quá trình thâm nhập của văn minh phương tây vào đông nam á từ thế kỉ xvi đến năm 1945 - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-----------------------

VÕ THÀNH TÂM

QUÁ TRÌNH THÂM NHẬP CỦA
VĂN MINH PHƯƠNG TÂY
VÀO ĐÔNG NAM Á TỪ THẾ KỈ XVI
ĐẾN NĂM 1945

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Thành phố Hồ Chí Minh – 2011


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-----------------------

VÕ THÀNH TÂM

QUÁ TRÌNH THÂM NHẬP CỦA
VĂN MINH PHƯƠNG TÂY
VÀO ĐÔNG NAM Á TỪ THẾ KỈ XVI
ĐẾN NĂM 1945
Chuyên ngành :
Mã số :

Lịch sử Thế giới
602250

Thực hiện

Võ Thành Tâm


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 5
1. Lý do chọn đề tài : ..................................................................................... 5
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề : ....................................................................... 6
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu : ........................................................... 9
4. Phương pháp nghiên cứu : ......................................................................... 9
5. Nguồn tư liệu : ......................................................................................... 10
6. Đóng góp của đề tài : ............................................................................... 11
7. Cấu trúc của đề tài : ................................................................................. 11
CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH VĂN MINH PHƯƠNG TÂY THÂM NHẬP VÀO
ĐÔNG NAM Á ............................................................................................ 12
1.1. Một số khái niệm, thuật ngữ……………………………………...……..12
1.1.1. Khái niệm “văn hóa” ................................................................... 12
1.1.2. Khái niệm “Văn minh” ............................................................... 14
1.1.3. Văn minh và lịch sử .................................................................... 18
1.1.4. Khái niệm “phương Tây” ............................................................ 18
1.1.5. Khái niệm “phương Đông” ......................................................... 20
1.1.6. Khái niệm tiếp xúc, giao lưu và thâm nhập văn minh ................ 27
1.2. Khái quát về điều kiện tự nhiên, dân cư, lịch sử khu vực
Đông Nam Á………………………………………………………….. ……29
1.2.1. Tổng quan về khu vực Đông Nam Á .......................................... 29
1.2.2. Đông Nam Á trước khi văn minh phương Tây thâm nhập ......... 35
1.3. Chính sách của thực dân phương Tây đối với Đông Nam Á…………...37
1.3.1. Quá trình xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây vào Đông Nam
Á ............................................................................................................ 37

2.6.1. Quá trình truyền bá Công giáo vào Đông Nam Á .................... 122
2.6.2. Sự phát triển và ảnh hưởng của Công giáo ở Đông Nam Á ..... 125
2.6.3. Công giáo – cầu nối văn minh phương Tây với Đông Nam Á . 138
CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT ĐÁNH GIÁ VỀ QUÁ TRÌNH THÂM NHẬP CỦA
VĂN MINH PHƯƠNG TÂY VÀO ĐÔNG NAM Á................................. 156
3.3.1. Tiêu cực……………………………………………………………...156
3.3.2. Tích cực……………………………………………………………...158
KẾT LUẬN .................................................................................................. 161
PHỤ LỤC ..................................................................................................... 164
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 168


