LỜI MỞ ĐẦU
Trong lịch sử loài người, nhà nước ra đời trong cuộc đấu tranh của xã hội có giai cấp,
nó là sản phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp, nhà nước xuất hiện với tư cách là cơ quan có
quyền lực công cộng đế thực hiện các chức năng đế thực hiện chức năng và nhiệm vụ về
nhiều mặt như quản lý hành chính, chức năng kinh tế, chức năng trấn áp và các nhiệm vụ
xã hội. Để thực hiện được chức năng và nhiệm vụ của mình nhà nước cần phải có nguồn
lực tài chính đó là cơ sở vật chất cho nhà nước tồn tại và hoạt động. Và do đó, ngân sách
nhà nước ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của nhà nước cũng như sự xuất
hiện của nền sản xuất hàng hóa. Ngân sách nhà nước đã trở thành một công cụ quan trọng
nhất được nhà nước sử dụng để khắc phục những khuyết tật của nền kinh tế thị trường,
huy động nguồn tài chính, điều tiết vĩ mô nền kinh tế cũng như điều tiết thu nhập nhằm
đảm bảo công bằng xã hội. Những việc đó được thực hiện thông qua hoạt động thu, chi
của ngân sách nhà nước. Thu để định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất
kinh doanh... Chi để nâng cao chất lượng y tế, giáo dục, nâng cao đời sống nhân dân...
Tuy nhiên, trong điều kiện ngân sách nhà nước còn eo hẹp, thì việc thu, chi ngân sách thế
nào cho hiệu quả, tiết kiệm, tránh được tình trạng thất thoát, hạn chế thâm hụt ngân sách
luôn là bài toán khó đặt ra cho nước ta.
Với mục đích đi tìm hiểu về tình hình thực hiện nhiệm vụ thu và chi ngân sách nhà
nước ta hiện nay, em đã chọn đề tài: “Nâng cao chất lượng công tác quản lý thu, chi
ngân sách nhà nước” làm đề tài. Ngoài lời mở đầu và danh mục tài liệu tham khảo, bài
đề án kết cấu gồm hai phần:
Phần một: Những vấn đề cơ bản về thu, chi ngân sách nhà nước
Phần hai: Thực trạng thi, chi ngân sách nhà nước Việt Nam
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THU CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1.
1.1.1.
Ngân sách nhà nước
Khái niệm
Thu chi ngân sách nhà nước hoàn toàn không giống như bất kỳ một hình thức thu
chi nào khác. Ở đây thu chi của nhà nước luôn được thực hiện bằng luật pháp do luật
định “về thu có các luật thuế và các văn bản khác về chi có các tiêu chuẩn luật định”.
Trên cơ sở đó nhằm đạt mục tiêu cân đối giữa thu và chi ngân sách nhà nước.
Mặt khác Ngân sách nhà nước còn phản ánh các quan hệ kinh tế giữa một bên là
nhà nước một bên là các chủ thể trong xã hội, phát sinh khi nhà nước tham gia phân
phối các nguồn tài chính theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu. Những
khoản thu nộp và cấp phát qua quỹ Ngân sách nhà nước là các quan hệ được xác định
trước, được định lượng và nhà nước sử dụng chúng đế điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế.
1.1.2.
Đặc điếm của ngân sách nhà nước
Trong hệ thống tài chính quốc gia cũng như trong khu vực tài chính nhà nước nói
riêng, Ngân sách nhà nước đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo nguồn tài chính cho
sự tồn tại cũng như hoạt động của nhà nước. Ngân sách nhà nước bao gồm quan hệ tài
chính nhất định trong tổng thể các quan hệ tài chính quốc gia, gồm các quan hệ sau:
- Quan hệ tài chính nhà nước với dân sự
- Quan hệ tài chính nhà nước với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế
- Quan hệ tài chính nhà nước với các tố chức xã hội
Các quan hệ trên mang bốn đặc điểm sau:
Thứ nhất: Tạo lập và sử dụng Ngân sách nhà nước gắn liền quyền lực với việc
thực hiện các chức năng của NN, đây cũng chính là diêm khác biệt giừa Ngân sách nhà
nước với các khoản tài chính khác. Các khoản thu Ngân sách nhà nước đều mang tính
chất pháp lý, còn chi Ngân sách nhà nước mang tính cấp phát “không hoàn trả trực tiếp”.
