BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Hứa Thị Lan Anh
CHUẨN BỊ HỌC VIẾT CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI
TRƯỚC KHI VÀO LỚP MỘT
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Hứa Thị Lan Anh
CHUẨN BỊ HỌC VIẾT CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI
TRƯỚC KHI VÀO LỚP MỘT
Chuyên ngành
: Giáo dục học (Mầm non)
Mã số
: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. VŨ THỊ ÂN
tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
2
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 1
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 2
MỤC LỤC .................................................................................................................... 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ......................................................................... 6
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 7
1. Lí do chọn đề tài .............................................................................................................. 7
2. Mục đích nghiên cứu ...................................................................................................... 8
3. Nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................................................................... 8
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu .............................................................................. 8
5. Giả thuyết nghiên cứu .................................................................................................... 8
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu ................................................................................... 8
7. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................... 9
8. Đóng góp của luận văn ................................................................................................. 10
9. Cấu trúc của luận văn .................................................................................................. 10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC CHUẨN BỊ HỌC VIẾT CHO TRẺ
5 - 6 TUỔI TRƯỚC KHI VÀO LỚP MỘT ............................................................ 11
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ........................................................................................ 11
1.1.1. Trên thế giới .......................................................................................................... 11
1.1.2. Trong nước ............................................................................................................ 12
1.2. Khái quát về hệ thống âm và chữ viết tiếng Việt .................................................... 15
1.2.1. Ngữ âm .................................................................................................................. 15
1.2.2. Chữ viết. Mối quan hệ giữa âm và chữ ................................................................. 16
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP TRẺ 5 - 6 TUỔI CHUẨN BỊ HỌC
VIẾT TRƯỚC KHI VÀO LỚP MỘT ..................................................................... 68
3.1. Một số biện pháp giúp trẻ 5 - 6 tuổi chuẩn bị học viết trước khi vào lớp Một ....... 68
3.1.1. Biện pháp 1: Xây dựng môi trường chữ viết phong phú và hấp dẫn .................... 68
3.1.2. Biện pháp 2: Tổ chức các giờ học LQCV cho trẻ ................................................. 71
3.1.3. Biện pháp 3: Tổ chức các trò chơi về con chữ, tạo nhiều tình huống chơi hấp dẫn,
lôi cuốn trẻ tham gia vào hoạt động viết ......................................................................... 73
3.1.4. Biện pháp 4: Hướng dẫn cụ thể, rõ ràng và chính xác các thao tác liên quan đến
việc viết ........................................................................................................................... 75
3.1.5. Biện pháp 5: Tổ chức các hoạt động với sách ....................................................... 76
3.1.6. Biện pháp 6: Thực hiện việc chuẩn bị học viết cho trẻ mọi lúc mọi nơi và tích hợp
trong các hoạt động khác ................................................................................................. 78
3.1.7. Biện pháp 7: Công tác tuyên truyền và phối hợp với phụ huynh.......................... 79
3.2. Đánh giá tính khả thi của các biện pháp đề xuất .................................................... 81
3.3. Thực nghiệm một số biện pháp giúp trẻ 5 - 6 tuổi chuẩn bị học viết trước khi vào
lớp Một ............................................................................................................................... 81
3.3.1. Mục đích thực nghiệm........................................................................................... 81
3.3.2. Đối tượng thực nghiệm ......................................................................................... 82
3.3.3. Phạm vi thực nghiệm............................................................................................. 82
4
3.3.4. Thời gian thực nghiệm .......................................................................................... 82
3.3.5. Điều kiện tiến hành thực nghiệm .......................................................................... 82
3.3.6. Nội dung thực nghiệm ........................................................................................... 82
3.3.7. Các tiêu chí và thang đánh giá .............................................................................. 83
3.3.8.Tiến hành thực nghiệm ........................................................................................... 83
3.3.9. Phân tích kết quả thực nghiệm .............................................................................. 86
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ................................................................................. 102
Môi trường chữ viết
NĐC
Nhóm đối chứng
NTN
Nhóm thực nghiệm
SL
Số lượng
TB
Trung bình
TC
Tiêu chí
TP.HCM
Thành phố Hồ Chí Minh
6
MỞ ĐẦU
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và tìm hiểu thực trạng của việc chuẩn bị học viết cho trẻ
5 - 6 tuổi trước khi vào lớp Một ở trường MN, chúng tôi đề xuất và thực nghiệm một số
biện pháp giúp trẻ 5 - 6 tuổi chuẩn bị học viết trước khi vào lớp Một.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích đã xác định trên đây, chúng tôi đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu là:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc chuẩn bị học viết cho trẻ 5 - 6 tuổi trước khi vào
lớp Một.