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài :
Trong mấy thế kỉ Đông Nam Á tiếp xúc và giao lưu với phương Tây, ảnh
hưởng của văn minh phương Tây đã tác động một cách khá sâu rộng vào nhiều lĩnh
vực văn hóa vật chất và tinh thần Đông Nam Á. Tuy tùy lúc tùy nơi, thái độ của cư
dân nơi đây có thể khác nhau – chấp nhận hay chống đối – nhưng rồi cuối cùng bao
giờ cũng là sự thâu hóa linh hoạt, tiếp nhận những gì có ích và biến đổi cho phù hợp
với tính cách, điều kiện và nhu cầu Đông Nam Á.
Do hoàn cảnh và vị thế lịch sử, Đông Nam Á là một trong những nơi tiếp xúc
văn minh phương Tây từ rất sớm nhất. Ngay từ thế kỷ XVI, việc tiếp xúc văn minh
phương Tây ở Đông Nam Á đã diễn ra thông qua các nhà truyền giáo và thương
nhân. Đến khi chủ nghĩa thực dân phương Tây nổ súng xâm lược Việt Nam, việc tiếp
xúc với văn minh phương Tây diễn ra mạnh mẽ hơn. Để phục vụ cho chính sách khai
thác thuộc địa, chủ nghĩa thực dân đã cố gắng tạo ra một thiết chế văn hóa mới theo
kiểu phương Tây trên các lĩnh vực chữ viết, giáo dục, truyền thông, giải trí, kiến trúc,
trang phục, ẩm thực… dưới hình thức cưỡng bức.
Có thể nói, Đông Nam Á là vùng đất của sự hội nhập văn hóa – văn minh. Để
có thể cùng tồn tại và phát triển, hội nhập là một nhu cầu nhất thiết của cư dân nhằm

Đông Nam Á từ thế kỉ XVI đến năm 1945”, tác giả kế thừa nghiêm túc và có chọn
lọc các kết quả nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài, bao gồm các nội dung
về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, yếu tố con người và các nhân tố khác có tác
động đến quá trình du nhập văn minh phương Tây vào Đông Nam Á.
Trước hết phải kể đến Giáo sư Mai Ngọc Chừ trong quyển Văn hóa Đông Nam
Á xuất bản năm 1998, các tác giả Phạm Đức Dương và Trần Thị Thu Lương với Văn
hóa Đông Nam Á (1997), Giáo sư Nguyễn Tấn Đắc (2005) với quyển Văn hóa Đông
Nam Á đã có những nhận xét cũng như trình bày khái quát văn hóa Đông Nam Á trên
nhiều lĩnh vực từ thời cổ đại, trung đại cho đến cận – hiện đại. Tuy nhiên, giai đoạn
văn hóa Đông Nam Á tiếp xúc với văn minh phương Tây chỉ được đề cập tương đối
sơ lược bởi nó chỉ là một phần trong tổng thể tác phẩm.
Về mặt lịch sử, một số tác giả đã có những công trình nghiên cứu chuyên sâu
về Đông Nam Á mà phải kể đến Lịch sử Đông Nam Á của Giáo sư Lương Ninh (chủ
biên năm 2005), Nguyễn Thành Văn (2003) với Bước đầu so sánh chế độ thuộc địa


Anh ở Malaysia và của Pháp ở Việt Nam đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á
số 4/2003; Tiến sĩ Lê Phụng Hoàng (Khoa Lịch sử Trường Đại học Sư phạm Thành
phố Hồ Chí Minh) với loạt bài nghiên cứu, bài giảng về lịch sử các quốc gia Đông
Nam Á từ thế kỉ XII-XIII đến thập niên 1980, lịch sử chế độ thực dân … Tuy nhiên
vì đây là chủ đề lịch sử nên các tác giả đã đi sâu vào lịch sử với quá trình xâm lược
Đông Nam Á của chủ nghĩa thực dân phương Tây và đấu tranh giành độc lập của các
quốc gia Đông Nam Á mà không đề cập nhiều đến quá trình tiếp xúc và giao lưu văn
minh phương Tây với Đông Nam Á.
Khi nghiên cứu về quá trình thâm nhập của văn minh phương Tây vào Đông
Nam Á chúng ta không thể không đề cập đến thời kì các giáo sĩ thừa sai đến vùng đất
này truyền bá đức tin, đặt nền móng cho quá trình giao lưu tiếp xúc với văn minh
phương Tây qua đạo Công giáo. Có thể kể ra những tác phẩm như bộ Lịch sử Giáo
hội Công giáo (Tập 1 và 2 xuất bản năm 1972 tại Sài Gòn, tái bản và hiệu đính tại
Hoa Kì năm 2001) của Linh mục Bùi Đức Sinh, hay Cuộc lữ hành Đức tin – Lịch sử

