Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Ở bất kì địa phương nào của đất nước Việt Nam, hình ảnh các làng
nghề truyền thống đều trở nên rất đỗi quen thuộc, là một phần không thể thiếu
của làng quê Việt. Chúng ta có làng gốm Bát Tràng, làng gỗ Đồng Kị, làng
tranh Đông Hồ, và rất nhiều làng nghề nổi tiếng khác. Chính những sản phẩm
từ các làng nghề này đã tạo nên nét văn hoá đặc trưng cho làng quê. Không
chỉ vậy, nguồn thu nhập từ các làng nghề này đã làm giàu đẹp quê hương,
mang lại hiệu quả kinh tế cao cho các hộ gia đình. Tuy nhiên, với tốc độ công
nghiệp hoá - đô thị hoá hiện nay đã ảnh hưởng lớn đến các làng nghề, làm mai
một thậm chí dẫn đến nguy cơ không tồn tại được. Vì vậy, việc bảo tồn một
nghề truyền thống không chỉ tạo, duy trì, phát triển công ăn việc làm cho nhân
dân địa phương có nghề đó, mà còn bảo vệ một di sản vật thể, phi vật thể của
địa phương này. Nghề làm nước mắm truyền thống ở huyện đảo Cát Hải, Hải
Phòng cũng thuộc phạm trù trên.
Việc bảo tồn nghề truyền thống này được nghiên cứu trên bình diện bảo
vệ các nghệ nhân, truyền nghề từ các nghệ nhân cho thế hệ trẻ, quảng bá
thương hiệu, gắn với các hoạt động văn hoá du lịch khác của Hải Phòng thì
hiệu quả sẽ được nâng cao.
2. Tính cấp thiết của đề tài
Nghề làm nước mắm truyền thống ở Hải Phòng đã có từ lâu, đã ăn sâu
vào tâm thức của không chỉ người dân Hải Phòng, mà còn của toàn dân Việt
Nam.
Hiện nay tuy sản lượng nước mắm Cát Hải có tăng nhưng chất lượng
sản phẩm hoặc việc quảng cáo thương hiệu lại có chiều hướng suy giảm và
mai một. Nguyên nhân của tình trạng trên là:
NMCH.
- Góp phần xây dựng giải pháp tối ưu để bảo tồn và phát triển nghề sản
xuất NMCH, đưa nghề này trở thành một nghề mũi nhọn của huyện đảo Cát
Hải, Hải Phòng.
4. Đối tượng nghiên cứu
- Các sản phẩm của nghề sản xuất nước mắm truyền thống ở Cát Hải,
Hải Phòng.
- Các hoạt động du lịch, lễ hội trên huyện đảo Cát Hải và ở thành phố
Hải Phòng.
Vũ Thanh Nghĩa
-2-
K32B - SP Sinh
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Đề tài là giải pháp nhằm góp phần bảo tồn và phát triển bền vững
nghề sản xuất NMCH, góp phần nâng cao thu nhập kinh tế cho địa phương.
- Các giải pháp mà đề tài đưa ra có thể áp dụng để bảo tồn và phát triển
bền vững cho các ngành nghề tương tự ở Hải Phòng hoặc các tỉnh, thành phố
khác của Việt Nam.
Vũ Thanh Nghĩa
-4-
K32B - SP Sinh
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình
Chương 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển nghề sản xuất nước mắm
Cát Hải, Hải Phòng
Nước mắm Cát Hải có tiền thân là nước mắm Vạn Vân. Từ những năm
1955 trở về trước, nước mắm Vạn Vân đã nổi tiếng khắp nơi, được mọi người
khắp xa gần biết tới.
Dân gian tương truyền:
“Dưa La, húng Láng, nem Báng, tương Bần
Nước mắm Vạn Vân, cá rô Đầm Sét, sâm cầm Hồ Tây”
Cho đến cuối thế kỷ XIX, Cát Hải mới chỉ có nghề đánh cá biển và làm
muối. Từ những chuyến chở cá và muối lên bán cho xứ Kinh Bắc người Cát
Hải mới học được nghề làm nước mắm ở làng Vân, Bắc Ninh, nơi có rượu
cũng rất nổi tiếng. Người làng Vân làm nước mắm bằng cá nước ngọt nên sản
phẩm không có vị đậm, sản lượng cũng không nhiều, chủ yếu là dùng trong
gia đình.