Do nhu cầu chi tiêu của mình để thực hiện nhiệm vụ kinh tế- xã hội nhà nước đã sử dụng
đế quy định hệ thống pháp luật tài chính, buộc mọi pháp nhân và thế nhân phải nộp một
phần thu nhập của mình cho nhà nước với tư cách là một chủ thể.
tiêu của chính phủ, Nhà nước sẽ tạo một cơ cấu kinh tế mới, phù hợp với tình hình phát
triến của đất nước, kích thích sự phát triến sản xuất kinh daonh và chống độc quyền.
Giải quyết các vấn để xã hội (vai trò điều tiết trong lĩnh vục xã hội):
Trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, sự tồn tại và hoạt động có hiệu quả của bộ
máy Nhà nước, lực lượng quân đội, công an, sự phát triển của các hoạt động xã hội, văn
hóa có ý nghĩa quyết định . Việc thực hiện các nhiệm vụ này về cơ bản thuộc về nhà nước
và không vì mục tiêu lợi nhuận. Việc sử dụng nhũng dịch vụ kể trên được phân chia giữa
những người tiêu dùng, nhũng nguồn tài trợ đế thực hiện các nhiệm vụ đó lại được cấp
phát từ ngân sách nhà nước. Như vậy, trong việc thự hiện các nhiệm vụ có tính chất
chung toàn xã hội, ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng hàng đầu. Bên cạnh đó, hàng
năm, chính phủ vẫn có sự chú ý đặc biệt cho tầng lớp dân cư có thu nhập thấp. Chúng ta
có thể thấy điều đó thông qua các loại trợ giúp trục tiếp được dành cho nhừng người có
thu nhập thấp hoặc có hoàn cảnh đặc biệt như chi trợ cấp giá cho các mặt hàng thiết yếu,
các khoản chi phí để thực hiện chính sách dân số, chính sách việc làm, các chương trình
quốc gia lớn về chống xóa mù chữ,...
Bên cạnh các khoản chi ngân sách nhà nước cho việc thực hiện các vấn đề xã hội,
thuế cũng được sử dụng để thực hiện vai trò tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng
xã hội. Việc kết hợp giữa thuế trược thu và gián thu một mặt vừa tăng cường các khoản
thu cho ngân sách nhà nước, mặt khác vừa nhằm điều tiế thu nhập của tầng lớp có thu
nhập cao, điều tiết tiêu dùng, bảo đảm thu nhập hợp lý của tầng lớp lao động.
Góp phần ổn định thị trường giá cả, chống lạm phát (điều chỉnh trong lĩnh vực thị
trường)
Trong điều kiện kinh tế thị trường, giá cả phụ thuộc chủ yếu vào quan hệ cung cầu
hàng hóa trên thị trường. Do đó, để ổn định giá cả, chính phủ có thể tác động vào cung
hoặc cầu hàng hóa trên thị trường. Sự tác động này không chỉ được thực hiện thông qua
thuế mà còn được thực hiện thông qua chính sách chi tiêu của ngân sách nhà nước. Bằng
nguồn vốn cấp phát của chi tiêu ngân sách nhà nước hàng năm, các quỹ dự trữ nhà nước
vầ hàng hóa và tài chính được hình thành. Chính phủ có thế sử dụng ngân sách nhà nước
thước đo hiệu quả).
1.2.1.3.
Phân loại ngân sách nhà nước
Tùy theo nhu cầu của việc phân tích đánh giá, phục vụ sản cho công tác quản lý cũng
như cho việc điều chỉnh các chính sách động viên, người ta có thể phân loại nội dung thu
ngân sách nhà nước theo nhiều tiêu thức khác nhau:
Xét theo nguồn hình thành các khoản thu:
Nhóm nguồn thu từ hoạt động sản xuất- kinh doanh trong nước: là các nguồn tài chính
có khả năng tạo lập nên quỹ ngân sách nhà nước do kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh trong nước mang lại.
Nhóm nguồn thu ngoài nước: bao gồm các khoản thu về vay nợ và viện trợ của nước
ngoài. Đặc điếm của nguồn thu này là gắn chặt với tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và
ngoại giao cảu đất nước. Nguồn thu này thường không ốn định và có tính chất bù đắp một
phần trong quá trình cân đối ngân sách nhà nước.
