Chuyên đề tốt nghiệp
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngân hàng là một trong những phát minh lớn trong tiến trình lịch sử phát triển
của nhân loại, ra đời và tồn tại trong nền kinh tế hàng hóa, dẫn dắt và thúc đẩy nền kinh
tế hàng hóa đạt được những bước tiến vững chắc. Chính vì thế mà cho đến ngày hơm
nay, hoạt động Ngân hàng ln được đặc biệt quan tâm khơng ngừng đẩy mạnh, trong
đó tín dụng nói chung và tín dụng đối với DNNVV nói riêng là nghiệp vụ quan trọng
hàng đầu, chiếm một tỷ trọng lớn trong tồn bộ tài sản Có của Ngân hàng.
Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế hiện nay, đồng hành cùng
với các Ngân hàng Việt Nam ngày càng vươn mình lớn mạnh là các DNNVV đã và
đang từng bước phát triển đa dạng cả về số lượng lẫn chất lượng, chiếm hơn 95% tổng
số các doanh nghiệp được thành lập trong cả nước cũng như việc nắm giữ vị trí quan
trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước. Cụ thể, rõ ràng sự thành cơng của những
cải cách trước đây trong thập niên 80 phần lớn nhờ vào sự đáp ứng mạnh mẽ từ phía
cung cấp của các hộ gia đình nơng nghiệp : việc bãi bỏ hình thức nơng nghiệp tập thể
đã nhanh chóng biến Việt Nam từ chỗ thiếu lương thực trở thành nước xuất khẩu gạo
lớn thứ hai trên thế giới. Trong những năm gần đây, các DNNVV một lần nữa lại trở
thành trung tâm của những tranh luận về phát triển khi số lượng DNNVV tăng bình
qn mỗi năm khoảng 10%, DNNVV đã trở thành nguồn lực quan trọng thúc đẩy sự
tăng trưởng kinh tế, đóng góp khoảng 26% GDP, tạo ra khoản 77% việc làm phi nơng
nghiệp, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và góp phần làm tăng nguồn thu
ngân sách địa phương cũng như quốc gia.
Mặc dù có vai trò rất lớn như vậy nhưng trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình các DNNVV đã gặp phải khơng ít khó khăn trong đó có khó khăn
về thiếu vốn sản xuất kinh doanh. Đặc biệt trong điều kiện hội nhập như hiện nay,
một khi nước ta đã tham gia tổ chức Thương mại thế giới, nguồn vốn khơng chỉ là
cơ sở để các DNNVV có thể đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng đẩy mạnh hiệu quả hạt
động sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm tăng khả năng cạnh tranh lẫn nhau ở
gần đây chất lượng cho vay DNNVV còn một số vấn đề tồn tại.
Đối với NHTMCP NT VN Chi nhánh Huế, nghiệp vụ tín dụng ngân hàng đối
với các DNNVV là một trong những hướng đi chính nhằm tăng nguồn thu cho
ngân hàng thúc đẩy hoạt động kinh doanh trên địa bàn tỉnh phát triển. Tuy nhiên
trong q trình hồn thiện và phát triển nghiệp vụ này còn gặp một số những rủi ro
và hạn chế. Do vậy, nghiên cứu thực trạng dựa trên việc làm rõ cơ sở lý luận về tín
dụng ngân hàng và chất lượng tín dụng cũng như đánh giá và khảo sát các ngun
Dương Ngọc Quỳnh Phương – Lớp K40 TCNH
2
Chuyên đề tốt nghiệp
nhân về chất lượng hoạt động tín dụng để từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng
cao hơn nữa chất lượng hoạt động của phần hành này là một việc làm thường xun
và thực sự cần thiết trong điều kiện kinh tế hiện nay. Chính vì vậy, tơi đã chọn đề
tài: “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng doanh
nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam, chi nhánh
Huế”.
2. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động tín dụng DNNVV.