Sau khi học được nghề, một số người Cát Hải đã làm nước mắm song
ban đầu cũng chỉ dùng trong gia đình. Ông Đoàn Đức Ban (thường gọi là Lý
Ban) ở thôn Hoà Hy, xã Hoà Quang là người đầu tiên nghĩ tới việc sản xuất
nước mắm lên bán cho chính vùng Kinh Bắc. Nước mắm được chở bằng
thuyền tới vạn chài làng Vân (vạn Vân) sau đó toả đi các nơi do vậy người
được chế biến từ ba loại cá: Cá Quân một loại cá xác - đin, chỉ đánh được vào
tháng 5, tháng 6 hàng năm, cho ra nước mắm thượng hảo hạng; cá nhâm có
nước mắm loại hai; cá ruội có nước mắm loại ba.
Bị cạnh tranh quyết liệt, là người giàu đầu óc kinh doanh, Vạn Vân lại
nghĩ ra phương thức mới nhằm chiếm lĩnh thị trường. Ông đã nghĩ ra cách
đóng chai và dán nhãn hiệu Nước mắm Vạn Vân một cá vàng đồng thời đăng
ký trình toà với Nha kinh tế Hải Phòng. Chính nhờ vậy người tiêu dùng lại
dường như chỉ biết có nước mắm Vạn Vân. Từ đó có câu ca về những sản vật
ngon nổi tiếng Bắc Kỳ “Dưa La, húng Láng, nem Báng, tương Bần, nước
mắm Vạn Vân, cá rô đầm Sét, sâm cầm Hồ Tây”.
Trước Cách mạng Tháng Tám một thời gian, ông Vạn Vân qua đời, con
trai cả là Đoàn Đức Trình lên chiến khu tiếp tục công tác trong tổ tài chính
của Nguyễn Lương Bằng.
Bà Vạn Vân ở lại Cát Hải duy trì công việc của hãng. Những năm 1950
- 1953 là thời gian cực thịnh của hãng Vạn Vân. Ngoài các cửa hàng, hãng
còn có đoàn xe ôtô vận tải.
Vũ Thanh Nghĩa
-6-
K32B - SP Sinh
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình
Từ chiến khu, Đoàn Đức Trình thường xuyên bí mật liên hệ với bà Vạn
Vân từng sáng chế ra phương pháp cô đặc nước mắm, gọi là nước mắm con
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Sơ lược điều kiện tự nhiên - xã hội của huyện Cát Hải - Hải Phòng
Cát Hải là huyện đảo nằm ở phía đông thành phố Hải Phòng cách trung
tâm nội thành 39km. Đây vốn là huyện có tên từ thời thuộc Pháp, đơn vị hành
chính trùng khớp với địa danh địa giới. Nhưng trước năm 1945, huyện Cát
Hải thuộc tỉnh Quảng Yên. Năm 1977, huyện Cát Hải được thành lập trên cơ
sở hợp nhất 2 huyện Cát Hải và Cát Bà. Cư dân huyện đảo Cát Hải có nguồn
gốc từ nhiều nơi đến, chủ yếu thạo nghề sông nước ở Thái Bình, Thanh Hoá,
Nghệ An, Hà Tĩnh, Hải Dương… Từ trước 1978, còn có nhiều cư dân người
Hoa cư trú, làm ăn sinh sống. Sách Đại Nam nhất thống chí ghi chép về Cát
Hải xưa: “Dân có tục ương ngạnh, ít văn hoá, đất nhiều chua mặn, dân làm
nghề đi đánh chài, đi buôn, mối lợi nhờ núi, biển…”. Từ xa xưa, cư dân Việt
cổ đã từng cư trú ở đây, dấu vết để lại qua các di chỉ: Cái Bèo, Eo Bùa, Hiền
Hoà…
Đặc điểm nổi bật trong văn hoá dân gian của huyện đảo trước Cách
mạng tháng Tám 1945 là ngày Hội xuống nước ở các làng Chài, cùng nhiều
trò chơi gắn liền với việc đánh bắt cá như: thi bơi thuyền mảng, đua thuyền
thúng trên biển…
Cát Hải có diện tích 3231 km2 với dân số 28000; gồm có 10 xã và 2 thị
trấn: Hoàng Châu, Nghĩa Lộ, Đồng Bài, Văn Phong và thị trấn Cát Hải; Phù
Long, Gia Luận, Việt Hải, Hiền Hào, Trân Châu, Xuân Đám và thị trấn Cát
Bà, cũng là một trung tâm hành chính thuộc huyện Cát Hải.