Xét theo tác dụng của các khoản thu với quá trình cân đổi ngân sách nhà nước:
Thu trong cân đối ngân sách nhà nước: gồm các khoản thu chủ yếu sau: thuế, phỉ và lệ
phí; thu về bán và cho thuê các tài sản thuộc sở hữu của nhà nước; thu lợi tức cố phần của
nhà nước; các khoản thu khác theo luật định. Trong các khoản thu trên, thuế là khoản thu
quan trọng nhất. Thuế không chỉ chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng số thu ngân sách nhà
nước hàng năm mà còn là công cụ của nhà nước quản lý vĩ mô nền kinh tế.
Thu đế bù đắp sự thiếu hụt của ngân sách nhà nuớc: Bao gồm các khoản vay trong và
ngoài nước cho chi tiêu ngân sách nhà nước khi các khoản chi ngân sách nhà nước vượt
quá các khoản thu trong cân đối của ngân sách nhà nước.
1.2.1.4.
Nhãn tổ ảnh hưởng tói thu ngân sách nhà nước
Với sự phân loại trên, thu Ngân sách nhà nước phụ thuộc vào các yếu tố sau:
1.2.2.
1.2.2.1.
Chỉ ngân sách nhà nưóc
Khái niệm chi ngân sách nhti nước
Chi ngân sách nhà nước là một bộ phận trong cơ cấu Ngân sách nhà nước. Theo từ
điến giải thích thuật ngữ luật học thì chi Ngân sách nhà nước là hoạt động của cơ quan
nhà nước có thấm quyền phân phối và sử dụng quỹ Ngân sách nhà nước. Mục đích của
chi Ngân sách nhà nước là thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Chi ngân sách
nhà nước là nội dung của chấp hành ngân sách nhà nước nên thuộc trách nhiệm và quyền
hạn của hệ thống cơ quan chấp hành và hành chính các cấp. Căn cứ để thực hiện chi ngân
sách nhà nước là dự toán ngân sách hàng năm, quy định của luật pháp về định mức, tiêu
chuân chi ngân sách. Neu hoạt động thu ngân sách nhà nước là nhằm thu hút các nguồn
vốn tiền tệ đế hình thành nên quỹ ngân sách nhà nước thì chi ngân sách nhà nước là chu
trình phân phối, sử dụng các nguồn vốn tiền tệ đã được tập trung vào quỹ tiền tệ đó. Do
hoạt động thu ngân sách nhà nước vừa là tiền tệ, vừa là cơ sở thực hiện hoạt động cho
ngân sách nhà nước nên phạm vi và quy mô của hoạt động chi ngân sách nhà nước phụ
thuộc một phần vào kết quả hoạt động thu ngân sách nhà nước.
Luật ngân sách nhà nước 2002 đưa ra khái niệm chi ngân sách nhà nước nhưngở
dạng liệt kê, tại Khoản 2 Điều 2. Theo đó, chi ngân sách nhà nước bao gồm các khoản chi
phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy
nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của
pháp luật.
Như vậy, ta có thế hiếu chi ngân sách nhà nước là phân phối và sử dụng quỹ ngân
sách nhà nước theo dự toán ngân sách đã được chủ thể quyền lực quyết định nhằm duy trì
sự hoạt động của bộ máy nhà nước và bảo đảm thực hiện các chức năng của Nhà nước.
Chi ngân sách nhà nước là một nội dụng quan trọng co cấu nên đạo luật thường niên ngân
sách nhà nước.
1.2.2.2.
vụ của mình. Chi ngân sách nhà nước luôn gắn kết với bộ máy nhà nước. Nhà nước thông
qua hoạt động chi ngân sách đảm bảo hoạt động của mình trên các lĩnh vực kinh tế, xã
hội, an ninh và quốc phòng. Ngoài ra, thông qua việc thể chế hóa bằng pháp luật đối với
hoạt động chi ngân sách, Nhà nước còn hướng dẫn nhừng mục tiêu khác, trong đó, bao
gồm mục tiêu quản lý hiệu quả việc sử dụng công quỹ và tăng cường kỷ luật ngân sách,
đồng thời tạo cơ sở quản lý cho việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về ngân sách
nói chung và pháp luật về chi ngân sách nói riêng, góp phần hạn chế tình trạng tham
nhũng, lãng phí tài sản nhà nước.