3. Phạm vi nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu về chất lượng hoạt động tín dụng, đặc biệt là hoạt động
cho vay DNNVV tại Vietcombank Huế qua ba năm 2007-2009.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong chun đề này đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp phỏng vấn.
hơn ban đầu theo sự thỏa thuận truớc.”
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng trong đó có ít nhất một chủ thể tham
gia là ngân hàng. NHTM được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức
cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho th tài
chính và các hình thức khác theo quy định của NHNN. Trong các hoạt động tín
dụng, cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất.
NHTM cho các tổ chức, cá nhân vay vốn dưới các hình thức sau:
- Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ và đời sống.
- Cho vay trung, dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ và đời sống.
1.1.2. Vai trò của Tín dụng Ngân hàng
1.1.2.1. Đối với ngân hàng
Hiện nay, chất lượng tín dụng là mối quan tâm hàng đầu của các NHTM và của
NHNN. NHNN đã ban hành nhiều chỉ thị để nâng cao chất lượng tín dụng tại các
NHTM như Chỉ thị số 02/2006/TC-NHNN ngày 23/05/2006 của Thống đốc NHNN về
việc tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh
Dương Ngọc Quỳnh Phương – Lớp K40 TCNH
5
Chuyên đề tốt nghiệp
của TCTD và Chỉ thị số 02/2005/TC-NHNN ngày 20/04/2005 của Thống đốc NHNN
về việc nâng cao chất lượng tín dụng, tăng trưởng tín dụng phù hợp với khả năng huy
động vốn và kiểm sốt rủi ro, bảo đảm an tồn hệ thống. NHTM là trung gian tài chính
quan trọng trong nền kinh tế, một sự sụp đổ của ngân hàng sẽ ảnh hưởng đến cả hệ
thống NHTM, ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống của người dân.
NHTM nhận những khoản tiền gửi của khách hàng và đem cho khách
Chuyên đề tốt nghiệp
• Cho vay bất động sản
• Cho vay nơng nghiệp
• Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu
b, Dựa vào thời hạn tín dụng:
• Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn dưới 1 năm. Mục đích của
loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động.
• Cho vay trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm. Mục đích
của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định.
• Cho vay dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm, Mục đích của loại
cho vay này thường là nhằm tài đầu tư vào các dự án đầu tư.
c, Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng:
• Cho vay khơng có bảo đảm: Là loại cho vay khơng có tài sản thế chấp,
cầm cố hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách
hàng vay vốn để quyết định cho vay.
• Cho vay có bảo đảm: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền
vay như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác.
d, Dựa vào phương thức cho vay:
• Cho vay theo món vay
• Cho vay theo hạn mức tín dụng
e, Dựa vào phương thức hồn trả nợ vay:
• Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả nợ mộ lần khi
đáo hạn
• Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả góp
1.1.4. Bảo đảm tín dụng
1.1.4.1. Khái niệm về bảo đảm tín dụng
Hoạt động tín dụng của ngân hàng là một hoạt động chứa đựng nhiều rủi
ro. Mặc dù, trước khi quyết định cho vay, ngân hàng đã trãi qua các khâu thu
thập, xử lý, phân tích và thẩm định kỹ khả năng trả nợ của khách hàng nhưng
vẫn chưa thể nào loại bỏ được rủi ro tín dụng. Do vậy, bảo đảm tiền vay có thể
đảm bằng tài sản thế chấp, bảo đảm bằng tài sản cầm cố, bảo đảm bằng tài sản hình
thành từ vốn vay và bảo đảm bằng hình thức bảo lãnh của bên thứ ba.
a, Bảo đảm tín dụng bằng tài sản thế chấp
Bảo đảm tín dụng bằng tài sản thế chấp là việc bên vay vốn thế chấp tài sản
của mình cho bên cho vay để bảo đảm khả năng hồn trả vốn vay. Thế chấp tài sản
là việc bên đi vay sử dụng bất động sản thuộc sở hữu của mình hoặc giá trị quyền
sử dụng đất hợp pháp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên cho vay. Vấn đề
Dương Ngọc Quỳnh Phương – Lớp K40 TCNH
8
Chuyên đề tốt nghiệp
thế chấp tài sản bị chi phối bởi Luật dân sự và Luật đất đai. Theo hai luật này thế
chấp có hai loại: Thế chấp bất động sản và thế chấp giá trị quyền sử dụng đất.