tố tạo nên bản sắc của một nền văn minh cụ thể, để có thể tiếp thu những cái hay, cái
đẹp của thế giới, làm phong phú thêm văn minh truyền thống của đất nước trong xu
thế hội nhập hiện nay.
Trong Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (1997), nhất là trong Chương 6: Văn
hóa ứng xử với môi trường xã hội, phần Phương Tây với văn hóa Việt Nam, Trần
Ngọc Thêm đã nhấn mạnh một cộng đồng cư dân không chỉ sống trong mối quan hệ
với môi trường tự nhiên mà còn luôn phải quan hệ với các dân tộc xung quanh, đó là
môi trường xã hội. Cách thức ứng xử với môi trường xã hội là thành tố của một hệ
thống văn hóa. Tác giả cũng đề cập đến vị trí ngã tư đường của các nền văn minh của
Việt Nam. Văn minh phương Tây đem lại Kitô giáo và những giá trị văn hóa vật chất,
tinh thần mới mẻ. Điều cần nhận thấy là, đặc tính xuyên suốt của quá trình giao lưu
văn hóa này là, tính tổng hợp – dung hợp – tích hợp của người Việt Nam.
Những nội dung được đề cập ở trên chưa có tính hệ thống, chưa có tính liên
tục, chưa được đi sâu. Như vậy, đề tài này vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra cho giới
nghiên cứu.


3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
Chủ đề của luận văn là “Quá trình thâm nhập của văn minh phương Tây vào
Đông Nam Á từ thế kỉ XVI đến năm 1945”, vì thế tác giả đi sâu tìm hiểu sự du nhập
của văn minh phương Tây vào Đông Nam Á, cụ thể là bối cảnh của quá trình du
nhập, từ trước khi văn minh phương Tây thâm nhập, những yếu tố chủ đạo của văn
minh phương Tây được du nhập, truyền bá và ảnh hưởng đến khu vực Đông Nam Á.
Về không gian, vùng đất Đông Nam Á từ trước khi chủ nghĩa thực dân xâm
chiếm là vùng rất rộng lớn. Vùng đất Đông Nam Á vốn là một địa bàn giao tiếp và đã
từng có nhiều lớp cư dân đến khai phá. Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề
lịch sử thuộc phạm vi không gian địa giới khu vực Đông Nam Á hiện nay, Khi giới
hạn phạm vi nghiên cứu, tác giả có tính đến sự thay đổi về địa giới hành chính qua
các thời kì lịch sử.
Về thời gian, luận văn đề cập đến quá trình khai phá Đông Nam Á, những điều

viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thông tấn xã Việt Nam, Thư viện
Thành phố Cần Thơ, Trung tâm Học liệu Trường Đại học Cần Thơ, Thư viện tỉnh
Vĩnh Long.
Tác giả cũng nhận được sự giúp đỡ khi được tham khảo các tư liệu gửi về từ
Thư viện Lưu trữ Hội Thừa Sai Hải ngoại Paris - Pháp (M.E.P), Thư viện Đại Chủng
viện Thánh Quý – Cần Thơ, Thư viện Đại Chủng viện Thánh Giuse cơ sở 1 (Thành
phố Hồ Chí Minh) và cơ sở 2 tại Xuân Lộc – Đồng Nai, Trung tâm Văn hóa – Đức
tin Công giáo Thành phố Hồ Chí Minh, Thư viện các Tòa Giám mục Vĩnh Long,
Long Xuyên, Thư viện cá nhân của nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, Văn phòng
lưu trữ Nhà thờ Cái Mơn, Thư viện Dòng Tên, Dòng Đaminh, Thánh Phaolô – Thành
phố Hồ Chí Minh …
Một nguồn tài liệu cũng rất có giá trị mà tác giả luận văn thường sưu tầm, đó là
nguồn tài liệu từ Internet, những bài viết bằng tiếng Anh và tiếng Pháp có liên quan
đến luận văn mà bản thân tác giả tự dịch và một số qua sự hỗ trợ dịch thuật từ quý
Giám mục, Linh mục giáo sư Đại Chủng viện.


