nghiên cứu về giải quyết tranh chấp trên thị trường chứng khoán - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
-----š›&š›-----

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NIÊN KHÓA: 2008 - 2012
TÊN ĐỀ TÀI:

NGHIÊN CỨU VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

Giảng viên hướng dẫn:
TS. Lê Thị Nguyệt Châu
Bộ môn: Kinh doanh – Thương mại

Cần Thơ, 04/2012

Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Anh Phương
MSSV: 5086067


LỜI CẢM ƠN
š›&š›
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt ngiệp, người viết đã
nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của quý thầy cô trường Đại học Cần
Thơ.
Đầu tiên, người viết xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến cha, mẹ đã có công sinh
thành, dưỡng dục để người viết có được ngày hôm nay!
Người viết xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Tiến sĩ Lê Thị Nguyệt Châu đã
dành nhiều thời gian giúp đỡ và hướng dẫn tận tình để người viết hoàn thành luận văn

……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………


NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………………

1.1.3. Phân loại.................................................................................................. 11
1.1.4. Sự cần thiết phải giải quyết tranh chấp................................................... 14
1.1.5. Chủ thể có quyền và nghĩa vụ liên quan đến tranh chấp ........................ 16
1.2. Giải quyết tranh chấp trên thị trường chứng khoán..................................... 20
1.2.1. Khái niệm giải quyết tranh chấp ............................................................. 20
1.2.2. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp............................................................ 21
1.2.3. Hình thức giải quyết tranh chấp ............................................................. 23
1.2.4. Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp ......................... 26

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG, THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT VỀ GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN................. 30
2.1. Cơ sở pháp lý của việc giải quyết tranh chấp trên thị trường chứng
khoán.......................................................................................................................... 30
2.2. Thẩm quyền trong giải quyết tranh chấp ....................................................... 32
2.2.1. Hình thức thương lượng .......................................................................... 32
2.2.2. Hình thức hòa giải hòa giải..................................................................... 34
2.2.3. Hình thức trọng tài .................................................................................. 38
2.2.4. Hình thức tòa án ...................................................................................... 40
GVHD: TS. Lê Thị Nguyệt Châu

SVTH: Nguyễn Anh Phương
1


Nghiên cứu về giải quyết tranh chấp trên thị trường chứng khoán
2.3. Quy trình giải quyết tranh chấp ..................................................................... 45
2.3.1. Quy trình giải quyết tranh chấp bằng hòa giải ....................................... 45
2.3.2. Quy trình giải quyết tranh chấp bằng trọng tài ...................................... 50
2.3.3. Quy trình giải quyết tranh chấp bằng tòa án .......................................... 54
2.4. Hình thức phán quyết và biện pháp xử lý của cơ quan có thẩm quyền..... 58

Nghiên cứu về giải quyết tranh chấp trên thị trường chứng khoán

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, vấn đề lớn nhất đặt
lên hàng đầu đó là cung ứng nguồn vốn cho nền kinh tế và thị trường chứng khoán
chính là giải pháp cho vấn đề này. Việc ra đời thị trường chứng khoán Việt Nam vào
tháng 07 năm 2000 được coi như một mốc phát triển quan trọng và tất yếu của hệ thống
tài chính hiện đại. Phát triển và đảm bảo sự ổn định của thị trường chứng khoán luôn là
mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia trên thế giới bởi thị trường chứng khoán giúp
khơi thông các nguồn vốn trong xã hội và phân bổ một cách có hiệu quả các nguốn vốn
này vào những dự án đầu tư mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Tuy nhiên, một thị
trường chứng khoán sẽ không thể đóng vai trò là trung tâm huy động và phân bổ nguồn
vốn có hiệu quả cho nền kinh tế khi các nhà đầu tư, kinh doanh không có niềm tin vào
thị trường này hay nói cách khác là tiền bạc và các quyền lợi gắn liền của họ không
được tôn trọng và bảo vệ.
Để bảo đảm cho thị trường chứng khoán được vận hành an toàn, có hiệu quả,
công khai, công bằng, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức
tham gia thị trường và duy trì được sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường thì mọi
quan hệ phát sinh trong lĩnh vực này đều cần phải có sự điều chỉnh của pháp luật, phải
có một khung pháp lý đồng bộ cho hoạt động của thị trường.
Trong những năm qua, các cơ quan nhà nước đã có nhiều cố gắng trong việc xây
dựng khung pháp lý đồng bộ cho hoạt động của thị trường. Bên cạnh việc xây dựng các
văn bản pháp quy để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trên các lĩnh vực phát hành, kinh
doanh, dịch vụ chứng khoán… thì việc kịp thời ban hành các quy định về giải quyết
tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán là một tất yếu khách
quan. Hoạt động quản lý, phát hành, kinh doanh, dịch vụ chứng khoán chỉ thực sự có
hiệu quả và thị trường chứng khoán chỉ hoạt động an toàn, công bằng khi những tranh
chấp trên thị trường chứng khoán được giải quyết kịp thời.


