nghiên cứu - trao đổi
Nguyễn Hữu Thanh *
1. Vài nét về hoạt động rửa tiền trên
thế giới
Một số thông tin gần đây cho biết số tiền
tẩy rửa hàng năm ở các nớc đang phát triển
từ 1 đến 2 tỉ USD, ở các nớc giàu lên tới
100 tỉ USD, ở một số trung tâm tài chính lớn
trên thế giới số tiền tẩy rửa có thể từ 300 đến
500 tỉ USD. Theo ớc tính của Quỹ tiền tệ
quốc tế (IMF), các hoạt động phạm tội trên
thế giới có thể rửa tiền từ 1000 tỉ đến 3000 tỉ
USD/năm. Ngời ta có thể nhắc đến Ngân
hàng Citigroup (Mĩ) với vụ dính líu đến hoạt
động rửa tiền bị phát hiện thông qua cuộc
điều tra hành vi tham nhũng của cựu Tổng
thống Philippin Joseph Estrada; vụ Cục điều
tra liên bang Mĩ (FBI) tiến hành điều tra
Ngân hàng New york về số tiền khổng lồ 7,5
tỉ USD mà một số công dân Nga đ trung
chuyển qua đây; và gần đây là vụ ông chủ
tịch Câu lạc bộ bóng đá Fiorentina (Italia)
Vittorio Cechio Gori phải tuyên bố giao phó
quyền kiểm soát công ti cổ phần của mình
cho ban đốc công vì bản thân có dính dáng
đến rửa tiền... Những cái tên nh Ăngtigoa,
đảo quốc Nauru, Liechtenstein, Libăng,
Urugoay... đang trở thành những thiên đờng
cho nạn rửa tiền hoành hành. Ngay tại các
Cùng tồn tại với khái niệm này là quan
điểm của lực lợng thực thi các hoạt động tài
* Vụ pháp chế
Ngân hàng nhà nớc Việt Nam
nghiên cứu - trao đổi
chính chia hoạt động rửa tiền thành các hoạt
động: Xác định điểm "tập kết" (tuồn tiền mặt
vào nền kinh tế hợp pháp hoặc chuyển lậu
qua biên giới), tạo vỏ bọc (phân tán nguồn
gốc bằng cách tạo nên các cơ cấu vỏ bọc
phức tạp) và hợp nhất (đa các nguồn tiền đ
đợc tẩy rửa trở lại nền kinh tế).
Thuật ngữ đợc sử dụng trong Công ớc
của Liên hợp quốc năm 1988 về phòng
chống buôn bán bất hợp pháp ma tuý nhằm
nói đến sự chuyển đổi (tiền mặt sang các tài
sản khác) có thể liên quan đến việc xác định
điểm "tập kết" trong một tổ chức tín dụng;
che giấu nguồn gốc hoặc quyền sở hữu thực
sự và tạo ra cho chúng cách hiểu hợp pháp.
Dù cách đánh giá nh thế nào, tựu chung
lại, "luật chơi" của những kẻ rửa tiền là làm
sao tạo đợc khoảng cách xa nhất giữa khoản
tiền, tài sản định tẩy rửa với nguồn gốc tội
phạm của chúng. Lợi dụng tính chất địa lí,
bọn tội phạm thờng tìm cách đa các khoản
tiền "bẩn" ra nớc ngoài và cùng với những
"hợp pháp hóa", cùng biết rõ tiền, tài sản do
phạm tội mà có thông qua các nghiệp vụ tài
chính, ngân hàng, các giao dịch khác hoặc
các hoạt động kinh doanh, hoạt động kinh tế
38 - Tạp chí luật học
khác. Sự phân biệt ở đây có thể đợc làm rõ
hơn ở hai khía cạnh sau:
- Về phơng thức thực hiện: ở hành vi
thứ nhất, đó là các nghiệp vụ tài chính, ngân
hàng hoặc các giao dịch khác (cho vay, gửi
tiền, mua bán, tặng cho...) trong khi ở loại
hành vi thứ hai là hoạt động kinh doanh, hoạt
động kinh tế khác. Trên khía cạnh nhất định,
phơng thức thực hiện ở loại hành vi thứ hai
có tính chất đầu t lâu dài và liên tục. Nhà
làm luật thể hiện ý tởng của mình khi nhấn
mạnh đến tính chất "giao dịch" và tính chất
"hoạt động", trong đó có thể nói tính giao
dịch đợc thực hiện nhanh chóng và ngắn
hạn. Kẻ rửa tiền đem tiền gửi vào ngân hàng
- việc làm chiếm không nhiều thời gian - đ
có thể hoàn chỉnh hành vi thứ nhất. Nhng
để hoạt động kinh doanh đợc thì kẻ đó phải
mất nhiều thời gian hơn, chẳng hạn mua nhà
xởng, máy móc, thuê cửa hàng và tiến hành
buôn bán để kiếm lời.