6. Đóng góp của đề tài :
Luận văn góp phần hệ thống hóa và làm phong phú khối lượng tư liệu liên
quan đến quá trình du nhập cũng như ảnh hưởng của văn minh phương Tây đến Đông
Nam Á. Nguồn tư liệu này được bổ sung vào tư liệu nghiên cứu lịch sử Đông Nam Á
nói chung.
Luận văn còn đóng góp một số kết luận cụ thể về những hệ quả tích cực cũng
như tiêu cực, đặc điểm của quá trình tiếp xúc và giao lưu văn minh phương Tây với
Đông Nam Á. Từ đó có những đề xuất và giải pháp thích hợp trong bối cảnh toàn cầu
hóa hiện nay.
Luận văn cũng cung cấp một số tư liệu, góp phần lấp một khoảng trống trong
việc nghiên cứu quá trình du nhập của văn minh phương Tây ở Đông Nam Á, nhất là
trong việc biên soạn giáo trình, bài giảng về lịch sử Đông Nam Á.
7. Cấu trúc của đề tài :

cách là một đối tượng bao trùm mọi hoạt động của xã hội, thực hiện được chức năng
tổ chức xã hội. Chính văn hóa thường xuyên làm tăng độ ổn định của xã hội, cung
cấp cho xã hội mọi phương tiện cần thiết để ứng phó với môi trường tự nhiên và xã
hội của mình. Văn hóa còn có tính giá trị, bởi vì nó có nghĩa là “trở thành đẹp, thành
có giá trị”. Văn hóa chỉ chứa cái đẹp, chứa các giá trị. Nó là thước đo mức độ nhân
bản của xã hội và con người. Chúng ta cũng phải kể đến tính nhân sinh của văn hóa.
Bởi văn hóa là một hiện tượng xã hội, là sản phẩm hoạt động thực tiễn của con người.


Văn hóa đối lập với tự nhiên, nó là cái tự nhiên đã được biến đổi dưới tác động của
con người, là “phần giao” giữa tự nhiên và con người. Văn hóa còn có tính lịch sử,
thể hiện ở chỗ nó bao giờ cũng hình thành trong một quá trình và được tích lũy qua
nhiều thế hệ. Tính lịch sử tạo cho văn hóa một bề dày, một chiều sâu, và chính nó
buộc văn hóa thường xuyên tự điều chỉnh, tiến hành phân loại và phân bố lại các giá
trị. Tính lịch sử của văn hóa được duy trì bằng truyền thống (truyền: chuyển giao,
thống: nối tiếp).
Như thế, chúng ta có thể nêu ra một định nghĩa văn hóa như sau: Văn hóa là một
hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy
qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường
tự nhiên và xã hội của mình. [63 : 27].
Từ “văn hoá” (tiếng Latinh cultura có nghĩa là cày cấy, vun trồng, cải thiện), rõ
ràng có liên quan đến lao động tích cực cải tạo của con người, về sau từ này chuyển
nghĩa nói về sự khai trí, có giáo dục của bản thân con người. Từ văn hóa (culture,
kultura, kultur…) trong các tiếng châu Âu có nguồn gốc từ tiếng Latinh là cultura, có
nghĩa là trồng trọt, luyện tập, cư trú… Có cultura agri (trồng trọt ngoài đồng) và
cultura animi (trồng trọt tinh thần). Như vậy văn hóa chỉ toàn bộ sản phẩm cả vật chất
và tinh thần mà con người tạo ra. Những sản phẩm đó luôn biến đổi tùy theo sự phát
triển của trình độ con người, nó luôn năng động theo sự phát triển của nền văn minh
nhân loại. Cùng với sự phát triển của khoa học, nội dung của văn hóa được mở rộng
và được chú ý như đối tượng của một khoa học. Sự phát triển của các ngành khoa học