Để thực hiện đề tài này, người viết đã sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp,
phương pháp so sánh, phương pháp phân tích luật viết. Thông qua các hình thức như:
thu thập thông tin, tài liệu của các văn bản quy phạm pháp luật, các giáo trình của các
trường đại học, của các chuyên gia kinh tế và các thông tin tham khảo trên Internet, các
tạp chí chuyên ngành.

GVHD: TS. Lê Thị Nguyệt Châu

SVTH: Nguyễn Anh Phương
4


Nghiên cứu về giải quyết tranh chấp trên thị trường chứng khoán
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về các quy định của pháp luật về giải quyết tranh
chấp trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Trong phạm vi đề tài, người viết chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu trong nội dung
các quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp trên thị trường chứng khoán Việt
Nam kể từ khi thị trường chứng khoán chính thức đi vào hoạt động cho đến nay (từ
ngày 28/07/2000 cho đến nay).
5. Bố cục đề tài
Kết cấu đề tài gồm có 3 phần chính: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết
luận. Trong đó phần nội dung gồm có 2 Chương:
Chương 1: Lý luận chung về tranh chấp và giải quyết tranh chấp trên thị
trường chứng khoán
Trong chương này người viết trình bày các khái niệm cần thiết và cơ bản về
tranh chấp và giải quyết tranh chấp trên thị trường chứng khoán. Từ đó làm cơ sở để
người viết tìm hiểu những quy định của pháp luật điều chỉnh hoạt động giải quyết tranh
chấp và đưa ra một số đề xuất hoàn thiện được trình bày ở Chương 2.
Chương 2: Nội dung, thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp trên thị

cao, kéo theo tính cạnh tranh gay gắt trong các mối quan hệ lợi ích được thiết lập trên
thị trường nên tranh chấp phát sinh là hiện tượng tất yếu xảy ra.
Thuật ngữ “tranh chấp” được hiểu là sự bất đồng chính kiến, xung đột lợi ích
giữa các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ pháp luật. Tranh chấp hiểu theo nghĩa
chung nhất dưới góc độ pháp lý là những xung đột, bất đồng về quyền và nghĩa vụ của
các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ pháp luật[1].
Với tiêu chí cơ bản giải quyết tranh chấp trên TTCK, nhiệm vụ quan trọng đặt ra
cho nhà nghiên cứu và các chuyên gia là phải xác định được đầy đủ nội hàm “tranh
chấp trên TTCK”. Việc xác định này có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình giải
quyết tranh chấp. Trước hết, xác định tiêu chí nhận diện tranh chấp trên TTCK để phân
biệt với các khiếu nại hành chính về chứng khoán. Thứ hai, khi đã xác định là tranh
chấp TTCK, các chủ thể có liên quan dễ dàng xác định cơ quan có thẩm quyền giải
quyết tranh chấp và trình tự tố tụng phù hợp.