• Thế chấp bất động sản
Bất động sản là những tài sản khơng di dời được như nhà ở, cơ sở sản xuất
kinh doanh và các tài sản gắn liền với nhà ở hoặc cơ sở sản xuất kinh doanh. Giá trị
tài sản thế chấp bao gồm giá trị của tài sản kể cả hoa lợi, lợi tức và các trái quyền có
được từ bất động sản.
Tất cả các bất động sản thuộc sở hữu hợp pháp của cá nhân hay tổ chức đều
có thể sử dụng để thế chấp vay vốn. Khi thế chấp hai bên, ngân hàng và khách hàng,
phải thoả thuận định giá tài sản thế chấp và ký kết hợp đồng thế chấp có chứng
nhận của Phòng cơng chứng.
• Thế chấp giá trị quyền sử dụng đất
Ở Việt Nam đất đai thuộc quyền sở hữu tồn dân do Nhà nước thống nhất
quản lý và thực hiện việc giao đất hoặc cho th đất đối với cá nhân, hộ gia đình, tổ
chức kinh tế, đơn vị vũ trang, cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội sử dụng
ổn định lâu dài. Trong các chủ thể được giao đất hoặc cho th đất nói trên chỉ có cá
được tạo ra bởi một phần hoặc tồn bộ khoản cho vay của ngân hàng. Bảo đảm tiền
vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho
chính khoản vay đó đối với ngân hàng.
Bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay được áp dụng trong các
trường hợp sau đây:
• Trường hợp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quyết định giao cho ngân
hàng cho vay đối với khách hàng là đối tượng vay.
• Ngân hàng cho vay trung hạn, dài hạn với các dự án đầu tư phát triển sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ ,đời sống nếu khách hàng vay và tài sản hình thành từ vốn
vay đáp ứng được các điều kiện khách hàng vay có tín nhiệm, có khả năng tài chính
để trả nợ, có dự án đầu tư khả thi, có mức vốn tự có nhất định tham gia vào dự án.
d, Bảo đảm tín dụng bằng hình thức bảo lãnh
Bảo lãnh là việc bên thứ ba cam kết với bên cho vay (người nhận bảo lãnh)
sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên đi vay (người được bảo lãnh) nếu khi đến hạn
mà người được bảo lãnh khơng thực hiện hoặc khơng thể thực hiện đúng nghĩa vụ
trả nợ. Bảo đảm có thể chia thành hai loại chính: bảo lãnh bằng tài sản và bảo lãnh
bằng tín chấp.
• Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba là việc bên thứ ba (gọi là bên bảo
lãnh) cam kết với bên cho vay về việc sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình để
thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho bên đi vay, nếu đến hạn trả nợ mà bên đi vay
khơng thực hiện hoặc khơng thể thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ.
• Bảo đảm bằng tín chấp của tổ chức đồn thể chính trị - xã hội là biện
pháp bảo đảm tiền vay trong trường hợp cho vay khơng có bảo đảm bằng tài sản,
Dương Ngọc Quỳnh Phương – Lớp K40 TCNH
10
Chuyên đề tốt nghiệp
10 người trở
xuống
10 người trở
xuống
10 người trở
xuống
DN nhỏ
Tổng nguồn
Số lao động
vốn
Từ trên 10
20 tỷ đồng
người đến
trở xuống
200 người
Từ trên 10
20 tỷ đồng
người đến
trở xuống
200 người
Từ trên 10
10 tỷ đồng
người đến 50
trở xuống
người
DN vừa
Tổng nguồn
Số lao động
2/ Tuỳ theo tính chất, mục tiêu của từng chính sách, chương trình trợ giúp
Dương Ngọc Quỳnh Phương – Lớp K40 TCNH
11
Chuyên đề tốt nghiệp
mà cơ quan chủ trì có thể cụ thể hố các tiêu chí nêu trên cho phù hợp.