thuật, điển chương… Văn minh là cái dấu vết do đạo đức, lễ nhạc, giáo hóa mà có vẻ
đẹp rõ rệt, trái với dã man. Nhưng “văn minh” là từ dịch từ phương Tây. Từ “văn
minh” trong các ngôn ngữ phương Tây (civilisation, civilization…) đều có nguồn gốc
Latinh là civitas, nghĩa là trạng thái đã được khai hóa, không còn ở trong trạng thái ăn
lông ở lỗ, hái lượm… nay đây mai đó, mà đã định cư thành những cộng đồng, civitas
cũng có nghĩa là tình trạng đã có quốc gia, chính quyền, luật pháp.
Từ văn minh (civilisation, civilization…) được dùng rộng rãi từ thế kỉ XVIII,
tức thế kỉ Ánh Sáng. Trong bộ Từ điển bách khoa (Encyclopédie) do Diderot chủ
biên, từ civilisation được giải thích là sự tiến hóa của nhân loại từ trạng thái dã man
hay bán khai sang trạng thái khai hóa. Các nhà triết học Ánh sáng tiếp tục phát triển


khái niệm văn minh. Nói chung, họ gọi một xã hội dựa trên cơ sở của lí trí và công
bằng là văn minh.
Trong nửa đầu thế kỉ XIX, “văn minh” được dùng để chỉ chủ nghĩa tư bản [40 :
546]. Nhưng quan điểm này không phải là quan điểm duy nhất. Nhà xã hội học người
Nga, N. Ia Danileevski (1822-1885), nêu lên học thuyết phân loại văn hóa (hay văn
minh) chung. Theo ông, không có lịch sử toàn thế giới mà chỉ có lịch sử những nền
văn minh riêng biệt mang tính chất khép kín. [52 : 6].
Nội hàm của khái niệm văn minh được xác định và bổ sung nhờ công trình Xã
hội cổ đại của nhà xã hội học L. H. Morgan (1818-1881). Các thành tố của khái niệm
văn minh theo quan niệm của Morgan được F.Engels đề cập đến trong tác phẩm
Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước [41:53-55]. Nhưng
những thành tố của văn minh như: sự sáng tạo ra chữ việt, công nghiệp và nghệ thuật,
chế độ hôn nhân một vợ một chồng, sự phân chia xã hội thành giai cấp… chỉ mới
được chứng minh qua bốn nền văn minh đã biết lúc đó : Ai Cập, Assyria, Hy Lạp và
Roma.
Những phát hiện của ngành khảo cổ học đầu thế kỉ XX 1 đã phát triển và hoàn
thiện khái niệm văn minh. Vào những năm 1920, nhà khỏa cổ học người Anh, V.
Gordon Childe (1892-1957) đưa ra định nghĩa văn minh trong phạm vi những yếu tố

con người sáng tạo ra trong tiến trình lịch sử. Lâu nay, nhiều người vẫn sử dụng văn
hóa và văn minh như những từ đồng nghĩa. Thực sự, chúng khác nhau cơ bản. Sự
khác nhau giữa văn hóa và văn minh là ở chỗ, văn hóa là toàn bộ những giá trị vật
chất và tinh thần do con người sáng tạo ra từ khi con người ra đời cho đến nay, còn
văn minh là những giá trị vật chất và tinh thần mà con người sáng tạo ra ở giai đoạn
phát triển cao của xã hội. Văn hóa có bề dày lịch sử, còn văn minh là một lát cắt
đồng đại, nó chỉ trình độ phát triển cao của văn hóa. Một dân tộc lạc hậu vẫn có thể
có một nền văn hóa phong phú mang bản sắc độc đáo. Bất cứ một dân tộc nào dù
mông muội hay bán khai, dù lạc hậu hay văn minh đều có văn hóa. Người châu Phi
hay châu Âu, người da đỏ hay người Mĩ ở Hoa Kì, người thiểu số hay đa số ở mỗi
quốc gia đều có văn hóa riêng của họ. Về mặt không gian, phạm vi văn hóa thường
mang dấu ấn của một dân tộc, một vùng, còn văn minh thường mang tính quốc tế
(siêu dân tộc) vì những thành tựu văn minh dễ phổ biến hơn. Văn hóa giàu tính nhân
bản, vị tha và đồng cảm; nó hướng tới những giá trị vĩnh hằng.
Còn văn minh là ý muốn vươn tới sự hợp lí, sự tổ chức xã hội sao cho tiện lợi, phù
hợp với sự phát triển cao của khoa học – kĩ thuật.