TS. Dương Nguyệt Nga, Các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo pháp
luật Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, tạp chí Tòa án nhân dân số 16/2007, Trg.04
1

GVHD: TS. Lê Thị Nguyệt Châu

SVTH: Nguyễn Anh Phương
6


Nghiên cứu về giải quyết tranh chấp trên thị trường chứng khoán
Luật hiện hành quy định “Tranh chấp phát sinh trong hoạt động chứng khoán và
thị trường chứng khoán tại Việt Nam có thể được giải quyết thông qua thương lượng,
hoà giải hoặc yêu cầu trọng tài hoặc toà án giải quyết theo quy định của pháp luật” [2].
Nhưng như thế nào được gọi là tranh chấp trong hoạt động chứng khoán thì luật vẫn
chưa có quy định cụ thể. Thiết nghĩ, đó cũng là điều hiển nhiên vì có lẻ do tính đa dạng,

SVTH: Nguyễn Anh Phương
7


Nghiên cứu về giải quyết tranh chấp trên thị trường chứng khoán
Xét về mặt lý thuyết, tranh chấp về chứng khoán tuy có nhiều điểm tương đồng
với hầu hết các loại tranh chấp trong lĩnh vực khác. Nhưng ở mức khái quát, có thể
nhận diện tranh chấp này thông qua một số dấu hiệu mang tính đặc trưng sau:
Thứ nhất, về phạm vi chủ thể: Chủ thể của tranh chấp trên TTCK phải là các tổ
chức, cá nhân tham gia TTCK. Tổ chức, cá nhân được coi là tham gia TTCK khi họ
thực hiện một số hoạt động mà theo quy định của pháp luật những hoạt động đó chỉ
được phép diễn ra trên TTCK. Các chủ thể này bao gồm:
† Tổ chức phát hành thực hiện hoạt động chào bán chứng khoán ra công chúng.
Đó là các tổ chức cần vốn và thực hiện huy động vốn thông qua việc cung cấp các
chứng khoán - hàng hóa của TTCK. Thông thường tổ chức phát hành gồm: Chính phủ
và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu chính phủ và trái phiếu địa
phương; doanh nghiệp là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp; các tổ
chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như: các trái phiếu, chứng chỉ thụ
hưởng… phục vụ cho hoạt động của họ[4].
† Tổ chức kinh doanh chứng khoán: bao gồm công ty chứng khoán và công ty
quản lý quỹ đầu tư chứng khoán thực hiện một số nghiệp vụ như: môi giới, tự doanh,
bảo lãnh phát hành, quản lý danh mục đầu tư, quản lý quỹ đầu tư chứng khoán.
† Nhà đầu tư gồm các tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư vào TTCK
thông qua việc mua và bán chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời;
† Ngân hàng giám sát, ngân hàng chỉ định thanh toán;
† Tổ chức lưu ký chứng khoán;
† Trung tâm (Sở) giao dịch chứng khoán và các thành viên (các công ty chứng
khoán).
Thứ hai, về đối tượng tranh chấp. Đối tượng tranh chấp trên TTCK là quyền và
lợi ích giữa các chủ thể có được do TTCK. Đối tượng của tranh chấp trên TTCK bao

Trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK, quan hệ pháp luật về tranh chấp chỉ phát
sinh khi một trong hai bên chủ thể của không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận
(thường được thể hiện bằng hợp đồng). Việc không thực hiện đúng cam kết có thể do
nhiều nguyên nhân khách nhau. Đó có thể là nguyên nhân khách quan không phụ thuộc
vào ý chí con người như: thiên tai, điều kiện thị trường thay đổi… hoặc cũng có thể là
hành vi chủ quan của các bên như: cố tình không thực hiện đúng những điều khoản đã
cam kết trong hợp đồng hoặc không thực hiện những điều đã cam kết…
Như vậy, tranh chấp xuất hiện bởi nhiều lý do khác nhau, cả nguyên nhân chủ
quan và cả nguyên nhân khách quan. Có thể phân tích một vài nguyên nhân sau đây:
Do sự thúc đẩy của lợi nhuận. Có thể nhận thấy, nhà nước dù tham gia trên thị
trường nào đi chăng nữa thì mục tiêu lợi nhuận không được đặt ra trực tiếp, mà chủ yếu
để thực hiện các nhiệm vụ, chính sách của nhà nước trong giai đoạn nhất định. Còn
người dân, các nhà đầu tư, kinh doanh thì lại lấy mục tiêu lợi nhuận đặt lên hàng đầu và
GVHD: TS. Lê Thị Nguyệt Châu