- Tìm hiểu thực trạng của việc chuẩn bị học viết cho trẻ 5 - 6 tuổi trước khi vào lớp
Một ở một số trường MN tại thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM).
- Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp giúp trẻ 5 - 6 tuổi chuẩn bị học viết trước
khi vào lớp Một.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp giúp trẻ 5 - 6 tuổi chuẩn bị học viết trước khi vào lớp Một.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Công tác chuẩn bị học viết cho trẻ 5 - 6 tuổi trước khi vào lớp Một ở trường MN tại
TP.HCM.
5. Giả thuyết nghiên cứu
Hiệu quả của việc chuẩn bị học viết cho trẻ 5 - 6 tuổi trước khi vào lớp Một ở một số
trường MN chưa cao. Chúng tôi giả thuyết rằng: Nếu giáo viên mầm non (GVMN) biết
phối hợp một số biện pháp nhằm chuẩn bị học viết cho trẻ một cách hợp lý sẽ góp phần
nâng cao hiệu quả cho công tác chuẩn bị cho trẻ vào lớp Một và giúp trẻ học tốt hơn ở bậc
tiểu học sau này.
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
6.1. Nội dung nghiên cứu
Chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông là một đề tài rộng lớn của ngành tâm lý và giáo
7.2.2. Phương pháp phỏng vấn
Ngoài ra, chúng tôi còn tiến hành phỏng vấn GVMN nhằm tìm hiểu những khó khăn
của GVMN trong việc chuẩn bị học viết cho trẻ 5 - 6 tuổi và lắng nghe những đề xuất của
họ để khắc phục những khó khăn này. Đồng thời trao đổi với Ban giám hiệu, một số chuyên
viên mầm non và phụ huynh nhằm thu thập ý kiến cần thiết cho vấn đề nghiên cứu.
7.2.3. Phương pháp quan sát
9
Chúng tôi quan sát các giờ học, các giờ chơi và một số hoạt động khác của trẻ, sản
phẩm của trẻ trong quá trình chuẩn bị học viết của trẻ 5 - 6 tuổi. Đồng thời, chúng tôi
nghiên cứu kế hoạch giáo dục của GVMN về công tác chuẩn bị học viết cho trẻ 5 - 6 tuổi
trước khi vào lớp Một.
7.3. Phương pháp thực nghiệm
Nhằm giải quyết nhiệm vụ Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp giúp trẻ 5 - 6
tuổi chuẩn bị học viết trước khi vào lớp Một, chúng tôi sử dụng phương pháp thực nghiệm.
Sau khi nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, chúng tôi xây dựng một số biện pháp và tiến
hành thực nghiệm để đánh giá tính khả thi của các biện pháp đã đề ra.
7.4. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp này, chúng tôi tiến hành xử lí số liệu nghiên cứu với phần mềm
SPSS 13.0.
8. Đóng góp của luận văn
- Chỉ ra thực trạng của việc chuẩn bị học viết cho trẻ 5 - 6 tuổi trước khi vào lớp Một ở
một số trường MN tại TP.HCM.
- Đề xuất một số biện pháp giúp trẻ 5 - 6 tuổi chuẩn bị học viết trước khi vào lớp Một
ở trường MN.
