Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu
Năng lợng là linh hồn của cuộc sống trong một xã hội công nghiệp, công
nghiệp càng phát triển thì nhu cầu sử dụng năng lợng càng nhiều và ngợc lại.
Từ lâu, ngành công nghiệp năng lợng đã đợc coi trọng và luôn đI trớc
một bớc. Nó đợc coi nh mảng cơ sở hạ tầng quan trọng nhất trong toàn bộ cơ
cấu hạ tầng sản xuất, là cơ sở động lực cho các ngành kinh tế khác.
Ngành công nghiệp năng lợng gồm nhiều ngành năng lợng khác nhau
nh than, điện, dầu khíĐối với mỗi quốc gia, dầu khí đóng một vai trò quan
trọng bởi nó chi phối gần nh toàn bộ nền kinh tế cũng nh cuộc sống bình th-
ờng của mỗi ngời dân. Dầu khí đang và sẽ là nguồn năng lợng chủ yếu của
thế giới trong thời kỳ này.
ở Việt Nam, dầu khí là một nguồn tài nguyên quan trọng góp phần to
lớn vào việc phát triển kinh tế, hình thành nền công nghiệp mũi nhọn. Vậy
dầu khí là gì? Chúng ta phải khai thác, sử dụng và phát triển nguồn tài
nguyên có sẵn này và các sản phẩm của nó nh thế nào?
Một sinh viên kinh tế năng lợng cần phải biết và quan tâm đến những
ngành công nghiệp năng lợng đặc biệt những ngành đang là thế mạnh của n-
ớc ta. Đó chính là lý do em chọn dề tài này để viết tiểu luận. Bài luận của em
gồm ba phần:
I. Khái quát chung về công nghiệp dầu khí
II. Quá trình phát ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam
III. Phơng hớng phát triển ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam
trong tơng lai.
Với kiến thức còn hạn chế nên bài luận của em còn có nhiều thiếu sót,
mong thầy cô và các bạn góp ý thêm.
Hà Nội, ngày 8 5 2004
Sinh viên Chử Thị Minh Hiếu
khí đốt. Nhu cầu sử dụng năng lợng ngày càng tăng (tốc độ khoảng 4-
5%/năm), hiện nay thế giới đang sản xuất và tiêu dùng 75 triệu thùng
dầu/ngày, dự tính đến 2010 tổng nhu cầu là 230 triệu thùng dầu/ ngày và đến
năm 2020 tổng nhu cầu là 280 thùng/ngày, dự báo đến năm 2037 nhu cầu về
dầu khí của thế giới sẽ vợt qua khả năng cung cấp. Ngày 14-4-2004, OPEC
chính thức cắt giảm sản lợng khai thác 1 triệu thùng/ngày, (dự đoán nguồn
cung cấp dầu thô thế giới sẽ giảm 1,9 triệu thùng một ngày) làm cho giá dầu
và các loại hàng hoá có liên quan cũng tăng nhanh chóng. Điều này sẽ gây
khủng hoảng dầu trên toàn thế giới. (Bảng 2- Phụ lục)
Nh vậy, dầu khí đang và sẽ đóng vai trò nổi bật trong cán cân năng lợng.
Khi giá dầu tăng sẽ làm tăng kim ngạch xuất khẩu của nớc ta nhng chúng ta
phải đứng trớc nhiều thử thách do giá các nguyên liệu đầu vào tăng cao.
Chử Thị Minh Hiếu Kinh tế năng lợng K46 - 3-
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
II. Quá trình phát triển ngành công nghiệp dầu khí Việt
Nam.
I.1. Quá trình hình thành công nghiệp dầu khí Việt Nam:
Ngời Việt Nam sử dụng xăng dầu từ lúc nào, hiện nay không có tài liệu
nào ghi rõ, lich sử tìm kiếm dầu khí ở nớc ta thực sự bắt đầu chỉ mới từ năm
1959-1960. Tiềm năng dầu khí của nớc ta khá phong phú, tập trung chủ yếu
ở 2 vùng là đồng bằng sông Hồng (10%) và vùng Đông Nam Bộ (90%).
Mặc dù cha có các con số chính xác về trữ lợng dầu khí nhng dự báo trữ
lợng địa chất khoảng 10 tỉ tấn dầu, trữ lợng khai thác khoảng 4-5 tỉ tấn dầu
quy đổi. Chỉ tính riêng các mỏ dầu khí có giá trị công nghiệp ở thềm lục địa
phía Nam, tổng trữ lợng có thể khai thác là trên 150 triệu tấn dầu, 50 tỉ m
3
khí đồng hành và hàng trăm tỉ m
3
khí tự nhiên. Trữ lợng dầu tìm kiếm và
thăm dò 1,5 tỉ tấn, tổng trữ lợng dự báo và tìm kiếm thăm dò là 5-6 tỉ tấn.