1.2.2.3.
Phân loại chi ngân sách nhà nước
Tùy theo yêu cầu của việc phân tích, đánh giá và quản lý ngân sách nhà nước trong
từng thời kỳ, người ta có thể phân chi các khoản chi ngân sách nhà nước theo các tiêu
thức khác nhau. Theo tính chất kinh tế, chi ngân sách nhà nước được chia ra các nội
dung:
Chỉ thường xuyên: là nhũng khoản chi không có trong khu vực đầu tu- và có tính chất
thường xuyên đế tài trợ cho hoạt động của các cơ quan Nhà nước nhằm duy trì đời sống
quốc gia. về nguyên tắc, các khoản chi này thường được tài trợ bằng các khoản thu
không mang tính hoàn trả của ngân sách nhà nước. Chi thường xuyên gồm có: Chi về chủ
quyền quốc gia, Chi phí liên quan đến sự điều hành và duy trì hoạt động của các cơ quan
Nhà nước đê thực hiện những nhiệm vụ được giao phó, Chi phí do sự can thiệp của nhà
nước vào các hoạt động knh doanh, văn hóa, xã hội đế cải thiện đời sống nhân dân.
Chi cho đầu tư phát trien: là tất cả các khoản chi phí làm tăng thêm tài sản quốc gia.
Phát triển kinh tế là nhiệm vụ hàng đầu của tất cả các nhà nước hiện đại, để đạt sự phát
trien, chính phủ hoạch định chiến lược đúng đắn, phù hợp vốn đầu tư của nhà nước cho
nên các nhóm chi đó có thể chi cho từng đơn vị cá nhân hay DN Nhà nước đế xây
dựng nhà xưởng, cơ sở hạ tầng.. ..Đe đạt được điều đó NSNN cần phải đổi chiếu sao cho
Hiệu quả chi của bộ máy chi Ngân sách nhà nước: Cũng giống như thu ngân sách nhà
nước, bộ máy chi ngân sách nhà nước đạt hiệu quả tốt sẽ tránh được tình trạng lãng phí,
tham ô trong quá trình chi tiêu thì sẽ tiết kiệm được cho quốc gia một khoản chi lớn, số
chi vô ích sẽ giảm đi đáng kể.
II. THỰC TRẠNG THU CHI NGẦN SÁCH NHÀ NƯỚC VIỆT NAM NHŨNG
NĂM GẦN ĐẦY
2.1. Tình hình thực hiện thu, chi ngân sách nhà nưóc năm 2009
Năm 2009 là năm có nhiều khó khăn, thách thức lớn đối với nền kinh tế nước ta.
Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã tác động trực tiếp đến kinh tế
trong nước, làm cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và xuất khấu giảm sút, ảnh hưởng
đến việc làm và đời sống nhân dân. Trong bối cảnh đó, Chính phủ đã đề ra những giải
pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, bảo đảm
an sinh xã hội. Cùng với sự nỗ lực của các ngành, các cấp, cộng đồng doanh nghiệp
và toàn thế nhân dân; các chính sách và giải pháp kích thích kinh tế đề ra đã được
thực hiện khẩn trương, đồng bộ và phát huy hiệu quả, giúp thực hiện thành công mục
tiêu ngăn chặn suy giảm kinh tế. Từ quý 11/2009, tình hình kinh tế đã có chuyến biến
tích cực, tăng trưởng quý sau cao hơn quỷ trước, nâng mức tăng trưởng GDP cả năm
đạt 5,32%, góp phần duy trì ốn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội.
Cùng với sự khởi sắc của tình hình sản xuất, kinh doanh và xuất nhập khâu, nhiệm vụ
thu, chi Ngân sách nhà nước năm 2009 đạt kết quả khả quan.
2.1.1.