9. Cấu trúc của luận văn
Viết cũ như: T.V.Phauxel, Ph.N.Blekher, D.B.Encônhin, L.E.Zurôva, L.K.Naziarôva,
G.A.Tumacôva... nghiên cứu phân tích rất nhiều. Một trong những vấn đề mà họ đề cập là
lứa tuổi nào thì bắt đầu dạy trẻ học chữ và trẻ học chữ như thế nào. Một số tác giả như
T.V.Phauxel, D.B.Encônhin, L.E.Zurôva cho rằng nên bắt đầu dạy trẻ từ 4 - 5 tuổi. Các tác
giả khác như Ph.N.Blekher, E.I.Tikheeva, L.K.Naziarôva thì lại cho rằng nên bắt đầu khi
trẻ được 6 - 7 tuổi. Cơ sở để các tác giả này quy định độ tuổi nên bắt đầu dạy chữ cho trẻ
chính là sự hứng thú của trẻ đối với việc học chữ.
Năm 1996, Marie Clay, nhà nghiên cứu giáo dục người New Zealand, đã đưa ra thuật
ngữ khả năng tiền đọc - viết để mô tả các hành vi của trẻ nhỏ khi chúng sử dụng sách và các
tài liệu, dụng cụ đọc - viết để bắt chước các hoạt động đọc và viết mặc dù trẻ thực sự không
thể đọc và viết theo cách thông thường.
11
Những nghiên cứu gần đây của một số tác giả như: Alllington và Cunningham (1996);
Grifin và Snow (1999); Clay (1991); Han và Moat, (1999); Holdaway (1979); Teale và
Sulzby (1986) cho thấy sự phát triển khả năng tiền đọc - viết của trẻ bắt đầu từ rất sớm,
trước khi chúng bước vào việc học đọc, học viết chính thức ở trường tiểu học.
Theo Sulzby (1989 & 1991) thì sự phát triển khả năng tiền đọc - viết được nuôi dưỡng
bởi các nối tiếp xúc về mặt xã hội, giữa người lớn và trẻ em, giữa trẻ em và các tài liệu đọc viết [9, tr.169].
Riêng Đ.B.Encônhin đã biên soạn cơ sở lí luận và chương trình cho việc dạy trẻ học
chữ. Và đóng góp quan trọng của ông đó là việc sử dụng chương trình dạy chữ cho trẻ như
là một phương tiện để phát triển trí tuệ bằng phương pháp mô hình hóa cấu tạo âm thanh
của ngôn ngữ.
Trong tập san Thông tin khoa học Giáo dục Mầm non số 11/1999, có rất nhiều tác giả
đề cập đến vấn đề chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông. Tác giả A.Kuznhexova đã đưa ra
“Chuẩn bị cho trẻ học tập ở trường phổ thông”, tác giả L. Paramonova, T.Alieva,
A.Arusanova đã đưa ra “Đổi mới việc chuẩn bị cho trẻ vào phổ thông”. Các tác giả đã cho
thấy tầm quan trọng và xu hướng đổi mới của việc chuẩn bị cho trẻ trước khi vào lớp Một.
Bài “Đọc - viết và giai đoạn đầu phát triển” của Gilbson và Neuman cũng đã đề cập
thông được rất nhiều tác giả dày công nghiên cứu như: Nguyễn Xuân Khoa, Đinh Hồng
Thái, Nguyễn Thị Oanh, Nguyễn Xuân Thức, Hoàng Thị Thu Hương, Huỳnh Ái Hồng,
Hồ Lam Hồng…
Riêng mảng đọc - viết cũng có rất nhiều tác giả quan tâm và nghiên cứu. Trong tập san
Thông tin khoa học Giáo dục mầm non số 11/1999, tác giả Nguyễn Thị Phương Nga có bài
“Khi nào bắt đầu dạy chữ cho trẻ” và bài “Chuẩn bị cho trẻ 5 tuổi học chữ như thế nào” để
nhấn mạnh rằng trẻ MN chỉ làm quen chữ viết (LQCV) chứ chưa có học chữ chính thống
như học sinh tiểu học. Vì vậy, chúng ta cần có những biện pháp phù hợp để cho trẻ làm
quen với chữ viết.
