tăng nhanh lên về
số lượng, và mở rộng hơn về phạm vi hoạt động của các đơn vị sử dụng Linux. Hiện
nay trên Internet, số lượng phục vụ Web trên nền Linux và các công nghệ liên quan
chiếm một tỷ lệ rất lớn. Theo thống kê từ số lượng các dự án phần mềm nguồn mở
đang được tiến hành (SourceForge.net), xu thế tăng tỷ lệ sử dụng phục vụ Web trên
Linux vẫn đang tiếp diễn.
16
Cùng với xu thế phát triển Linux trên thế giới, các hãng phần mềm Linux cũng đã
cải tiến nhiều định hướng thân thiện với người dùng hơn. Các hệ điều hành Linux
ngày càng trở nên dễ sử dụng, hỗ trợ nhiều phần cứng và ngày càng có nhiều các ứng
dụng hơn trên nền Linux.
Thuận lợi từ chính sách phát triển phần mềm nguồn mở của Chính phủ. Quyết
khu vực (Wide Area Network - WAN) đầu tiên được xây dựng.
Thuật ngữ "Internet" xuất hiện lần đầu vào khoảng năm 1974. Lúc đó mạng vẫn
được gọi là ARPANET. Năm 1983, giao thức TCP/IP chính thức được coi như một
chuẩn đối với ngành quân sự Mỹ và tất cả các máy tính nối với ARPANET phải sử
dụng chuẩn mới này. Năm 1984, ARPANET được chia ra thành hai phần: phần thứ
18
nhất vẫn được gọi là ARPANET, dành cho việc nghiên cứu và phát triển; phần thứ
hai được gọi là MILNET, là mạng dùng cho các mục đích quân sự.
Giao thức TCP/IP ngày càng thể hiện rõ các điểm mạnh của nó, quan trọng nhất là
khả năng liên kết các mạng khác với nhau một cách dễ dàng. Chính điều này cùng
với các chính sách mở cửa đã cho phép các mạng dùng cho nghiên cứu và thương
mại kết nối được với ARPANET, thúc đẩy việc tạo ra một siêu mạng
(SuperNetwork). Năm 1980, ARPANET được đánh giá là mạng trụ cột của Internet.
Mốc lịch sử quan trọng của Internet được xác lập vào giữa thập niên 1980 khi tổ
chức khoa học quốc gia Mỹ NSF thành lập mạng liên kết các trung tâm máy tính lớn
với nhau gọi là NSFNET. Nhiều doanh nghiệp đã chuyển từ ARPANET sang
NSFNET và do đó sau gần 20 năm hoạt động, ARPANET không còn hiệu quả đã
ngừng hoạt động vào khoảng năm 1990.
Sự hình thành mạng xương sống của NSFNET và những mạng vùng khác đã tạo ra
một môi trường thuận lợi cho sự phát triển của Internet. Tới năm 1995, NSFNET thu
lại thành một mạng nghiên cứu còn Internet thì vẫn tiếp tục phát triển.
Với khả năng kết nối mở như vậy, Internet đã trở thành một mạng lớn nhất trên thế
giới, mạng của các mạng, xuất hiện trong mọi lĩnh vực thương mại, chính trị, quân
sự, nghiên cứu, giáo dục, văn hoá, xã hội... Cũng từ đó, các dịch vụ trên Internet
không ngừng phát triển tạo ra cho nhân loại một thời kỳ mới: kỷ nguyên thương mại
điện tử trên Internet.
II – Lợi ích của Internet.
Mạng Internet mang lại rất nhiều tiện ích hữu dụng cho người sử dụng, một trong
các tiện ích phổ thông của Internet là hệ thống thư điện tử (email), trò chuyện trực
tuyến (chat), máy tìm kiếm dữ liệu (search engine), các dịch vụ thương mãi và
dùng giao thức TCP/IP. WWW đã trở thành dịch vụ phổ biến thứ 2 sau dịch vụ FTP.
Những hình ảnh video đầu tiên được truyền đi trên mạng Internet
IV - Các ISP
20
ISP (Internet Service Provider) là nhà cung cấp dịch vụ Internet. Các ISP phải thuê
đường và cổng của một IAP. Các ISP có quyền kinh doanh thông qua các hợp đồng
cung cấp dịch vụ Internet cho các tổ chức và các cá nhân.