1.2.2. Đặc điểm DNNVV
Theo tiêu chí phân loại về lao động và nguồn vốn thì ở Việt Nam hiện nay
DNNVV chiếm đến trên 95% tổng số khoảng 250.000 doanh nghiệp đã thành lập
trên cả nước.
DNNVV có một số đặc điểm sau đây:
- Các DNNVV chủ yếu là những doanh nghiệp mới thành lập trong một thời
gian ngắn nên còn thiếu kinh nghiệm kinh doanh, nhiều rào cản, ít được hỗ trợ,
chưa tạo dựng được thương hiệu riêng, chưa có các chương trình quảng cáo,
Marketing phù hợp để mọi người biết đến. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp.
- Khó khăn lớn nhất của các DNNVV hiện nay là tình trạng thiếu vốn để sản
xuất. Ngun nhân chủ yếu là do vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp thấp,
DNNVV hầu như khơng đáp ứng được điều kiện để có mặt trên thị trường chứng
khốn. Chính vì vậy nguồn vốn của họ đa số huy động từ bản thân doanh nghiệp,
tín dụng thương mại và từ ngân hàng. Tuy nhiên hiện nay việc tiếp cận nguồn tài trợ
của ngân hàng đối với các DNNVV rất hạn chế bởi một phần do bản thân doanh
nghiệp và một phần do các định chế từ phía các ngân hàng. Theo kết quả điều tra
của Cục phát triển doanh nghiệp (Bộ kế hoạch đầu tư) thì chỉ có khoảng 32,38%
DNNVV có khả năng tiếp cận nguồn tài chính của ngân hàng, 35,24% khó tiếp cận
và 32,38% khơng tiếp cận được.
- Hầu hết các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, thiết bị cơng nghệ lạc hậu, chậm đổi mới,
phí quản lý doanh nghiệp.
- Các DNNVV thường rất năng động, linh hoạt, nhạy bén với thị trường, dễ
chuyển hướng sản xuất kinh doanh trong nhiều lĩnh vực khác phù hợp với nhu cầu
và thị hiếu của người tiêu dùng.
1.2.3. Vai trò của tín dụng Ngân hàng đối với DNNVV
Đối với các DNNVV, sự đáp ứng vốn đầy đủ và kịp thời từ phía ngân hàng
là cơ sở giúp cho doanh nghiệp đảm bảo được hoạt động sản xuất được bình
thường, kịp thời và thu lợi nhuận. Bên cạnh đó, chất lượng tín dụng được nâng cao
là cơ sở để doanh nghiệp duy trì mối quan hệ tốt đẹp với ngân hàng. Từ đó có thể
tạo điều kiện thuận lợi cho những lần cấp tín dụng sau này.
1.2.4. Khái niệm về chất lượng Tín dụng ngân hàng
Các nhà kinh tế đưa ra rất nhiều khái niệm về chất lượng. Hiệp hội tiêu
chuẩn hóa Pháp (tiêu chuẩn NFX50_104) thì chất lượng của một hàng hóa hay dịch
vụ có thể được hiểu là năng lực của sản phẩm hàng hóa (dịch vụ) đó, trên cơ sở mức
Dương Ngọc Quỳnh Phương – Lớp K40 TCNH
13
Chuyên đề tốt nghiệp
độ đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng. Còn theo tiêu thức Quốc tế về tiêu chuẩn hóa
(ISO) trong bộ tiêu chuẩn ISO đã đưa ra định nghĩa chất lượng như sau: “Chất
lượng là tổng thể các chỉ tiêu, những đặc trưng của nó, thể hiện được sự thoả mãn
nhu cầu trong những biểu hiện tiêu dùng xác định, phù hợp với cơng dụng của sản
phẩm mà người tiêu dùng mong muốn”.