Tình hình thu ngân sách nhà nưóc 2009
Thu Ngân sách nhà nước năm 2009 ước đạt 442.340 tỷ đồng, vượt 13,4% so với dự
toán; mức động viên thuế và phí đạt 23%GDP. Cụ thể:
Thu nội địa. Ước thực hiện đạt 269.656 tỷ đồng, vượt 15,7% so với dự toán, riêng thu
tiền sử dụng đất đạt 36.274 tỷ đồng. Không kế thu tiền sử dụng đất, thu nội địa đạt
233.382 tỷ đồng, vượt 10,1% so với dự toán.
Thu ngân sách từ dầu thô: Ước đạt 60.500 tỷ đồng, bằng 95% so với dự toán, trên co
Cụ thể: Kim ngạch xuất, nhập khấu quý IV/2009 tăng mạnh, với tổng giá trị đạt gần 37 tỷ
USD, bàng 30,7% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả năm và tăng gần 23,1% so với tổng
kim ngạch nhập khẩu bình quân 3 quý đầu năm. Bên cạnh đó, công tác đấu tranh chống
buôn lậu, gian lận thương mại đã được thực hiện quyết liệt, góp phần tăng thu cho Ngân
sách nhà nước.
2.1.2.
Tình hình chi ngân sách nhà nước 2009
Chi Ngân sách nhà nước năm 2009 ước thực hiện 584.695 tỷ đồng, tăng 19,0% so với
dự toán đầu năm.
Trong tố chức thực hiện, đế hạn chế tác động không thuận của cuộc khủng hoảng tài
chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đối với nền kinh tế, tại kỳ họp thứ 5 của Quốc hội
(tháng 5/2009), Chính phủ đã báo cáo Quốc hội nguyên tắc điều hành Ngân sách nhà
nước năm 2009 là không thực hiện cắt giảm tổng mức chi Ngân sách nhà nước, nhưng có
yêu cầu sắp xếp điều chỉnh các nhiệm vụ chi, đảm bảo hiệu quả, tiết kiệm, giảm những
khoản chi chưa thực sự cấp thiết; đồng thời sử dụng gói kích thích kinh tế nhằm mục tiêu
ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng hợp lý và bảo đảm an sinh xã hội. Trên
cơ sở kết quả thực hiện thu, đánh giá kết quả thực hiện chi Ngân sách nhà nước theo từng
lĩnh vực như sau:
Chi đầu tư phát triển: ước đạt 179.961 tỷ đồng, tăng 59,5% so dự toán do được bố
sung nguồn từ gói kích thích kinh tế, nguồn dự phòng Ngân sách nhà nước, nguồn được
sử dụng theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn.
Trong quá trình thực hiện, quy trình kiếm soát, thanh toán vốn đầu tư đã được sửa đối
từ thấm tra trước sang kiếm tra sau đế tạo điều kiện cho các chủ đầu tư đấy nhanh tiến độ
giải ngân vốn... Bên cạnh đó, qua chính sách kích cầu đầu tư, nhất là giải pháp hỗ trợ lãi
suất vay vốn tín dụng ngân hàng, đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp xây dựng đảm
bảo được vốn trong quá trình thực hiện các dự án, do đó việc triển khai các dự án nhìn
Cân đối ngân sách nhà nước:
Dự toán bội chi NSNN năm 2009 là 4,82% GDP. Bước vào năm 2009, căn cứ tình
hình kinh tế thế giới và trong nước đang gặp rất nhiều khó khăn do khủng hoảng kinh tế
toàn cầu lan rộng, diễn biến phức tạp, khó lường và theo chiều hướng xấu, nguồn thu
NSNN gặp khó khăn, yêu cầu tăng chi là rất lớn đế thực hiện các giải pháp kích thích
kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội, do vậy Chính phủ đã báo cáo và được Quốc hội chấp
thuận tăng mức bội chi không quá 7%GDP.
Ket quả thực hiện bội chi NSNN năm 2009 ở mức 6,9% GDP, trong phạm vi Quốc
hội cho phép, được sử dụng toàn bộ cho đầu tư phát triến theo đúng quy định của Luật
Ngân sách nhà nước, tập trung cho các công trình, dự án kích thích kinh tế thực hiện
trong năm 2009.
2.2. Tình hình thực hiện thu chi năm 2010
2.2.1.