Năm 2003, Trần Thị Nga đã đưa ra “Một số cơ sở lí luận về việc cho trẻ mẫu giáo
làm quen với đọc viết” để giúp người làm công tác giáo dục có thể hiểu rõ hơn cơ sở lí luận
của việc cho trẻ LQCV ở trường MN. Tác giả Phan Lan Anh cũng đã đề cập đến “Đặc điểm
phát triển khả năng tiền đọc - viết của trẻ” trong tạp chí Giáo dục mầm non số 4/2009, bài
viết cho thấy cơ sở của việc chuẩn bị đọc - viết cho trẻ.
Cùng đề cập đến nội dung cách thức chuẩn bị cho trẻ vào lớp Một, tác giả Nguyễn Thị
Phương Nga đã viết “Môi trường tốt để cho trẻ học chữ viết” trong tập san Thông tin khoa
học Giáo dục mầm non số 9/2003, còn tác giả Vũ Thị Hương Giang lại bàn về việc “Sử
dụng tranh truyện để phát triển khả năng tiền đọc – viết cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi”, tác
13
giả Phan Lan Anh lại nói về “Trò chơi với sự phát triển khả năng tiền đọc - viết của trẻ
MN”. Tất cả các tác giả đều đưa ra những cách cho trẻ làm quen với đọc - viết một cách tự
nhiên, phù hợp với lứa tuổi.
Để giúp các nhà giáo dục có cái nhìn toàn diện hơn về việc cho trẻ làm quen với chữ,
năm 2010, tác giả Vũ Thị Thảo đã viết bài “Những nền tảng vững chắc để phát triển khả
năng đọc viết cho trẻ mầm non” trong Kỉ yếu hội thảo Đào tạo giáo viên mầm non trong
thời kì hội nhập quốc tế (tr.131-135), tác giả Hoàng Mai đã viết “Cho trẻ 5 tuổi tập làm
quen với chữ viết theo hướng đổi mới”. Điều này giúp chúng ta nhìn nhận về điểm mới của
chương trình cho trẻ LQCV hiện nay.
1.2.1. Ngữ âm
Nói đến ngôn ngữ, trước hết là nói đến ngôn ngữ thành tiếng - tức ngữ âm. Ngữ âm là
mặt hình thức có tính vật chất (mặt biểu hiện) của ngôn ngữ.
Ngữ âm là cách gọi tắt của âm thanh ngôn ngữ - một loại âm thanh đặc biệt do con
người phát ra dùng để giao tiếp và tư duy. Ngữ âm bao gồm các âm, các thanh, các kết hợp
âm thanh và giọng điệu trong một từ, một câu của một ngôn ngữ [5, tr.7].
Mỗi ngôn ngữ có một hệ thống ngữ âm riêng. Có âm thanh có mặt trong ngôn ngữ này
nhưng lại không dùng trong ngôn ngữ kia. Ví dụ: hệ thống phụ âm của tiếng Anh có âm /θ/
(như: /θ/ think: nghĩ), nhưng trong tiếng Việt không có, hay tiếng Việt có các nguyên
âm // // (ă, â), tiếng Anh lại không có… Tiếng Việt sử dụng thanh điệu, trong khi các
ngôn ngữ châu Âu không dùng thanh điệu. Thường thì mỗi ngôn ngữ lựa chọn và sử dụng
khoảng 40 âm vị.
Mỗi cộng đồng ngôn ngữ cũng có những qui ước khác nhau về cách kết hợp các âm
thanh để cho ra các tập hợp lớn hơn (tiếng/âm tiết - mặt biểu đạt). Chẳng hạn, tiếng Việt
hiện đại qui ước phụ âm không kết hợp với phụ âm (nghĩa là trong tiếng Việt hiện đại không
có phụ âm kép), trong khi các ngôn ngữ châu Âu có phụ âm kép (như //: kls, lớp học tiếng Anh)… Hay tiếng Việt qui ước các phụ âm //, //…không được phân bố cuối âm tiết,
trong khi tiếng Anh lại có (books, liked) v.v…
Sau đây là hệ thống âm vị tiếng Việt:
Khái niệm âm vị: âm vị là đơn vị ngữ âm nhỏ nhất có chức năng khu biệt [5, tr.10].
Với người Việt, tập hợp âm thanh ta, khác la, khác ba… bởi sự có mặt hay vắng mặt của âm
//, //, //.