CLTD là một phạm trù phản ánh mức độ rủi ro trong bảng tổng hợp cho vay
của một TCTD. Để phản ảnh về CLTD có rất nhiều chỉ tiêu nhưng nói chung người
ta thường quan tâm: tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ, tỷ lệ và cơ cấu TSĐB. Ngồi ra,
để đánh giá định tính về CLTD người ta còn quan tâm đến: Cơ cấu dư nợ các khoản
ngân hàng và đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị trường với ngun tắc hồn trả
đúng hạn và có lãi. Nghĩa là tín dụng phải mang lại lợi ích cho nhà kinh doanh lĩnh
vực tài chính ngân hàng, đồng thời nó đáp ứng nhu cầu phát triển của ngân hàng
một cách bền vững và ít rủi ro nhất.
1.2.5. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng Tín dụng ngân hàng
1.2.5.1. Các chỉ tiêu cơ bản trong phân tích Tín dụng
Doanh số cho vay: Là chỉ tiêu phản ánh quy mơ cho vay, đó là tổng số tiền
mà ngân hàng đã giải ngân cho khách hàng vay vốn trên cơ sở hợp đồng cho vay
trong một thời gian nhất định, thường là một năm.
Doanh số thu nợ: là chỉ tiêu phản ánh tổng số tiền mà ngân hàng thu được
từ những khách hàng đã vay vốn của ngân hàng trong một thời gian nhất định,
thường là một năm.
Dư nợ cho vay: dư nợ cho vay là số tiền mà ngân hàng hiện đang còn cho
vay vào thời điểm cuối kỳ (Trích “Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại”-PGS.TS
Phan Thị Thu Hà)
Dư nợ
Dư nợ
cuối kỳ
đầu kỳ
+
Doanh số cho vay
trong kỳ
Doanh số thu nợ
trong kỳ
Nợ q hạn
Tổng dư nợ
Nợ q hạn: là khoản nợ mà một phần hoặc tồn bộ nợ gốc/hoặc lãi đã q hạn
(Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN ).
Tỷ lệ NQH cho biết trong 100 đồng dư nợ cho vay DNVVN thì có bao nhiêu
đồng NQH. Tỷ lệ này thấp chứng tỏ các khoản cho vay có khả năng thu hồi cao,
gốc và lãi được trả đúng hạn, chất lượng của món vay cao. Ngược lại, nếu tỷ lệ
NQH cao cho thấy khả năng thu hồi gốc và lãi của ngân hàng kém. Ngân hàng cần
có những biện pháp để thu hồi nợ q hạn.
Tỷ lệ nợ có đảm bảo
Tỷ lệ nợ
Dư nợ có đảm bảo * 100%
có đảm bảo
Tổng dư nợ
Tỷ lệ cho vay có đảm bảo là chỉ tiêu cho biết mức độ an tồn của món vay. Tỷ
lệ này cao cho thấy khả năng tổn thất của ngân hàng thấp, các khoản vay có độ an
tồn cao vì nếu khách hàng khơng hồn trả được nợ thì ngân hàng sẽ có được nguồn
thu nợ thứ hai từ TSĐB, giảm tổn thất cho ngân hàng. Ngược lại nếu tỷ lệ này thấp
thì tiềm ẩn rủi ro mất vốn cho ngân hàng nếu khách hàng khơng hồn trả được nợ.
Tỷ lệ món nợ phải cơ cấu lại thời gian trả nợ
Tỷ lệ món nợ
Số món nợ cơ cấu thời gian trả nợ
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
- Các khoản nợ q hạn từ 91 ngày đến 180 ngày.
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời gian trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều
chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2.
- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng khơng đủ khả năng
trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng.
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
- Các khoản nợ q hạn từ 181 ngày đến 360 ngày.
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu q hạn dưới 90 ngày theo
thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu.
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai.
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
Dương Ngọc Quỳnh Phương – Lớp K40 TCNH
17
Chuyên đề tốt nghiệp
- Các khoản nợ q hạn trên 360 ngày.