3.2. Quy trình sản xuất nước mắm Cát Hải, Hải Phòng
3.2.1. Vài nét về việc sản xuất nước mắm Cát Hải
Theo Cục Quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm và thú y thủy sản, công
trong chum, vại giành rồi cá ngấu thành nước mắm chắt tự nhiên. Dần dần
xuất hiện những nhà sản xuất kinh doanh nước mắm.
Vào những năm 1930 - 1940 tiểu chủ sản xuất nước mắm lên tới 40
người tập trung ở các làng Hoà Hi, Lục Độ, Lương Năng, Đông Lương… Sản
lượng nước mắm đạt tới 1triệu lít/năm . Đây là những xưởng sản xuất thuê
nhân công, nước mắm làm ra đóng vào thùng gỗ và chở đi bán khắp nơi.
Những hãng sản xuất nước mắm như Vạn Vân (của ông Đoàn Vạn Vân), ông
Sao (của ông Ba Sao), mắm làm ra tới đâu hết tới đó… Ngoài ra hầu như mỗi
gia đình ở Cát Hải cũng có ang (dụng cụ chứa bằng sành) chượp riêng, tận
dụng cá nhỏ và phụ phẩm qua bữa ăn hàng ngày. Họ tự nấu nước mắm dùng
trong gia đình.
Vũ Thanh Nghĩa
-9-
K32B - SP Sinh
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình
Nước mắm Cát Hải được chế biến theo phương pháp cổ truyền riêng
biệt qua những thao tác đánh, quậy cho ăn muối và lợi dụng nhiệt độ của mặt
trời kích thích sự lên men của chượp, thúc đẩy quá trình phân giải protit thành
axitamin tạo nên hương thơm tự nhiên độc đáo không loại nước mắm nào có
được. Nước mắm Cát Hải thực sự không thể thiếu trong bữa ăn của từng gia
đình, ngoài ra còn có tác dụng trong y học, chữa bệnh trong dân gian.
3.2.2. Quy trình sản xuất nước mắm Cát Hải:
Cho ra sản phẩm
Xuất thị trường
Đóng chai, dán
tem nhãn
Chọn rửa chai
Sơ đồ quy trình sản xuất nước mắm Cát Hải
Nước mắm Cát Hải màu đỏ đậm gần như đen, đặc trưng cho công nghệ
chế biến nước mắm miền Bắc: cá ướp muối để lên men với không khí, nghĩa
là các bể chứa để mở phơi nắng, gió, sương, được quậy và đảo liên tục mỗi
ngày. Sau vài tháng, mùi tanh mất hẳn, mùi thơm dậy lên, bả cá chìm xuống,
nước mắm phía trên từ từ trong dần. Lúc này, người ta xem màu và ngửi mùi
để lấy nước mắm cốt ra.
3.3. Các cơ sở sản xuất nước mắm hiện tại
3.3.1. Các cơ sở sản xuất nước mắm Cát Hải
Ở Cát Hải hiện nay, việc sản xuất nước mắm được tập trung ở các công
ty cổ phần trong đó Công ty cổ phần chế biến dịch vụ thuỷ sản Cát Hải cho
nhiều sản phẩm nhất.