Thứ nhất là hệ thống âm vị phụ âm đầu.
15
Khái niệm phụ âm: Phụ âm là những âm khi phát âm, luồng hơi thoát ra gặp sự cản trở
(sự thu hẹp của dây thanh, sự chặn lại bởi đầu lưỡi chạm vào chân răng hay sự khép lại của
hai môi…), nó phải phá chỗ cản hoặc lách qua khe hở để thoát ra, nó có tần số không ổn
định, có âm hưởng không “dễ nghe” như nguyên âm [5, tr.13].
Thứ hai là âm đệm (bán âm 1).
16
những dân tộc có ngôn ngữ riêng nhưng vẫn chưa có chữ viết.
Ngữ âm học tiếng Việt hiện đại định nghĩa: “Chữ viết là 1 hệ thống kí hiệu bằng
đường nét để ghi lại ngôn ngữ thành tiếng” [12, tr.76]. Hay, theo từ điển tiếng Việt của Như
Ý (chủ biên) thì chữ viết là “Hệ thống kí hiệu bằng đường nét dùng để ghi tiếng nói”.
Tác giả Võ Xuân Hào cũng cho rằng: “Chữ viết là một hệ thống kí hiệu thị giác dùng
để ghi lại âm thanh của ngôn ngữ”.
Chữ viết là hệ thống các ký hiệu ghi lại ngôn ngữ theo dạng văn bản, là sự miêu tả
ngôn ngữ thông qua việc sử dụng các ký hiệu hay các biểu tượng. Nó phân biệt với sự minh
họa như các phác họa trong hang động hay các tranh vẽ, đây là các dạng ghi lại ngôn ngữ
theo các phương tiện truyền đạt phi văn bản, ví dụ như các băng từ tính trong các đĩa âm
thanh.
Tóm lại, chữ viết là đại diện của âm thanh ngôn ngữ, là phương tiện ghi lại ngữ âm,
một phương tiện thô sơ nhất nhưng cũng tiện dụng nhất. Trong các ngôn ngữ thuần khiết,
chữ viết còn là phương tiện ghi lại một số hình thái không được phát âm. Ví dụ: trong tiếng
Pháp, “Elle est arrivée” (Chị ấy đã tới), “e” - hình thái biểu thị giống cái - không được phát
âm [38, tr.32]. Mối quan hệ giữa chữ viết và ngữ âm là mối quan hệ giữa hai mặt của kí
hiệu. Có nhiều loại hình chữ viết như chữ viết ghi hình, chữ viết ghi ý, chữ viết ghi âm…
Chữ Việt là chữ ghi âm.
Kiểu ghi âm âm vị: phát âm thế nào dùng kí hiệu đường nét tương ứng với kí hiệu âm
thanh để ghi lại nên dễ học dễ nhớ. Loại hình chữ viết này được xây dựng theo nguyên tắc:
mỗi chữ cái (con chữ/ký tự) ghi cho một âm vị và ngược lại mỗi âm vị được ghi bằng một
chữ cái, theo tỉ lệ một tương ứng với một. Đó được xem là qui tắc chính tả lí tưởng, là giải
pháp tối ưu nhất cho chữ viết ghi âm.
Tuy nhiên, do lịch sử hình thành chữ quốc ngữ và do sự phát triển không tương ứng
giữa âm và chữ nên một số trường hợp qui tắc trên bị vi phạm. Chẳng hạn:
Một âm vị được thể hiện bằng nhiều chữ: ghi bằng nhiều con chữ khác nhau.
- Âm vị /-/ có 3 sự thể hiện: k, q, c. Trong đó, viết “k” khi đứng trước các nguyên âm
Còn có những mặt hạn chế như một âm vị có nhiều sự thể hiện trên chữ viết, một chữ
ghi cho nhiều âm vị, một âm vị được ghi bằng nhiều chữ cái ghép lại, nhưng nhìn chung hệ
thống chữ viết tiếng Việt khá thuận lợi cho việc học đọc, học viết: đọc thế nào viết thế ấy và
18
nhìn chữ là đọc được. Đó chính là ưu điểm của loại hình chữ viết ghi âm âm vị.