Lâu nay, không ít người vẫn sử dụng “văn minh” như một từ đồng nghĩa với
“văn hóa”. “Thực ra, đây là những khái niệm gần gũi, có liên quan mật thiết với nhau,
song không đồng nhất. Văn hóa giàu tính nhân bản, nó hướng tới những giá trị muôn
thuở, trong khi đó thì văn minh hướng tới sự hợp lí, sắp đặt cuộc sống sao cho tiện
lợi”. [63:27].
Nói đến văn minh, người ta chủ yếu nghĩ đến các tiện nghi vật chất. Như vậy
văn hóa và văn minh khác nhau trước hết là ở tính giá trị, trong khi văn hóa là một
khái niệm bao trùm, nó chứa cả các giá trị vật chất lẫn tinh thần, thì văn minh thiên
về các giá trị vật chất mà thôi.
Văn hóa và văn minh còn khác nhau ở tính lịch sử, trong khi văn hóa luôn luôn
có bề dày của quá khứ thì văn minh chỉ là một lát cắt đồng đại, nó chỉ cho biết trình
độ phát triển của văn hóa, từ “văn minh” có thể được định nghĩa khác nhau trong các

phương Tây đô thị chỉ trình độ phát triển nhất định của văn hóa về phương diện vật
chất và mang tính quốc tế. [63:29].
1.1.3. Văn minh và lịch sử
Lịch sử văn minh nhân loại là một bộ phận của lịch sử thế giới, bởi vậy cần
phải thấy được mối liên quan giữa văn minh và lịch sử, phân biệt được ranh giới giữa
hai khái niệm này để từ đó xác định được đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên
cứu cho phù hợp.
Văn minh và lịch sử có liên quan mật thiết với nhau. Một nền văn minh nào đó
chỉ được hình thành và phát triển trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định. Nền văn
minh đó mang “dấu ấn” của hoàn cảnh lịch sử, hay nói cách khác, nó là con đẻ của
lịch sử. Chúng ta không nên đồng nhất văn minh với lịch sử, vì lịch sử là toàn bộ hoạt
động của con người trong quá khứ, đó là những hoạt động chinh phục tự nhiên và đấu
tranh giai cấp. Nó phản ánh mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội. Đối
tượng của lịch sử rộng lớn hơn còn văn minh chỉ đề cập đến trình độ phát triển sản
xuất, trình độ tổ chức xã hội và các thành tựu về tư tưởng, văn hóa, nghệ thuật, khoa
học…
1.1.4. Khái niệm “phương Tây”
Về nguồn gốc mà nói, thuật ngữ “phương Tây” có nguồn gốc hoàn toàn từ
châu Âu, phương Tây của châu Âu. Trong thời kì cổ đại, trung tâm buôn bán, kinh tế
là các vùng ven Địa Trung Hải, người ta dùng thuật ngữ “phương Tây” để chỉ khu


vực phía tây Địa Trung Hải. Với sự phát triển của thời gian, do những hoàn cảnh lịch
sử mà thuật ngữ “phương Tây” bao gồm thêm cả Bắc Mĩ. Có cách hiểu như vậy vì
người ta thấy có sự tương đồng về các yếu tố của văn minh như: lí luận về chính trị
và tổ chức chính trị, lí luận về tổ chức kinh tế, hoàn cảnh sinh hoạt xã hội.
Dưới góc độ của người phương Đông, các thuật ngữ phương Tây, Tây Âu, Tây
Dương, Thái Tây, … có một ý nghĩa hoàn toàn khác hẳn. Nó đơn giản hơn và liên hệ
nhiều đến phương hướng. Phương Tây ở đây là chỉ các vùng đất châu Âu trong buổi
đầu khi có sự tiếp xúc của người châu Âu với người châu Á.