SVTH: Nguyễn Anh Phương
9


Nghiên cứu về giải quyết tranh chấp trên thị trường chứng khoán
hoạt động trên nguyên tắc “mạnh ai người nấy thắng”. Và vì mục tiêu lợi nhuận họ có
thể thực hiện các hành vi trái pháp luật, trái với quy luật của thị trường, xâm phạm tới
quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác, đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến
tranh chấp.
Sự hạn chế kiến thức pháp luật. Không riêng gì TTCK, mà hầu hết trong các lĩnh
vực kinh doanh khác, không phải chủ thể nào khi tham gia hoạt động đầu tư, kinh
doanh đều có thể nắm vững được những quy định của pháp luật, có những chủ thể
không có khả năng hiểu và tiếp cận được với các quy định của luật, đặc biệt là những
quyền và nghĩa vụ pháp lý cơ bản của họ. Vì vậy, tranh chấp có thể xảy ra khi những
chủ thể này tham gia đầu tư trên TTCK nhưng không “đầu tư” cho kiến thức pháp luật

Chính vì những lý do đa dạng này mà tranh chấp giữa các nhà đầu tư, kinh
doanh trên TTCK là đương nhiên xảy ra. Vì vậy, pháp luật luôn hướng đến mục tiêu
hạn chế nó, khắc phục hậu quả nó có thể xảy ra và pháp luật cho phép các bên tranh
chấp có quyền lựa chọn những biện pháp khác nhau để giải quyết tranh chấp.
1.1.3. Phân loại
Hoạt động chứng khoán diễn ra trên rất nhiều lĩnh vực như phát hành, kinh
doanh, giao dịch chứng khoán. Để những hoạt động này đạt hiệu quả, đòi hỏi các chủ
thể tham gia phải thực hiện tốt các cam kết trong hợp đồng. Tuy nhiên không phải lúc
nào cũng như vậy, nếu một trong hai bên vì lý do khách quan hay chủ quan đã không
thực hiện đúng hợp đồng, khi đó tranh chấp sẽ xảy ra. Tranh chấp về hoạt động chứng
khoán có rất nhiều loại:
† Căn cứ vào sự luân chuyển nguồn vốn:
Tranh chấp trên thị trường sơ cấp: là tranh chấp về quyền và lợi ích giữa các
chủ thể tham gia thị trường giao dịch các loại chứng khoán mới phát hành. Tranh chấp
trong giai đoạn này rất đa dạng, có thể liên quan tới các chủ thể tham gia vào phát hành
ra công chúng hoặc liên quan tới việc mua bán chứng khoán của nhà phát hành và các
cổ đông hiện hữu, tranh chấp đối với các chứng khoán phát hành riêng lẻ.
Tranh chấp trên thị trường thứ cấp: là tranh chấp về quyền và lợi ích của các
chủ thể tham gia thị trường giao dịch chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ
cấp. Thông thường, tranh chấp trên thị trường này được chia thành bốn nhóm. Nhóm
tranh chấp phát sinh giữa các nhà đầu tư với nhau; nhóm các tranh chấp phát sinh từ
việc hỗ trợ cho hoạt động hỗ trợ cho việc giao dịch chứng khoán như: hoạt dộng đăng
ký, lưu ký, thanh toán, bù trừ, hoạt động giám sát của ngân hàng giám sát, hoạt động tổ
chức thị trường giao dịch chứng khoán; nhóm các tranh chấp phát sinh từ hoạt động
kinh doanh, cung cấp dịch vụ của các tổ chức trung gian như: tư vấn, môi giới, tự
doanh, quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán; nhóm

GVHD: TS. Lê Thị Nguyệt Châu

SVTH: Nguyễn Anh Phương

này gồm: tranh chấp về hợp đồng mở tài khoản giữa công ty chứng khoán với khách
hàng; môi giới chứng khoán; tư vấn đầu tư chứng khoán… tranh chấp về quản lý danh
mục đầu tư; cầm cố chứng khoán.
GVHD: TS. Lê Thị Nguyệt Châu