Ngoài ra, ở đây còn có các cơ sở tư nhân nhỏ lẻ khác nhưng cho sản
Vũ Thanh Nghĩa
- 11 -
K32B - SP Sinh
HL
Nitơ
toàn
phần
(g/l)
29 ± 1
27 ± 1
30 ± 1
25 ± 1
Các chỉ tiêu
HL axit
HL Nitơ HL axit
amin so Amôniac không
với Nitơ
so với
nhỏ
TP
Nitơ TP
hơn
(%)không (%)không
theo
nhỏ hơn nhỏ hơn
axit
axetic
45
25
05
40
11 ± 1
34 ± 1
32 ± 1
18 ± 1
22 ± 1
25 ± 1
15 ± 1
12 ± 1
40 ± 1
40
30
35
47
45
43
38
40
50
40
30
30
35
35
25
25
27
35
30
3.3.3. Thị trường phân phối
Nước mắm Cát Hải được phân phối chủ yếu tại huyện đảo Cát Hải với
Vũ Thanh Nghĩa
- 12 -
K32B - SP Sinh
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình
các đại lí lớn ở Phù Long, Cát Bà; tại khu công nghiệp Đình Vũ, khu vực nội
thành Hải Phòng. Theo các chuyến tàu, nước mắm Cát Hải được đưa tới các
vùng lân cận Hải Phòng như Hải Dương, Quảng Ninh, khu vực nội thành Hà
Nội.
Đặc biệt, theo Giám đốc Công ty cổ phần chế biến dịch vụ thuỷ sản Cát
Hải, nước mắm Cát Hải đã có mặt tại thị trường Philippin, Lào và đã được
bảo hộ thương hiệu tại Trung Quốc.
3.4. Nguyên nhân sản phẩm NMCH đang bị “lãng quên”
Cùng với Phan Thiết, Phú Quốc, Cát Hải là một trong ba trung tâm sản
xuất nước mắm lớn nhất của cả nước. Theo Ông Vũ Văn Cao – Giám đốc
Công ty cổ phần chế biến dịch vụ thủy sản Cát Hải cho biết nước mắm Cát
Hải đã chính thức được đăng kí bảo hộ tại thị trường Trung Quốc bên cạnh
việc duy trì xuất khẩu sang thị trường Philippin.
Tuy nhiên, trên thực tế, “nước mắm Cát Hải” chỉ “quanh quẩn” ở khu
vực miền Bắc nước ta. Đặc biệt trong thời đại nay, với sự phát triển không
ngừng của xã hội đã đẩy nhu cầu con người lên một tầm cao mới với những
đòi hỏi cao hơn, cùng với đó là sự cạnh tranh không chỉ về chất lượng mà cả
- Chưa gắn với các hoạt động khác của Hải Phòng
3.4.4. Những thợ làm mắm lành nghề, có kĩ thuật tay nghề cao hiện còn rất ít.
Vì vậy việc truyền nghề gặp nhiều khó khăn; trong khi đó thế hệ trẻ lại không
có tâm huyết với nghề truyền thống của quê hương. Mặt khác, nghề làm nước
mắm đem lại thu nhập thấp, không bằng các ngành nghề khác do đó nhiều
người đã bỏ nghề, chuyển sang loại hình nghề mang lại hiệu quả kinh tế cao
hơn → nghề làm nước mắm ngày càng bị thu hẹp.
3.5. Một số giải pháp góp phần bảo tồn và phát triển thương hiệu nước
mắm Cát Hải
3.5.1. Về sản phẩm:
- Tăng độ đạm, tăng giá trị dinh dưỡng.
- Giảm độ mặn, độ gắt.
- Tạo màu sáng cho sản phẩm.
- Trên tem dán có ghi chú rõ ràng hàm lượng các chất dinh dưỡng có
trong sản phẩm.
- Thay đổi mẫu mã, làm đa dạng sản phẩm.
3.5.2. Về quy trình sản xuất:
- Trong khâu thu mua chượp, cần chú ý đến chất lượng cá làm chượp,
đảm bảo cá tươi, có độ đạm đạt yêu cầu.