Các loại ISP dùng riêng được quyền cung cấp đầy đủ các dịch vụ Internet. Điều
khác nhau duy nhất giữa ISP và ISP riêng là ko cung cấp dịch vụ Internet vời mục
đích kinh doanh. Người dùng chỉ cần thoả thuận với một ISP hay ISP riêng nào đó về
các dịch vụ được sử dụng và thủ tuc thanh toán được gọi là thuê bao Internet.
Internet chính thức xuất hiện ở Việt Nam vào năm 1996, khi đó đặt dưới sự quản
lý duy nhất của một IPX là VNPT
Các ISP Việt Nam:
• VNPT
• Tổng Công ty Viễn thông Quân đội - Viettel
• Công ty FPT thuộc bộ khoa học và công nghệ
• NetNam thuộc Viện Công nghệ thông tin - Viện Khoa học và công nghệ Việt
Nam
• Công ty Thông tin Viễn thông Điện lực
• Công ty Cổ phần Dịch vụ Bưu chính Viễn thông Sài Gòn - SPT
V - Trình duyệt Web
Trình duyệt web là một phần mềm ứng dụng cho phép người sử dụng xem và tương
tác với các văn bản, hình ảnh, đoạn phim, nhạc, trò chơi và các thông tin khác ở trên
một trang web của một địa chỉ web trên mạng toàn cầu hoặc mạng nội bộ. Văn bản
và hình ảnh trên một trang web có thể chứa siêu liên kết tới các trang web khác của
cùng một địa chỉ web hoặc địa chỉ web khác. Trình duyệt web thường giao tiếp với
máy chủ web bằng việc sử dụng HTTP (giao thức truyền siêu văn bản) để lấy về các
trang web. HTTP cho phép các trình duyệt web gửi thông tin đến các máy chủ web,
cũng như lấy các trang web về. HTTP được sử dụng rộng rãi nhất là HTTP/1.1. Các
Một địa chỉ email sẽ bao gồm ba phần chính có dạng: Tên_định_dạng_thêm
tên_email@tên_miền
• Phần tên_định_dạng_thêm: Đây là một dạng tên để cho người đọc có thể dễ
dàng nhận ra người gửi hay nơi gửi.
22
• Phần tên_email: Đây là phần xác định hộp thư. Thông thường, cho dễ nhớ,
phần này hay mang tên của người chủ ghép với một vài kí tự đặc biệt. Phần
tên này thường do người đăng kí hộp thư điện tử đặt ra.
• Phần tên_miền: Đây là tên miền của nơi cung cấp dịch vụ thư điện tử. Ngay
sau phần tên_email bắt đầu bằng chữ "@" nối liền sau đó là tên miền.
Hoạt động của hệ thống thư điện tử
Các giao thức E-mail
• SMTP (Simple Mail Transfer Protocol) -- hay là giao thức chuyển thư đơn
giản. Đây là một giao thức lo về việc vận chuyển email giữa các máy chủ trên
đường trung chuyển đến địa chỉ nhận cũng như là lo việc chuyển thư điện tử
từ máy khách đến máy chủ. Hầu hết các hệ thống thư điện tử gửi thư qua
Internet đều dùng giao thức này.
• IMAP ( Internet Message Access Protocol) -- hay là giao thức truy nhập thông
điệp (từ) Internet. Giao thức này cho phép truy nhập và quản lý các mẫu thông
tin về từ các máy chủ. Với giao thức này người dùng email có thể đọc, tạo ra,
thay đổi, hay xoá các ngăn chứa, các mẫu tin đồng thời có thể tìm kiếm các
nội dung trong hộp thư mà không cần phải tải các thư về. Phiên bản mới nhất
của IMAP là IMAP4 tương tự nhưng có nhiều chức năng hơn giao thức POP3.
IMAP nguyên thuỷ được phát triển bởi POP (từ chữ Post Office Protocol) --
hay là giao thức phòng thư.
23
VIII - Máy tìm kiếm.
Máy tìm kiếm (Search Egine), hay còn gọi là công cụ tìm kiếm (search tool),
nguyên thuỷ là một phần mềm nhằm tìm ra các trang trên mạng Internet có nội dung
theo yêu cầu người dùng dựa vào các thông tin mà chúng có. Việc tìm các tài liệu sẽ
25