SVTH: Nguyễn Anh Phương
12


Nghiên cứu về giải quyết tranh chấp trên thị trường chứng khoán
Thứ hai, tranh chấp giữa các tổ chức tham gia thị trường chứng khoán
Công ty chứng khoán có thể tranh chấp với công ty chứng khoán khác trong các
hoạt động kinh doanh, môi giới, bảo lãnh phát hành (đồng bảo lãnh) khi tiến hành tự
doanh; tranh chấp với với tổ chức lưu ký về quyền và lợi ích liên quan đến chứng khoán
lưu ký… tranh chấp với ngân hàng chỉ định thanh toán trong trường hợp thực hiện các
lệnh thanh toán.
Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán này tranh chấp với công ty quỹ đầu tư
chứng khoán khác trong quá trình chuyển giao/chuyển nhượng hoạt động quản lý quỹ
đầu tư; tranh chấp giữa công ty quản lý quỹ với công ty chứng khoán trong quá trình
đặt mua, bán chứng khoán với tư cách là nhà đầu tư chuyên nghiệp… tranh chấp giữa
công ty quản lý quỹ với ngân hàng giám sát về những yêu cầu hoặc kết luận của ngân
hàng giám sát về quá trình quản lý quỹ của công ty quản lý quỹ.
Tranh chấp về quyền và lợi ích giữa Trung tâm (Sở) giao dịch chứng khoán với
các thành viên. Khi tiến hành hoạt động chứng khoán, Trung tâm (Sở) giao dịch có thể
gây ra thiệt hại cho các công ty thành viên hoặc có những hoạt động không đảm bảo lợi
ích của hai bên, đó chính là nguy cơ gây ra tranh chấp giữa hai loại chủ thể này. Ví dụ
như tranh chấp giữa công ty chứng khoán trong hoạt động niêm yết chứng khoán tại các
các Trung tâm (Sở) giao dịch.
Thứ ba, tranh chấp giữa tổ chức phát hành với các tổ chức khác. Có các tranh
chấp về thực hiện cam kết bảo lãnh phát hành chứng khoán hoặc đại lý phát hành; tranh

nghiệp và các tổ chức kinh tế có thể phát hành cổ phiếu, trái phiếu để huy động vốn cho
sản xuất, kinh doanh, cho đầu tư phát triển, cho các nhu cầu khác của ngân sách nhà
nước, khuyến khích tiết kiệm và đầu tư, phát triển thông qua thu nhập, lợi tức và giá cả
cổ phiếu, trái phiếu. Thông qua TTCK, nhà đầu tư chứng khoán lựa chọn đầu tư khoản
tiền tiết kiệm của mình vào những lĩnh vực kinh tế, những doanh nghiệp làm ăn có hiệu
quả. TTCK cũng thúc đẩy, khuyến khích cạnh tranh phát triển thông qua giá cả cổ
phiếu, trái phiếu, từ đó doanh nghiệp tự điều chỉnh lại sản xuất kinh doanh. Ngoài ra,
TTCK còn là công cụ để tham gia hội nhập có hiệu quả vào nền kinh tế thế giới.
Bên cạnh những ưu việt nêu trên, TTCK cũng có những mặt trái của nó. Do
TTCK là một thể chế tài chính bậc cao, rất nhạy cảm của nền kinh tế thị trường, luôn
tiền ẩn rủi ro và bất ổn định nên mỗi hành vi vi phạm trên TTCK hay mỗi tranh chấp về
quyền và lợi ích của nhà đầu tư nếu không được xử lý và giải quyết kịp thời sẽ góp
phần làm mất ổn định thị trường dẫn đến thị trường bị chao đảo và sụp đổ. Vì vậy, các
nhà quản lý thị trường cần phải có biện pháp ngăn ngừa và hạn chế những khuyết tật,
rủi ro của TTCK nhằm mục đích đảm bảo cho thị trường hoạt động an toàn, công bằng,
GVHD: TS. Lê Thị Nguyệt Châu