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu q hạn từ 90 ngày trở lên
theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu.
- Các khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai q hạn theo thời
hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai.
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị q
hạn hoặc đã q hạn.
- Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý.
Như vậy dựa vào tình hình phân loại nợ mà ta có thể biết được chất lượng của
các khoản vay. Chất lượng cho vay cao khi giá trị nợ nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn)
chiếm tỷ trọng cao trong tổng dư nợ và nhóm nợ xấu có giá trị thấp đặc biệt là nợ có
Chuyên đề tốt nghiệp
Tỷ lệ nợ có khả
Nợ có khả năng mất vốn * 100%
năng mất vốn
Tổng dư nợ
Nếu nợ bị chuyển qua nhóm 5 theo cách phân loại trên thì sẽ gây tổn thất lớn
cho ngân hàng, đây chủ yếu là những món nợ khơng có khả năng thu hồi và sẽ được
xử lý bằng TSĐB và sử dụng dự phòng rủi ro. Nếu tỷ lệ nợ có khả năng mất vốn
cao thì chất lượng cho vay của ngân hàng kém.
Thu nhập từ hoạt động tín dụng
Thu nhập từ hoạt động tín dụng là chỉ tiêu cuối cùng để đánh giá chất lượng
của hoạt động này và đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định hiệu quả kinh
doanh của một NHTM. Thu nhập từ việc cấp tín dụng cho các dự án phải bù đắp
các chi phí hoạt động, các rủi ro xảy ra do các dự án khơng thành cơng mang lại và
đảm bảo lợi nhuận biên, nếu khơng thì buộc ngân hàng sẽ phải tăng lãi suất cho vay.
b, Chỉ tiêu định tính
- Sự tn thủ các quy định chính sách của NHNN và của chính ngân hàng: để
đảm bảo mục tiêu an tồn và hiệu quả thì hoạt động cho vay của ngân hàng phải
tn thủ các quy định chính sách của NHNN và của chính ngân hàng.
- Thời gian khách hàng phải chờ trước khi nhận được quyết định cho vay của
khách hàng: Nếu ngân hàng giải quyết nhanh chóng nhu cầu vay vốn của khách
hàng sẽ đảm bảo cho khách hàng thực hiện hoạt động kinh doanh thuận tiện, uy tín
cũng như sự hài lòng của khách hàng đối với ngân hàng được nâng cao.
- Khả năng thu hút khách hàng mới và giữ chân khách hàng truyền thống.
- Sự đáp ứng u cầu của khách hàng với chất lượng dịch vụ cung cấp cho
riêng đồng thời hạn chế rủi ro gặp phải thì việc đầu tư vào con người là vấn đề cần
được ưu tiên và coi trọng.
Nhân tố kỹ thuật
Trong hoạt dộng tín dụng ngân hàng, bên cạnh yếu tố con người thì vai trò
của yếu tố kỹ thuật đóng vai trò khơng hề nhỏ. Nhờ yếu tố này mà q trình tác
nghiệp được diễn ra nhanh chóng, an tồn và đặt biệt nếu ngân hàng có một nền
tảng kỹ thuật tốt thì đó chính là lợi thế so sánh trong thời buổi cạnh tranh như
hiện nay.
Yếu tố kỹ thuật ở đây bao gồm: Quy trình nghiệp vụ, cơng nghệ áp dụng, cơ
sở vật chất hạ tầng phục vụ cho hoạt đơng tín dụng. Để nâng cao hiệu quả hiệu quả
hoạt động và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của tính chất cơng việc thì bên cạnh
đầu tư dài hạn vào yếu tố con người thì đầu tư vào yếu tố kỹ thuật cũng là một giải
pháp tốt.