Tình hình thu ngân sách nhà nưóc 2010
Dự toán thu cân đối ngân sách nhà nước là 461.500 tỷ đồng, kết quả thực hiện đạt
559.170 tỷ đồng, vượt 21,2% so với dự toán. Cụ thể như sau:
Thu nội địa từ hoạt động sản xuất - kinh doanh (không kế thu tiền sử dụng đất):Dự
toán thu 271.700 tỷ đồng, kết quả thực hiện đạt 312.709 tỷ đồng, vuợt 15,1% so với dự
toán, tăng 34% so với thực hiện năm 2009.
Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, từ ngày 01/01/2010, Chính phủ đã dừng thực
hiện các chính sách miễn, giảm thuế và dừng hỗ trợ lãi suất cho vay vốn lưu động ngắn
hạn; thực hiện giãn thời hạn nộp thuế một quý đối với số thuế thu nhập doanh nghiệp của
các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp sản xuất, gia công dệt may, da, giầy... Chính
phủ cũng đã chỉ đạo các ngành, các cấp tăng cường công tác quản lý thu thuế ngay từ đầu
trưởng kinh tế, giải quyết việc làm cho người lao động, thực hiện xoá đói giảm nghèo,
bảo đảm an sinh xã hội.
Thu tiền sử dụng đất'. Trong năm 2010, hoạt động của thị trường bất động sản cả
nước nói chung và tại một số đô thị lớn nói riêng về cơ bản diễn biến khá sôi động, đồng
thời các địa phương đã quan tâm đến công tác quy hoạch, giao đất, cho thuê đất trên địa
bàn sát với giá thị trường; đấy nhanh công tác đấu giá quyền sử dụng đất... Bên cạnh đó,
để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về nhà ở của người dân, nhiều dự án đầu tư mới về bất
động sản cũng đã được trien khai thực hiện. Nhờ vậy, số thu cả năm đạt 41.691 tỷ đồng,
vượt 81,3% so với dự toán.
Thu từ dầu thô: Dự toán thu là 66.300 tỷ đồng, trên cơ sở dự kiến sản lượng thanh
toán là 14,41 triệu tấn, giá bán 68 USD/thùng. Ket quả thực hiện đạt 69.170 tỷ đồng,
chiếm 12,4% tổng thu ngân sách nhà nước, vượt 4,3% so dự toán, tăng 14,3% so với thực
hiện năm 2009, trên cơ sở sản lượng thanh toán đạt xấp xỉ 13,8 triệu tấn và giá dầu thanh
toán cả năm đạt khoảng 79,7 USD/thùng, tăng 11,7 USD/thùng so với giá tính dự toán.
Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khấu: Dự toán thu 95.500 tỷ đồng,
trong đó thu từ hoạt động xuất nhập khấu là 131.500 tỷ đồng, hoàn thuế giá trị gia tăng
hàng nhập khâu là 36.000 tỷ đồng, tương ứng với kim ngạch xuất khâu dự kiến tăng trên
6% và kim ngạch nhập khấu dự kiến tăng 9%.
Năm 2010, nhiều cơ chế về quản lý xuất nhập khẩu đã được sửa đổi, bố sung theo
hướng đây mạnh xuất khâu, kiếm soát nhập khâu, trước hết là đối với các mặt hàng trong
nước sản xuất đuợc hoặc không khuyến khích nhập khấu để hạn chế nhập siêu, như: bãi
bỏ quy định phân loại, áp dụng mức thuế đối với hàng hóa xuất khấu, nhập khấu theo
máy chính đế khuyến khích doanh nghiệp sử dụng các thiết bị, máy móc trong nước đã
sản xuất được; ban hành khung thuế nhập khấu ưu đãi mặt hàng xăng dầu tương ứng với
giá xăng dầu trên thị trường thế giới để các doanh nghiệp chủ động trong tố chức sản xuất
- kinh doanh; rà soát, điều chỉnh tăng thuế nhập khẩu các mặt hàng không thiết yếu, hàng
tiêu dùng không khuyến khích nhập khấu, trên cơ sở đó ban hành danh mục các mặt hàng
này đế làm cơ sở giám sát và thực hiện các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp
Thực hiện các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã tập trung chỉ đạo điều
hành ngân sách nhà nước năm 2010 theo nguyên tắc: đảm bảo cân đối đủ nguồn đế thực
hiện các nhiệm vụ chi theo dự toán được duyệt; chủ động sử dụng nguồn dự phòng và
vượt thu ngân sách địa phương đế thực hiện các nhiệm vụ phòng chống, khắc phục hậu
quả thiên tai và dịch bệnh, bố sung tăng ngân sách phát trien sự nghiệp giáo dục, y tế, văn
hoá thông tin, phát thanh truyền hình và các nhiệm vụ quan trọng, cấp bách khác; tăng
chi trả nợ do biến động chênh lệch tỷ giá ngoại tệ và hoàn trả một phần các khoản vay
ngắn hạn đến hạn thanh toán, thu hồi vốn đầu tư XDCB đã tạm ứng và chuyển nguồn
sang năm 2011... Đồng thời, sử dụng một phần số tăng thu đế giảm bội chi NSNN.