vùng đất chật hẹp nằm ở phía đông Địa Trung Hải, mà còn là những vùng đất xa xôi
bên kia các đại dương. Họ gọi là vùng đất Tân thế giới.
Cùng với quá trình di chuyển dân cư sang vùng đất Tân thế giới, người châu
Âu đã du nhập sang đây ngôn ngữ, lối sống, những thiết chế xã hội… Mặc dù đã diễn
ra quá trình tiếp xúc và giao lưu văn minh, nhưng sự tương đồng về văn hóa, văn
minh là rất lớn (đặc biệt là vùng Bắc Mĩ). Từ đó còn có một cách hiểu mới về phương
Đông: phương Đông là khu vực các nước ngoài châu Âu và Bắc Mĩ.
Trên thực tế, cấu trúc và lịch sử phát triển của các xã hội phương Đông có
nhiều điểm khác biệt với phương Tây. Từ đó một số nhà văn hóa tư sản đã đi đến
những quan điểm cực đoan mang tính chất phản động, như quan điểm của nhà văn
thực dân Anh R. Kipling: “Đông là Đông, Tây là Tây; hai cái đó sẽ không bao giờ
gặp nhau”. [52:15]
Sử học Marxist trong khi khẳng định một nguồn gốc chung, thống nhất cho tất
cả mọi dân tộc, dù là Đông hay Tây, khẳng định những quy luật chung, phổ biến
trong sự tiến hóa kinh tế - xã hội của các nước trên thế giới, thì vẫn thừa nhận những
sự khác biệt trong quá trình tiến hóa riêng của từng nước, từng dân tộc, ảnh hưởng
không nhỏ đến quá trình phát triển của mỗi dân tộc. Sự khác biệt đó là do các điều
kiện tự nhiên và cơ sở xã hội khác nhau của các nước.
Sử học Marxist thường nhấn mạnh đến khuynh hướng xích lại gần nhau của
các xã hội, các dân tộc, nhất là trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay. Các dân tộc dù


ở phương Đông hay phương Tây trước sau rồi cũng sẽ tiến lên một mục tiêu chung
của xã hội loài người.
*
*

*

Như vậy, vấn đề phương Đông, phương Tây là một vấn đề thuộc về nhận thức,

khái niệm phương Đông và phương Tây về mặt văn hóa văn minh. Phương Đông là
một khái niệm do chính người phương Tây đặt ra. Hai khu vực này có sự khác biệt rất
rõ rệt về mọi phương diện. Trong khi các ngôn ngữ phương Tây biến hình thì các
ngôn ngữ phương Đông chủ yếu là đơn lập, trong khi người phương Tây coi trọng cá
nhân thì người phương Đông coi trọng cộng đồng, trong khi người phương Tây chìa
tay ra bắt lúc gặp nhau thì người phương Đông khoanh hoặc chắp tay cúi đầu. Những
khác biệt này xưa nay đã được nhiều người nhắc đến. Có thể thấy sự khác biệt
phương Đông – phương Tây bằng các phạm trù “hướng nội – hướng ngoại”, “trầm
mặc – hoạt động”, “phẩm – lượng” …
Bởi văn hóa – văn minh là sản phẩm của con người và tự nhiên nên nguồn gốc
sâu xa của mọi sự khác biệt về văn hóa chính là do những khác biệt về điều kiện tự
nhiên (địa lí – khí hậu) và xã hội (lịch sử - kinh tế) quy định.
Môi trường sống của các cộng đồng cư dân ở phương Đông (chính xác hơn là
Đông Nam) là xứ nóng sinh ra mưa nhiều (ẩm), tạo nên những vùng đồng bằng nằm
trong lưu vực các con sông lớn. Còn phương Tây lại là xứ lạnh với khí hậu khô, tạo
nên những vùng đồng cỏ mênh mông.
Hai loại địa hình đồng bằng và đồng cỏ dẫn đến chỗ cư dân của hai khu vực
phải sinh sống bằng hai nghề khác nhau: trồng trọt và chăn nuôi. Kinh tế trồng trọt
bắt buộc người dân phải sống định cư, vì khi trồng cái cây xuống thì phải chờ cho nó
lớn lên, ra hoa kết trái để còn thu hoạch. Ấy là chưa kể đến những loại cây lâu năm,
phải trồng công phu, phải chờ 5 – 10 năm mới có quả, rồi lại thu hoạch nhiều lần. Lối
sống chăn nuôi thì khác: tài sản của dân du mục là đàn gia súc. Gia súc ăn cỏ và
không bị cố định như cái cây, ăn hết cỏ không thể ngồi đợi cho cỏ mọc mà phải đi tìm
bãi cỏ khác. Cho nên sống bằng nghề du mục là lối sống du cư – vừa đi vừa ở nay
đây mai đó lang thang.