SVTH: Nguyễn Anh Phương
14


Nghiên cứu về giải quyết tranh chấp trên thị trường chứng khoán
minh bạch và giảm thiểu rủi ro hệ thống, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu
tư.
Vấn đề giải quyết tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực chứng khoán đã được Luật
chứng khoán ở một số nước quy định và đưa ra các hình thức, căn cứ giải quyết tranh
chấp trong hoạt động kinh doanh chứng khoán như: Luật chứng khoán (1933), Luật
giao dịch chứng khoán (1934), Luật chứng khoán Chính Phủ (1986), Luật Công ty,
Luật bảo vệ nhà đầu tư của Mỹ; Luật chứng khoán (1948 sửa đổi, bồ sung 1992), Luật
Tín thác đầu tư (1957), Luật Công ty (1971), Luật Quản lý tư vấn đầu tư chứng khoán

phần phát triển nền kinh tế.
Tóm lại, để tạo điều kiện cho TTCK hoạt động công bằng, công khai, minh bạch
và bảo vệ nhà đầu tư, tạo điều kiện để thúc đẩy, phát triển nền kinh tế, việc đặt ra những
quy định cụ thể về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực chứng khoán và giải quyết
nhanh chóng, kịp thời các tranh chấp này sẽ góp phần vào sự ổn định và phát triển của
TTCK. Đó là yêu cầu cần thiết và cấp bách trong thời kì hội nhập.
1.1.5. Chủ thể có quyền và nghĩa vụ liên quan đến tranh chấp
Các chủ thể hoạt động trên TTCK rất đa dạng. Bên cạnh những chủ thể là các cơ
quan quản lý Nhà nước còn có các chủ thể là cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước như:
nhà đầu tư, tổ chức phát hành chứng khoán, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ
đầu tư, các công ty liên doanh… Tuy nhiên, chủ thể có quyền và nghĩa vụ liên quan đến
tranh chấp chỉ là những cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước tham gia trên thị trường.
Cụ thể là:
Thứ nhất, nhóm chủ thể là nhà đầu tư
Luật chứng khoán được áp dụng chung cho tất cả các tổ chức, cá nhân trong
nước và nước ngoài tham gia đầu tư và hoạt động trên TTCK Việt Nam, tuy nhiên, có
quy định trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác với
quy định của Luật chứng khoán thì áp dụng Điều ước quốc tế đó[6].
Như vậy, theo khái niệm nêu trên thì nhà đầu tư có thể được hiểu là cá nhân, tổ
chức trong và ngoài nước. Tùy theo đối tượng đầu tư mà pháp luật quy định chế độ
pháp lý khác nhau cho phù hợp để đảm bảo sự quản lý của Nhà nước và sự an toàn,
bình đẳng của TTCK.

· Đối với cá nhân:
Tư cách pháp lý của cá nhân trong nước có thể tham gia quan hệ mua bán, giao
dịch chứng khoán hiện nay pháp luật chưa quy định cụ thể. Nhưng theo quy định của
Bộ luật Dân sự 2005 thì người đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có
6

Khoàn 2 Điều 3, Khoản 10 Điều 6 Luật chứng khoán 2006

+ Được thành lập hợp pháp:
+ Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;
+ Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài
sản đó;
+ Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập[8]

7
8

Khoản 2 Điều 20 Bộ luật Dân sự 2005
Điều 84 Bộ luật Dân sự 2005.

GVHD: TS. Lê Thị Nguyệt Châu

SVTH: Nguyễn Anh Phương
17


Nghiên cứu về giải quyết tranh chấp trên thị trường chứng khoán
Theo tinh thần của Luật chứng khoán thì tất cả các pháp nhân đều có quyền tham
gia trên thị trường (trừ một số pháp nhân đặc biệt mà pháp luật có quy định khác).
Đối với tổ chức nước ngoài tham gia hoạt động TTCK được quy định là tổ chức
thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài và chi nhánh của tổ chức này, bao
gồm cả chi nhánh hoạt động tại Việt Nam; tổ chức thành lập và hoạt động theo pháp
luật Việt Nam có 100% vốn góp nước ngoài và các chi nhánh của tổ chức này[9].
Ngoài ra, pháp luật Việt Nam còn quy định tỷ lệ tham gia của các cá nhân, tổ
chức tham gia TTCK Việt Nam, theo đó nhà đầu tư nước ngoài mua, bán chứng khoán
trên TTCK Việt Nam được nắm giữ tối đa 49% tổng số cổ phiếu của công ty cổ phần
đại chúng; tối đa 49% tổng số chứng chỉ quỹ đầu tư của một quỹ đầu tư chứng khoán
đại chúng; tối đa 49% vốn điều lệ của một công ty đầu tư chứng khoán đại chúng; còn