Căn cứ vào dự toán chi ngân sách nhà nước năm 2010 (582.200 tỷ đồng), kết hợp với
dự kiến sử dụng nguồn vượt thu ngân sách nhà nước năm 2010, đánh giá tống chi ngân
sách nhà nước năm 2010 đạt 671.370 tỷ đồng, tăng 15,3% so với dự toán, tăng 14,8% so
với thực hiện năm 2009. Ket quả cụ thế tại một số lĩnh vục chi chủ yếu như sau:
Chì đầu tưphát triển: Dự toán chi 125.500 tỷ đồng, kết quả thực hiện (bao gồm cả
vốn dự kiến bố sung từ nguồn vượt thu NSNN năm 2010) đạt 172.710 tỷ đồng, tăng
37,6% so với dự toán, bằng 96% mức thực hiện năm 2009, chiếm 25,7% tống chi ngân
sách nhà nước và bằng 8,7% GDP. số vượt chi so với dự toán được sử dụng từ nguồn dự
phòng ngân sách nhà nước đã bố trí đầu năm và một phần nguồn vượt thu ngân sách nhà
nước so với dự toán năm 2010 (chủ yếu là nguồn vượt thu tiền sử dụng đất so với dự toán
của các địa phưong theo chế độ quy định); được tập trung sử dụng cho các dự án quan
trọng, cấp bách có khả năng hoàn thành đưa vào sử dụng trong năm 2010-2011, các dự
án đầu tư nâng cấp công trình sạt lở đê kè cấp bách và giảm nhẹ tác hại thiên tai, bố sung
tăng dự trữ quốc gia để bảo đảm an ninh lương thực và một số mặt hàng dự trữ quốc gia
khác...
Trong tổ chức triển khai thực hiện, các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương đã đảm
bảo hoàn thành công tác phân bố kế hoạch vốn năm 2010 theo yêu cầu đề ra; đôn đốc các
chủ đầu tư đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án và tuân thủ quy trình kiểm soát, thanh
toán vốn đầu tư... Bên cạnh nguồn vốn đầu tư bố trí cân đối ngân sách nhà nước, thực
Dự toán bội chi ngân sách nhà nước năm 2010 là 119.700 tỷ đồng, bằng 6,2% GDP.
Với kết quả thu, chi như trên, đã sử dụng 8.500 tỷ đồng từ số tăng thu NSTW đế giảm bội
chi NSNN, đưa số bội chi ngân sách nhà nước năm 2010 còn 111.200 tỷ đồng (5,6%
GDP), giám 0,6% GDP so với dự toán.
2.3.
Tình hình thực hiện thu chi năm 2011
2.3.1. Tình hình thu ngân sách nhà nước 2011
Dự toán thu cân đối NSNN năm 2011 là 595.000 tỷ đồng; ước cả năm đạt 674.500 tỷ
đồng, vượt 13,4% so với dự toán, tăng 20,6% so với thực hiện năm 2010, tỷ lệ động viên
từ thuế và phí đạt 20,3%GDP.
Ket quả thực hiện ở một số lĩnh vực thu cụ thế như sau:
Thu nội địa: Dự toán thu 382.000 tỷ đồng, ước cả năm đạt 425.000 tỷ đồng, vượt
11,3% so dự toán, tăng 19,9% so thực hiện năm 2010; không kể thu tiền sử dụng đất (ước
đạt 43.500 tỷ đồng, tăng 13.500 tỷ đồng so dự toán) thì vượt 8,4% so dự toán, tăng 22%
so thực hiện năm 2010.