Vũ Thanh Nghĩa
- 14 -
K32B - SP Sinh
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình
- 15 -
K32B - SP Sinh
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình
* Huyện đảo Cát Hải có nhiều hoạt động lễ hội dân gian phong phú,
trong số đó phải kể đến lễ hội đình làng Hoàng Châu, hội làng Xuân Đám,
ngày hội làng Cá Cát Hải, lễ hội xuống nước… hàng năm thu hút hàng vạn
khách thập phương tới dự.
* Cát Hải có quần đảo Cát Bà với khoảng 400 đảo lớn, nhỏ, cảnh quan
hoang sơ, là nơi hội tụ của núi non, rừng biển, hang động xen kẽ nhau tạo nên
nhiều cảnh đẹp kì vĩ, nhiều dãy núi hùng vĩ giữa thiên nhiên bao la, những bãi
tắm trữ tình nên thơ với màu cát trắng, vàng của nắng và xanh của biển. Nơi
đây là ngôi nhà chung của những loài chim, bò sát đặc biệt là loài Voọc đầu
trắng. Tổ chức UNESCO thế giới đã công nhận quần đảo Cát Bà là khu dự trữ
sinh quyển thế giới.
* Ngoài ra, hệ thống giao thông nối Cát Hải với đất liền ngày càng
thuận tiện, các hệ thống bệnh viện, bưu điện, trường học... và các ngành dịch
vụ ở Cát Hải cũng đang được đầu tư phát triển.
3.5.5.1.2. Khó khăn
- Sản phẩm mắm Cát Hải chưa được quảng bá rộng rãi, chưa tạo được
thương hiệu nổi tiếng
- Hoạt động sản xuất làm không khí bị nhiễm bẩn (do mùi tanh của cá,
do xử lí chất thải chưa tốt...)
- Sự cạnh tranh thị trường của các sản phẩm nước mắm khác
3.5.5.1.3. Kết luận
khu vui chơi giải trí Casino.
Giới thiệu tour du lịch Đồ Sơn - Cát Hải với quỹ thời gian 1 ngày: 6h00
xe đón quý khách đi đến phà Đình Vũ. 7h00 lên phà sang thị trấn Cát Hải.
Tại đây, quý khách sẽ lên xe ngựa tham quan cánh đồng - nơi người dân đang
làm muối, tham quan xí nghiệp sản xuất nước mắm Cát Hải (sản phẩm truyền
thống nổi tiếng của huyện Cát Hải). Tiếp tục hành trình tham quan di tích
lịch sử văn hoá đình Hoàng Châu. 17h00 lên phà trở về Đồ Sơn. Kết thúc
chương trình.
- Đảo Ngọc Cát Bà:
Đến Cát Bà, du khách có thể đi bằng đường bộ là đường xuyên đảo
hoặc đường thủy len lỏi giữa những núi đá. Với quỹ thời gian 2 ngày 1 đêm,
du khách có thể khám phá quần đảo Cát Bà với khoảng 400 đảo lớn, nhỏ,
cảnh quan hoang sơ, là nơi hội tụ của núi non, rừng biển, hang động xen kẽ
nhau.
Vũ Thanh Nghĩa
- 17 -
K32B - SP Sinh
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình
Giới thiệu tour du lịch Cát Bà - Cát Hải với quỹ thời gian 1 ngày: 7h15
xe đón quý khách đi đến Xã Phù Long. 8h00 lên phà sang thị trấn Cát Hải.
Tại đây, quý khách sẽ lên xe ngựa tham quan cánh đồng - nơi người dân đang
làm muối, tham quan xí nghiệp sản xuất nước mắm Cát Hải (sản phẩm truyền
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình
- Tour dành cho du khách có nhu cầu tham quan tìm hiểu về văn hóa,
tôn giáo, tinh thần:
Xuất phát từ khách sạn du khách nghỉ hoặc tour từ các địa phương đến
Hải Phòng, du khách vào thăm khu: Tượng nữ tướng Lê Chân, Nhà Hát lớn,
Quán Hoa. Qua đường Đinh tiên Hoàng vào đường Hoàng Văn Thụ thăm nhà
Thờ lớn thành phố - Trung tâm Giáo hội Thiên chúa giáo miền Duyên hải. Từ
đường Hoàng Văn Thụ qua phố Quang Trung, Nguyễn Đức Cảnh, phố Cát
Cụt vào đường Chùa Hàng thăm chùa Dư Hàng Kênh. Chạy theo tuyến đường
kênh thoát nước Tây Nam, thăm chùa Phổ Chiếu hoặc chùa Đồng Thiện. Kết
thúc chương trình du khách thăm đình Hàng Kênh với kiến trúc độc đáo thời
nhà Lê và nghe ca trù hoặc chiếu Chèo.