Chính sách tín dụng
Dương Ngọc Quỳnh Phương – Lớp K40 TCNH
20
Chuyên đề tốt nghiệp
Đây là kim chỉ nam đảm bảo cho hoạt động tín dụng của Ngân hàng đi đúng
quỹ đạo, có ý nghĩa quyết định tới sự thành cơng hay thất bại của Ngân hàng. Chính
sách tín dụng khơng những phải bảo đảm an tồn và khả năng sinh lời cho hoạt
động của Ngân hàng mà còn phải biết hướng tới khách hàng, đảm bảo tính cơng
bằng, hấp dẫn, khuyến khích được người gửi tiền cũng như người đi vay, đồng thời
phải tn thủ đúng pháp luật, chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước. Một
chính sách tín dụng đúng đắn, hợp lý, biết kết hợp hài hồ giữa lợi ích của khách
hàng, Ngân hàng và lợi ích của đất nước sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao
chất lượng tín dụng của Chính Ngân hàng, của cả hệ thống và hiệu quả của tồn bộ
Thương hiệu, uy tín của ngân hàng
Một khách hàng khi lựa chọn ngân hàng phục vụ mình thì họ sẽ chú ý đến
những ngân hàng có uy tín hàng đầu nhằm đảm bảo sự an tồn cũng như quyền lợi
của mình. Do vậy việc tạo dựng một uy tín tốt là một điều rất quan trọng, đặc biệt là
các ngân hàng hoạt động có liên quan đến yếu tố quốc tế thì khơng những nâng cao
uy tín của mình trong nước mà còn tạo lập một uy tín tốt trên thị trường thế giới.
Uy tín ngân hàng thể hiện qua các mặt như: khả năng thanh tốn, thời gian
thanh tốn, kỹ thuật nghiệp vụ, các sản phẩm dịch vụ phong phú và chất lượng,…
nếu thực hiện tốt những mặt nói trên thì uy tín của ngân hàng ngày càng được nâng
cao và được nhiều khách hàng biết đến đây cũng là một yếu tố tăng khả năng cạnh
tranh trên thị trường.
Mạng lưới ngân hàng đại lý
Lợi ích của việc có một mạng lưới ngân hàng đại lý rộng khắp đó là ngân
hàng có thể thực hiện đầy đủ các nghiệp vụ cho đối tác như đóng vai trò là ngân
hàng thơng báo, ngân hàng thanh tốn, ngân hàng xác nhận,… từ đó mang lại
những nguồn thu lớn cho Ngân hàng. Bên cạnh đó, nếu có một mạng lưới chi nhánh
lớn khơng chỉ gói gọn ở phạm vi trong nước mà còn phát triển ra nước ngồi thì đây
sẽ là một điều kiện rất tốt cho ngân hàng, thể hiện trước hết là khoảng cách giữa
ngân hàng và khách hàng sẽ rút ngắn lại, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng khi
có nhu cầu giao dịch, tiết kiệm một chi phí trung gian lớn đồng thời tín dụng sẽ đến
tay khách hàng nhanh hơn và ngân hàng cũng thuận lợi hơn trong việc điều tra,
giám sát tín dụng; quản lý, thu hồi nợ. Thêm vào đó, việc xây dựng một mối quan
hệ đại lý tốt, có thể dẫn đến việc ngân hàng được các Ngân hàng bạn cung cấp các
hạn mức tín dụng. Nhờ hạn mức tín dụng này mà ngân hàn khơng bị ứ đọng vốn ký
quỹ. Ngồi ra một mạng lưới đại lý rộng giúp ngân hàng quảng bá tốt hình ảnh của
mình trong nước cũng như quốc tế. Khi có một mạng lưới các ngân hàng đại lý
mạnh cả về uy tín và tài chính, thì sẽ giúp hạn chế việc xảy ra rủi ro ngân hàng đại
lý tức là hạn chế được khả năng Ngân hàng đại lý mất khả năng thanh tốn gây ảnh
Dương Ngọc Quỳnh Phương – Lớp K40 TCNH
lượng tín dụng giảm sút.