Nghiên cứu về giải quyết tranh chấp trên thị trường chứng khoán
thực hiện hợp đồng có thể xảy ra các tranh chấp như: tranh chấp giữa công ty chứng
khoán với khách hàng về hợp đồng mở tài khoản giao dịch chứng khoán, tranh chấp
giữa công ty chứng khoán với công ty phát hành về hợp đồng bảo lãnh phát hành, tranh
chấp về hợp đồng tư vấn đầu tư chứng khoán…
Công ty quản lý quỹ tham gia hoạt động trên TTCK có mức vốn pháp định là 25
tỷ đồng trở lên[13]. Công ty có thể là chủ thể trong các tranh chấp liên quan đến hoạt
động quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán, tư vấn
đầu tư chứng khoán, tranh chấp trong hoạt động đầu tư chứng khoán với tư cách là nhà
đầu tư chuyên nghiệp.
Thứ ba, nhóm chủ thể là tổ chức phát hành
Tổ chức phát hành chứng khoán là một pháp nhân được phát hành chứng khoán
ra công chúng theo quy đinh của Luật chứng khoán. Có quan điểm cho rằng công ty
trách nhiệm hữu hạn có thể là chủ thể phát hành chứng khoán (trái phiếu). Nhưng cũng
có quan điểm cho rằng công ty chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép (Luật
doanh nghiệp không quy định công ty trách nhiệm hữu hạn được phép phát hành trái
phiếu). Theo quan điểm của người viết, nên tạo sự thông thoáng cho các doanh nghiệp
tham gia hoạt động trên thị trường, quan điểm này cũng phù hợp khi xây dựng Luật
doanh nghiệp, những gì luật không quy định nên để công ty được phép làm. Do vậy,
công ty trách nhiệm hữu hạn cũng nên được phép phát hành trái phiếu.
Tổ chức phát hành là một chủ thể trong một quan hệ tranh chấp khi có những
vướng mắc trong việc thực hiện hợp đồng bảo lãnh phát hành, hay đại lý phát hành. Tổ
chức phát hành cũng có thể là một chủ thể trong quan hệ với người đầu tư chứng khoán
khi thực hiện quyền mua cổ phiếu với họ. Ngoài ra, tranh chấp liên quan đến việc thực
hiện quan hệ mua bán chứng khoán đã đăng ký mua với nhà đầu tư; tranh chấp về việc
thực hiện lợi ích của người đầu tư cũng có khả năng xảy ra.

Khoản 3 Điều 18 Nghị định 14/2007/NĐ-CP ngày 19 thàng 01 năm 2007 Quy định chi tiết thi hành
một số điều của Luật chứng khoán

pháp cưỡng chế được quy định tại Bộ luật Hình sự, còn nếu vi phạm hành chính bị áp
dụng các hình thức xử lý hành chính được quy định tại Pháp lệnh xử lý vi phạm hành
chính.
Giải quyết tranh chấp cũng khác với việc giải quyết khiếu nại, giải quyết tố cáo.
Giải quyết khiếu nại là việc xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết của người
giải quyết khiếu nại về quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ
14

Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2001, Trg.338

GVHD: TS. Lê Thị Nguyệt Châu

SVTH: Nguyễn Anh Phương
20


Nghiên cứu về giải quyết tranh chấp trên thị trường chứng khoán
luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp
luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại. Giải quyết tố cáo là việc
xác minh, kết luận về nội dung tố cáo và việc quyết định xử lý của người giải quyết tố
cáo về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ, cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại
hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ
quan, tổ chức[15].
Đối với việc giải quyết tranh chấp trên TTCK, như người viết đã nhận diện tranh
chấp trên TTCK ở phần đầu nên có thể hiểu thuật ngữ “giải quyết tranh chấp trên
TTCK là tổng hợp các cách thức, biện pháp do các bên tranh chấp áp dụng trên cơ sở
quy định của pháp luật nhằm loại bỏ xung đột về quyền và lợi ích phát sinh trên
TTCK”. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên có tranh chấp, đảm bảo hoạt
động ổn định của toàn thị trường, các tranh chấp cần được giải quyết một cách kịp thời,
đúng pháp luật. Tuy nhiên, việc giải quyết những tranh chấp trong lĩnh vực chứng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status