Trên đây, chúng tôi đã trình bày khái quát về hệ thống âm và chữ viết tiếng Việt. Đó
là những cơ sở lí luận nền tảng để chúng tôi đi sâu nghiên cứu việc chuẩn bị học viết cho
trẻ 5 - 6 tuổi trước khi vào lớp Một.
1.3. Đặc điểm tâm sinh lí của trẻ 5 - 6 tuổi liên quan đến việc chuẩn bị học viết
trước khi vào lớp Một
1.3.1. Đặc điểm về thể chất
Ở trẻ 5 - 6 tuổi, não, hệ thần kinh, hệ cơ, hệ xương… phát triển tương đối mạnh; vận
động của các cơ nhỏ ở ngón tay và bàn tay ngày càng nhanh nhẹn, khéo léo và linh hoạt
hơn. Trẻ không chỉ đặt những khối nhỏ vào đúng chỗ trong trò chơi xây dựng, chơi cắt, dán,
vẽ và xâu hạt mà còn có thể cầm bút để viết hoặc vẽ.
Cũng ở giai đoạn này vận động tinh của trẻ thể hiện rõ ở cả hai tay, trẻ sử dụng cả hai
tay để làm việc và phân biệt được tay thuận và tay không thuận. Khi sử dụng bút chì, việc
nắm bút bằng 3 ngón tay sẽ được thiết lập rõ ràng và trẻ có thể cầm bút đúng, tô chữ cái
thành thạo; vẽ và đồ các hình; vẽ chữ theo mẫu, vẽ hình người với 6 bộ phận; sao chép các
hình tam giác, hình vuông v.v... Sự di chuyển của các ngón tay trong khi vẽ, sao chép được
trẻ di chuyển một cách tỉ mỉ và chính xác hơn.
Vận động tinh của trẻ 5 - 6 tuổi có thể đạt đến các mức độ sau:
- Tự thực hiện các nhiệm vụ đơn giản để chăm sóc bản thân mình như mặc quần áo, đi
vệ sinh, buộc dây giày, ăn uống …
- Làm các động tác linh hoạt bằng tay: thao tác với các vật nhỏ trong bàn tay: cầm,
nắm, búng, bật, rải…; nắm được các vật bằng 2, 3 ngón tay như cầm bàn chải đánh răng,
cầm kéo, bút, lược, thước…một cách thuần thục; dùng một tay giữ vật này, tay kia giữ vật
chuẩn. Đương nhiên cũng có trường hợp vì lý do này lý do kia có những trẻ ở độ tuổi này
phát âm còn ngọng nghịu hoặc chưa phát âm đúng các âm khó (chẳng hạn: hoa ha, gà
hà, ngã ngá…). Trẻ cũng biết nói đúng ngữ điệu để biểu thị thái độ tình cảm: khi
giận giữ ra sao, khi trìu mến thì thế nào. Khả năng này được thể hiện khá rõ khi trẻ kể
chuyện.
Nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh, những điều diễn ra trong cuộc sống thường
nhật, nhu cầu giao tiếp đòi hỏi vốn từ luôn luôn được mở rộng, được làm giàu đối với mỗi
cá nhân. Vốn từ vựng của trẻ tích lũy được cho đến lúc này đã khá phong phú, từ những từ
biểu thị gọi tên sự vật hiện tượng đến những từ biểu thị các hoạt động, trạng thái, thuộc tính
tính chất v.v… Trẻ nắm được vốn từ trong tiếng mẹ đẻ đủ để diễn đạt những điều mình
muốn trong đời sống hàng ngày. Không những thế, trẻ còn biết “sáng tạo” ra những cách
20
nói của riêng mình. Chẳng hạn, Vịt ngã lộn phèo, đỏ choen choét. Đó là biểu hiện của tính
tích cực trong nhận biết và học tập của trẻ - một trong những yếu tố quan yếu cho quá trình
học tập và khám phá sau này. Cùng với quá trình sử dụng từ ngữ, trẻ hiểu và phân biệt được
nghĩa của các từ, hiểu vì sao lại gọi bóng là quả, cột điện là cây, cái buồm là cánh v.v…
Cho đến cuối tuổi mẫu giáo, trẻ có thể sử dụng hầu hết các quy tắc ngữ pháp và nói
chuyện tương đối chuẩn, mặc dù quá trình đó diễn ra không ý thức, khác với việc học ngữ
pháp một cách có ý thức ở trường phổ thông sau này… Trẻ biết sử dụng các kiểu câu: câu
tường thuật, câu hỏi, câu cầu khiến…(xét theo mục đích giao tiếp); các câu đơn giản, câu
phức, câu ghép (xét về cấu trúc cú pháp). Trẻ tự tin hơn khi nói chuyện, diễn đạt mạch lạc
trôi chảy hơn.