Đạo đức kinh doanh
Trong khi cho khách hàng vay, nếu khách hàng trung thực, sử dụng vốn
vay đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng thì với những khoản vay đã được
Ngân hàng thẩm định kỹ càng về tính khả thi trước khi cho vay thì xác suất xảy
Dương Ngọc Quỳnh Phương – Lớp K40 TCNH
23
Chuyên đề tốt nghiệp
ra rủi ro đối với ngân hàng sẽ được hạn chế. Do vậy, việc thẩm định, phân tích
đạo đức kinh doanh của khách hàng vay sẽ góp phần nâng cao chất lượng tín
dụng trung và dài hạn của NHTM.
Tính khả thi của phương án sản xuất kinh doanh
Đối tượng cần thẩm định khi cho vay phương án sản xuất kinh doanh hay dự
án đầu tư là tính khả thi về mặt tài chính vì dựa vào đây ngân hàng có thể phân tích
và đánh giá khả năng trả nợ và lãi của khách hàng. Nhưng thực tế cho thấy rằng rất
ít khách hàng có thể am hiểu và lập được dự án một cách bài bản và khoa học theo
u cầu của ngân hàng. Điều này một mặt do trình độ chun mơn hạn chế, một mặt
do khách hàng nhận thức chưa đúng ý nghĩa và tầm quan trọng của việc lập, phân
tích và đánh giá sự khả thi của một dự án. Nhiều khi khách hàng có tâm lý việc lập
dự án là khơng cần thiết, ngân hàng cứ cho vay miễn sao khách hàng trả được nợ,
nếu khơng trả được thì ngân hàng phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi. Dự án chỉ
làm cho thủ tục trở nên rắc rối và phiền tối.
Thật ra đây khơng đơn thuần là thủ tục bắt buộc khách hàng phải lập khi vay
vốn mà nó còn là căn cứ để ngân hàng đánh giá tính khả thi về tài chính của dự án.
Điều này nhằm trước tiên là bảo vệ lợi ích của khách hàng, sau đó mới nhằm mục
đích đảm bảo khả năng thu hồi vốn của ngân hàng. Thực tế cho thấy nhiều khách
Mơi trường chính trị xã hội ổn định là một điều kiện vơ cùng quan trọng
trong việc tạo lòng tin đối với các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư dài hạn cho
hoạt động sản xuất kinh doanh. Một mơi trường chính trị - xã hội ổn định sẽ là cơ
sở rất tốt cho hoạt động tín dụng trung và dài của Ngân hàng, vì chỉ khi có nhu cầu
đầu tư dài hạn, trong nền kinh tế mới xuất hiện nhu cầu vay vốn trung và dài hạn
Ngân hàng. Hơn nữa, sự mất ổn định về chính trị - xã hội sẽ ảnh hưởng khơng tốt
đến hoạt động của các doanh nghiệp và nếu doanh nghiệp này đang vay vốn Ngân
hàng thì rõ ràng việc thu hồi nợ của Ngân hàng sẽ gặp nhiều khó khăn, chất lượng
tín dụng trung và dài hạn do đó cũng bị ảnh hưởng.
Mơi trường kinh tế
Khi nền kinh tế đang trong giai đoạn suy thối, sức mua giảm, sản xuất đình
trệ dẫn đến doanh nghiệp sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn, ln chuyển vốn
chậm, nhu cầu vốn khơng cao… gây trở ngại trong việc hồn trả vốn vay cho Ngân
hàng. Nhưng ngược lại, khi mơi trường kinh tế ổn định, đang trong giai đoạn hưng
thịnh sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp, khả năng vay và hồn trả vốn vay cho Ngân hàng sẽ khơng chịu tác động
xấu. Từ những phân tích trên, ta nhận thấy: Nâng cao chất lượng tín dụng của
NHTM là để mở rộng tín dụng có hiệu quả hơn, tiết kiệm chi phí cho Ngân hàng, để
tăng thu nhập và giảm tổn thất cho Ngân hàng…từ đó tạo đà cho mọi hoạt động
Dương Ngọc Quỳnh Phương – Lớp K40 TCNH
25