Các lĩnh vực thu lớn ước đạt và vượt dự toán, trong đó: thu từ kinh tế quốc doanh
vượt 0,8% dự toán; thu thuế công thương nghiệp ngoài quốc doanh vượt 10,6% dự toán;
thu từ khu vực doanh nghiệp đầu tư nước ngoài vượt 11,3% dự toán; thuế thu nhập cá
nhân vượt 28,6% dự toán... Các địa phương cơ bản thu đạt và vượt dự toán giao.
Trong bối cảnh kinh tế phát triến không thuận lợi, có được kết quả nêu trên là nhờ vào
nỗ lực lớn của các Bộ, ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp trong triến khai thực
hiện các Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ về nhừng giải pháp chủ yếu để kiềm chế
lạm phát, ốn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội. Bên cạnh đó, có tác động của
một số yếu tố sau: (1) đà phát triển tốt của nền kinh tế trong những tháng cuối năm 2010,
tạo nguồn thu gối đầu cho NSNN năm 2011 đạt khá; (2) giá cả hàng hoá và dịch vụ tiêu
dùng tăng, nhất là giá một số mặt hàng nông, lâm thuỷ sản tăng lớn, cùng với việc thay
dự toán tổng thu từ hoạt động xuất nhập khẩu là 180.700 tỷ đồng, dự toán chi hoàn thuế
giá trị gia tăng theo chế độ là 42.000 tỷ đồng.
Trên cơ sở dự kiến kim ngạch xuất khấu năm 2011, ước tống thu từ hoạt động xuất
nhập khấu cả năm đạt 205.000 tỷ đồng, vượt 13,4% so dự toán, sau khi trừ ước chi hoàn
thuế giá trị gia tăng 61.000 tỷ đồng, dự kiến thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập
khẩu năm 2011 đạt 144.000 tỷ đồng, tăng 3,8% so dự toán.
Số thu ngân sách từ hoạt động xuất nhập khấu đạt khá chủ yếu do trị giá hàng hoá
nhập khâu các mặt hàng chịu thuế tăng lớn so với kế hoạch do giá thế giới tăng và điều
chỉnh tỷ giá. Bên cạnh đó, nhiều chính sách thu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu cũng đã
được thực hiện nhằm ốn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế nhập siêu, như: tăng thuế suất thuế
nhập khâu ưu đãi đối với 6 mặt hàng không khuyến khích nhập khâu (thuốc lá thuần nhất
hoặc hoàn nguyên, thuốc lá bột đế hít, bồn tắm bằng sắt hoặc thép...), chỉ cho phép nhập
khấu các mặt hàng rượu, mỹ phấm, điện thoại di động qua 3 cảng biến quốc tế là Hải
Phòng, Đà Nang và thành phố Hồ Chí Minh nhằm bảo vệ quyền lợi và sức khỏe người
tiêu dùng, chống nhập khâu hàng giả, hàng kém chất lượng và tăng cường chống gian lận
thương mại; tăng thuế suất thuế xuất khẩu quặng sắt và tinh quặng sắt, gỗ và các sản
phâm từ gỗ... đế hạn chế xuất khấu tài nguyên thô... Ngành Hải quan tiếp tục đây mạnh
thực hiện rà soát, sửa đổi, bố sung, cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực thu thuế
xuất nhập khấu, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, tăng cường các biện pháp chống buôn
lậu, gian lận thưong mại. Qua đó, góp phần tăng thu cho NSNN.
Thu viện trợ: Dự toán 5.000 tỷ đồng, ước cả năm đạt 5.500 tỷ đồng, vượt 10% so dự
toán.
2.3.2. Tình hình chi ngân sách nhà nưóc 2011
Trong quá trình tổ chức thực hiện chi NSNN, các Bộ, co quan trung ương và địa
phương cũng đã nghiêm túc chấp hành kiếm soát chặt chẽ đầu tư công và tiết kiệm chi
tiêu thường xuyên, tăng cường kiểm soát chi để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân
sách; đã thực hiện rà soát, sắp xếp lại đế điều chuyến khoảng 9.452 tỷ đồng vốn đầu tư từ
NSNN, trái phiếu Chính phủ và xo số kiến thiết đế tập trung vốn đây nhanh tiến độ các