Tóm lại, ở giai đoạn 5 - 6 tuổi, một đứa trẻ bình thường phát âm đúng các âm trong
tiếng mẹ đẻ; có một vốn từ ngữ thông dụng đủ để giao tiếp hàng ngày; biết nói những câu
đúng ngữ pháp; biết bày tỏ thái độ tình cảm, sự đánh giá của mình trước hiện thực một
cách thoải mái, mạch lạc. Ở một số trẻ còn có những sáng tạo trong quá trình sử dụng ngôn
ngữ. Tất cả những điều trên cho thấy trẻ 5 - 6 tuổi có khả năng làm quen với việc đọc và
sánh, khái quát… Tuy nhiên, tư duy của trẻ vẫn còn đậm cảm tính và mang sắc thái tình
cảm. Trẻ thường bị hấp dẫn bởi những hình ảnh trực quan bên ngoài. Trẻ ghi nhớ chủ yếu
những gì gây hứng thú hoặc tạo ấn tượng mạnh. Vì vậy, muốn chuẩn bị học viết cho trẻ
hiệu quả cần tổ chức các hoạt động dựa trên hứng thú và nguyện vọng làm cho trẻ có
những cảm xúc mạnh mẽ và ấn tượng sâu sắc với hoạt động đó.
Lúc này, kiểu tư duy trực quan sơ đồ cũng được hình thành. Nhờ đó, trẻ hiểu được
những thuộc tính bản chất của sự vật hiện tượng, giúp trẻ phản ánh một cách khái quát sự
vật, vì thế trẻ lĩnh hội những tri thức ở trình độ khái quát cao. Đây là một bước ngoặt quan
trọng trong sự phát triển tư duy của trẻ chuyển từ hình tượng sang trừu tượng.
Như vậy, việc chuẩn bị học viết cho trẻ 5 - 6 tuổi trước khi bước vào lớp Một cần
được xây dựng đúng với tầm tư duy và năng lực của lứa tuổi. Như thế, nó mới có tác dụng
phát triển tư duy cho trẻ, từng bước giúp trẻ tiến tới khả năng tư duy trừu tượng, từ đó trẻ
sẽ có cơ hội để chuyển sang giai đoạn mới - giai đoạn mà hoạt động chủ đạo là hoạt động
học tập.
1.4. Việc chuẩn bị học viết cho trẻ 5 - 6 tuổi trước khi vào lớp Một
1.4.1. Cơ sở và quá trình học viết của trẻ
1.4.1.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng học viết của trẻ
Học chữ là một quá trình phức tạp và cần có sự chuẩn bị trong một thời gian dài. Có
nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng học chữ của trẻ.
22
Hall, Robvich và Ramig (1979) cho rằng có sáu yếu tố ảnh hưởng đến khả năng học
chữ của trẻ: thể lực, tri giác, nhận thức, xúc cảm, tình cảm, môi trường và kinh nghiệm [24,
tr.123].
- Sẵn sàng về thể chất: Trẻ yếu sức khỏe, không được đáp ứng những nhu cầu ăn nghỉ
có thể có khó khăn trong việc học đọc và học viết. Trẻ kém về thị giác, thính giác hoặc
chậm nói hoặc có vấn đề khác về thể chất cần được chú ý đặc biệt và khắc phục trước khi
bắt đầu quá trình học đọc, học viết.