Kết quả là hình thành một cách rõ ràng hai loại văn hóa: Văn hóa nông nghiệp
thì lo tạo dựng một cuộc sống ổn định lâu dài, không xáo trộn – chúng mang tính chất
trọng tĩnh; văn hóa du mục thì lo tổ chức làm sao để có thể thường xuyên di chuyển

thương nghiệp biển. Trên cơ sở đó, Hi Lạp và Roma đã phát triển cao về kinh tế và xã
hội, làm cơ sở cho một nền văn hóa rất rực rỡ. [88:20]. Còn W. Durant trong cuốn
Nguồn gốc văn minh thì cho biết: “Tại những bộ lạc săn bắn và mục súc, loài bò là
một đơn vị giá trị rất tiện… Vào thời đại Homer ở Hi Lạp người ta đánh giá người và
vật bằng số bò… Người La Mã cũng vậy, họ dùng hai danh từ gần giống nhau –
pecus và pecunia để chỉ bò và tiền bạc” [9:33]. Xem thế đủ thấy nguồn gốc du mục
và con đường từ du mục đến thương mại của phương Tây đã quá rõ ràng.
Sự khác biệt giữa văn minh phương Đông và phương Tây được thể hiện trong
cách ứng xử với môi trường tự nhiên. Nếu dân nông nghiệp sống phụ thuộc nhiều vào
thiên nhiên, đã ở cố định một chỗ với ngôi nhà, cái cây của mình thì phải có ý thức
tôn trọng, không dám ganh đua với thiên nhiên, sống hòa hợp với thiên nhiên – đó là
mong muốn của cư dân các nền văn hóa trọng tĩnh phương Đông, trong đó có cư dân
Đông Nam Á. Còn dân du mục thì nếu thấy ở nơi này không thuận tiện, họ có thể dễ
dàng bỏ đi nơi khác, do vậy dễn đến tâm lí coi thường thiên nhiên, bởi vậy mà các
nền văn hóa phương Tây trọng động mang trong mình tham vọng chinh phục và chế
ngự thiên nhiên.
Trong sách Khởi Nguyên của Kinh Thánh Cựu Ước, ta thấy tường thuật lại lời
Thiên Chúa phán với tổ tiên loài người: “Hãy sinh sôi nảy nở và hãy nên đầy dẫy
trên đất. Và hãy bá chủ nó! Hãy trị trên cá biển và chim trời cùng mọi loài sinh vật
trên đất” (Khởi nguyên, đoạn 1, câu 28) [65:5]. Trong Kinh Tiền Tụng Sách lễ
Roma, trước khi vị chủ tế đọc lời truyền phép trong thánh lễ của đạo Công giáo có
đoạn: “Chúa đã tác thành mọi sự trong vũ trụ và đã sắp đặt cho thời gian thay đổi
tuần hoàn. Còn loài người, Chúa đã dựng nên giống hình ảnh Chúa và bắt mọi sự kỳ
diệu quy phục loài người, để họ thay quyền Chúa thống trị mọi loài Chúa đã sáng tạo
và luôn ca tụng Chúa vì muôn việc kỳ diệu Chúa đã làm”. [68:45]. V.C. Ferkiss đã
nhận xét rằng tư tưởng phương Tây cổ truyền, từ triết học Hi-La, qua Kitô giáo, đến
triết học duy lý Descartes luôn bộc lộ “khuynh hướng khuyến khích một thái độ thù
địch với thiên nhiên… thiên nhiên phải được chinh phục, vì nó là thù nghịch” [73:
12-18].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status