- Tour thăm các Di tích lịch sử xếp hạng cấp Quốc gia và Lễ hội truyền
thống
Xuất phát từ khách sạn hoặc tour từ các địa phương đến thăm nhà Hát
lớn thành phố, Chùa Vẽ, Đền Phú Xá, Bảo Tàng Hải Quân, Bến Nghiêng, Bia
tưởng niệm Đường Hồ Chí Minh trên biển.
Với các tour du lịch kể trên, có thể kết hợp giới thiệu quảng cáo NMCH
tới khách du lịch qua các hoạt động tiếp thị trưng bày sản phẩm, qua các
hướng dẫn viên du lịch hay qua các biển quảng cáo…
Vũ Thanh Nghĩa
- 19 -
K32B - SP Sinh
Lễ hội 11-12/1
Hiền
dân gian Âm lịch
Hào
Thị
Hội xuống Lễ hội 21/1 Âm trấn
02
nước
dân gian lịch
Cát
hải
Thị
Lễ hội
1/4
Lễ hội
trấn
03 làng cá
Dương
dân gian
Cát
Cát Bà
lịch
Bà
Xã
Hội làng
Lễ hội 10-12/6 Hoàn
04 Hoàng
dân gian Âm lịch g
Châu
Châu
Kéo co
trấn
hương
X
Đọc
Đua
chúc
thuyền
văn, tế
0
Tế,
rước,
Đánh cờ
dâng
hương
0
0
Thành Thành
phố
phố
Làng
thành phố Hải Phòng. Đây là một địa danh làng xã cùng chung tên gọi đồng
thời với ngôi đình cổ thờ các vị thành hoàng cũng được mang tên Hoàng
Châu.
Vào dịp kỷ niệm ngày sinh hoặc ngày mất của các vị thành hoàng, ngôi
đình làng Hoàng Châu thực sự trở thành tụ điểm sinh hoạt văn hóa cổ truyền
ở địa phương. Người làng cùng nhau xum họp, thành kính dâng hương, tế lễ
Vũ Thanh Nghĩa
X
- 20 -
K32B - SP Sinh
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình
trước ban thờ các vị thành hoàng cầu mong điều may mắn, an bình trong cuộc
sống và tỏ lòng biết ơn công đức tổ tiên. Đặc biệt vào ngày 10 tháng 6 âm lịch
hàng năm làng tổ chức vào đám rước linh vị hai vị thành hoàng từ hai miếu
giáp Đông, giáp Đoài về đình mở hội tế lễ. Đỉnh cao của lễ hội Hoàng Châu
phải kể đến trò thi kéo ngựa chiến hay còn gọi là xa mã giữa hai bên giáp
Đông và giáp Đoài. Để cho trò thi điều khiển xa mã được diễn ra suôn sẻ,
người ta chuẩn bị rất chu đáo: chiếc xa mã mang dáng dấp một đôi ngựa chiến
thực thụ có đầy đủ dây cương, yếm hoa, cổ đeo nhạc, cơ động trên bánh xe
bằng gỗ. Thành viên của hai giáp tham gia vào cuộc thi đều mang trang phục
gọn gàng, quần ống chẽn, đầu chít khăn kiểu đầu rìu màu xanh hoặc đỏ khác
nhau. Người chỉ huy tay cầm cờ nhỏ có màu sắc để phân biệt với bên đối
sống lao động, sản xuất của nhân dân huyện đảo Cát Hải, ngày nay, những trò
vui chơi, thi đấu trên sóng biển ở Cát Hải thực sự là những ngày hội lớn.