Km
2
: Bể Sông Hồng, diện tích 160.000Km
2
, hệ số cá giếng khoan thăm dò
gặp dầu khí khá cao (30% ở thềm lục địa, 25% trên đất liền) nhng mới xác
định đợc hai mỏ khí nhỏ có trữ lợng thơng mạ là Tiền Hải C và Thái Thọ
( 0,6 tỷ m
3
quy dầu)
Bể Phú Khánh diện tích 40.000Km
2
, tiềm năng dự báo 0,3-0,7 tỷ m
3
quy
dầu.
Bể Cửu Long diện tích 60.000Km
2
, có mật độ thăm dò và hệ số phát hiện
dầu cao nhất cả nớc (54%), có 4 mỏ đang khai thác dầu chủ yếu của Việt
Nam, tiềm năng dự báo 700-800 triệu m
3
dầu.
Bể Nam Côn Sơn diện tích gần 1000 Km
2
, hệ số các giếng khoan thăm
dò gặp dầu khí là 31%, tiềm năng dự báo 650-850 triệu m
3
quy dầu.
Bể Malay- Thổ Chu, diện tích 40.000Km
lai. Năm 2010 dự kiến sẽ xây dựng hai nhà máy lọc dầu với tổng công suất
13-14 triệu tấn/năm, nhà máy lọc dầu số 1 (Dung Quất Bình Sơn
Quảng Ngãi) công suất 6,5 triệu tấn/năm, sẽ cung cấp 60% nhu cầu xăng dầu
những năm 2005-2010.
Tốc độ phát triển công nghiệp hoá dầu ở nớc ta chậm chạp, các dự án
hoá dầu ở Việt Nam sẽ phát triển theo ba giai đoạn:
Dich vụ dầu khí: xây dựng nhiều dịch vụ chuyên ngành, doanh thu mỗi
năm cao, đạt đến nhiều nghìn tỷ đồng với một lợng ngoại tệ quan trọng.
Phân phối và kinh doanh sản phẩm: Hiện nay tỷ phần của Petro VietNam
là 4-5% trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu, 3% trong lĩnh vực dầu nhờn,
85% LPG trong đó thị phần bán lẻ khí hoá lỏng mới chỉ 11%. Xây dựng các
cảng, tổng kho, kho trung chuyển, phơng tiện vận chuyển sản phẩm và các
cây xăng để phát triển thị phần kinh doanh.
Nhà nớc xác định phát triển ngành dầu khí Việt Nam nhằm đáp ứng nhu
cầu bảo dảm năng lợng và phát triển kinh tế đến 2020 đa Petro VietNam
thành một tập doàn kinh tế mạnh.
Petro limex thành lập năm 1956, đến năm 2000 nhập khẩu 80 triệu tấn
xăng dầu để đáp ứng nhu cầu trong nớc. Hiện nay mở hoạt động kinh doanh
xăng dầu, khí hoá lỏng sang kinh doanh, vận chuyển xăng dầu, thiết kế đờng
ống, bể chứa, cơ khí chuyên dụng, bảo hiểm và du lịch, khách sạn. Có 50
công ty, 53 chi nhánh và hơn 1600 cửa hàng bán lẻ, mang lại một nguồn
doanh thu lớn cho nền kinh tế nớc ta (Bảng 6-Phụ lục).
Sai Gon Petro thành lập tháng 6 1986, đến cuối năm 1995 chiếm
16,5% thị trờng xăng dầu cả nớc; 27,5% thị trờng các tỉnh miền Nam và 36%
khí hoá lỏng toàn quốc; tổng công suất là 350.000tấn/năm. (Bảng 7-Phụ lục).
II.3. Vốn đầu t và phát triển thị trờng:
Vốn là nớc có tiềm năng về dầu khí nên chúng ta không chỉ tập trung đ-
ợc sự chú ý của nhà nớc mà còn đợc sự quan tâm của các nớc khác, nhiều
công ty liên doanh ngành dầu khí ra đời, nguồn vốn đầu t này rất có ý nghĩa
cho sự phát triển ngành dầu khí cũng nh sự phát triển ngành kinh tế nớc ta