Ngày hội kết hợp hài hoà chương trình đặc sắc nhất trong giao lưu văn hoá,
thể thao giữa huyện đảo Cát Hải với các huyện lúa ngoại thành Hải Phòng và
tỉnh bạn Quảng Ninh.
Ngày hội làng Cá diễn ra vào ngày 1 tháng 4 hàng năm, ghi nhớ sự kiện
ngày 1 tháng 4 năm 1959, Bác Hồ kính yêu về thăm làng Cá Cát Hải, động
viên thăm hỏi bà con ngư dân trong công việc chài lưới, làm chủ biển trời quê
hương. Từ đó đến nay, ngày 1 tháng 4 hàng năm đã trở thành ngày truyền
thống của ngành Thuỷ sản, ngày khai trương mùa du lịch Cát Bà và cũng là
thời điểm ra quân đánh cá vụ Nam của ngư dân huyện đảo. Ngày hội lớn
mang nhiều ý nghĩa lịch sử đã diễn ra trọng thể ngay tại vùng đảo Cát Bà.
Ngày hội lớn ấy không thể thiếu cuộc thi đua thuyền Rồng trên biển Cát Bà.
Bước vào ngày hội, sau phần thủ tục là lễ khai mạc diễn ra trên lễ đài trước
bến tàu neo đậu giữa trung tâm. Một nửa nội dung của lễ hội Cát Bà là các
hoạt động thi đấu diễn ra trên biển, trọng tâm là cuộc đua thuyền rồng, giữa
đội chủ nhà Cát Bà với các đoàn khách đến từ vùng Duyên Hải Quảng Ninh,
Bắc Trung Bộ, cùng những anh em từ vùng lúa Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, Thuỷ
Nguyên…
Cuộc đua thuyền rồng trên biển mang ý tưởng chủ đạo: Thuyền rồng từ
biển Cát Bà vươn khơi trong thế Rồng Bay của đất nước, nối vòng tay bè bạn,
thân ái với mọi miền Tổ quốc. Ngoài cuộc đua thuyền Rồng diễn ra sôi nổi
hào hứng từ phút ban đầu đến phút cuối để tìm ra đội vô địch nhận giải của
Vũ Thanh Nghĩa
- 22 -
K32B - SP Sinh
K32B - SP Sinh
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: TS. Hoàng Nguyễn Bình
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Qua quá trình tìm hiểu về hoạt động sản xuất của nghề sản xuất
NMCH, các lễ hội của huyện Cát Hải và hoạt động du lịch của thành phố Hải
Phòng chúng tôi đi đến một số kết luận sau:
- NMCH là một đặc sản của thành phố Hải Phòng, sản xuất tuân thủ
tiêu chuẩn ISO 9001:2008 và HACCP.
- Quy trình sản xuất đảm bảo vệ sinh, theo phương pháp cổ truyền
không dùng bất cứ chất xúc tác nào, với đặc trưng riêng.
- Sản phẩm NMCH hiện chưa tạo được thương hiệu nổi tiếng trên toàn
quốc. Người dân ngay ở khu vực nội thành Hải Phòng cũng ít gia đình sử
dụng NMCH như một gia vị không thể thiếu.
- Các lễ hội ở Cát Hải rất phong phú, đa dạng, giàu bản sắc văn hoá.
Hoạt động du lịch là điểm mạnh trong phát triển kinh tế của Hải Phòng. Do
vậy hoàn toàn có thể xây dựng chương trình du lịch, tìm hiểu văn hoá kết hợp
với tham quan cơ sở sản xuất nhằm phát triển nghề làm nước mắm truyền
thống.
- Đề tài là một giải pháp góp phần xây dựng giải pháp tối ưu để bảo tồn
và phát triển nghề sản xuất NMCH.
2. Kiến nghị
Để bảo tồn và phát triển bền vững nghề sản xuất NMCH thì:
- Các cấp chính quyền địa phương và nhân dân trong vùng phải tích cực
tham gia, ủng hộ việc phát triển nghề sản xuất NMCH.