- Về đối tợng sử dụng: ở loại hành vi
thứ hai, tài sản và tiền do phạm tội mà có
đợc trực tiếp đa vào sử dụng trong hoạt
rửa tiền mà không đáp ứng đủ cả 3 yếu tố đó.
Ví dụ, ngời nhận chuyển khoản tiền có
nguồn gốc tội phạm qua biên giới chỉ nhằm
kiếm đợc khoản tiền công nào đó; hoặc
nhân viên hải quan không tuân thủ nghiêm
chỉnh quá trình khám xét, để cho khoản tiền
có nguồn gốc tội phạm qua cửa khẩu thì liệu
rằng họ có bị xử lí về tội tẩy rửa tiền trong
khi họ không chủ động tiến hành các hoạt
động theo nh quy định hoặc không vì mục
đích hợp pháp hóa? Liệu rằng có thể căn cứ
vào 2 yếu tố trên để kết luận về mục đích
phạm tội của họ? Nghĩa là ngời vì động cơ
nào đó (tham lam, t lợi, nể nang, tắc
trách...) đ tham gia vào các hoạt động có
dính líu đến tiền, tài sản do phạm tội mà có
nhng không vì mục đích hợp pháp hóa, nói
cách khác, với lỗi cố ý gián tiếp, ngời thực
hiện hành vi có bị truy cứu về tội tẩy rửa tiền
không?
Theo cuốn Bình luận khoa học BLHS
1999 thì "chủ thể của tội phạm bao gồm cả
ngời có tiền, tài sản đem đi "rửa" (hợp
pháp hóa) và ngời tiếp tay cho ngời đi
"rửa tiền" (nhân viên tài chính, ngân hàng
nhận tiền gửi mà biết rõ đó là tiền bất hợp
pháp..." và "tội phạm này đợc thực hiện do
lỗi cố ý trực tiếp".(1) Nh vậy, vấn đề nữa đặt
ra ở đây là mục đích hợp pháp hóa có phải là
hội, thấy trớc hậu quả của hành vi đó và
Tạp chí luật học - 39
nghiên cứu - trao đổi
mong muốn cho hậu quả xảy ra) hoặc cố ý
gián tiếp (kẻ phạm tội nhận thức rõ hành vi
của mình nguy hiểm cho x hội, thấy trớc
hậu quả của hành vi đó, không mong muốn
nhng bỏ mặc cho hậu quả xảy ra). Do đó,
chỉ cần làm rõ yếu tố thứ nhất và yếu tố thứ
hai là có thể xác định hành vi tẩy rửa tiền.
Cần xem xét dấu hiệu này trong mối
quan hệ với hành vi chứa chấp, tiêu thụ tiền,
tài sản do phạm tội mà có đợc quy định ở
Điều 250 BLHS năm 1999. Cuốn Bình luận
khoa học BLHS của Viện nghiên cứu khoa
học pháp lí năm 1992 giải thích hành vi chứa
chấp hoặc tiêu thụ nh sau: "Ngời phạm tội
đ chứa chấp, cất, giấu giếm hoặc tiêu thụ
nh mua, bán, trao đổi... Tiêu thụ tức là
chuyển tài sản chiếm đoạt bằng con đờng
phạm tội dới bất kì hình thức nào vào trong
tay ngời khác. Cất giữ ở đây là việc chiếm
giữ tạm thời tài sản đó".(2) Có lẽ cơ quan tiến
hành tố tụng sẽ dễ dàng hơn khi kết luận một
ngời đang thực hiện hành vi chứa chấp tài
sản do ngời khác phạm tội mà có khi phát
hiện ngời này đang cất giữ, giấu giếm tài
c. Theo đó, liệu rằng trên thực tế, để cáo
buộc ngời có hành vi rửa tiền, cơ quan tiến
hành tố tụng phải chỉ rõ tội phạm nguồn là
tội phạm cụ thể này hay chỉ cần chứng minh
can phạm biết tiền của mình sử dụng có
nguồn gốc tội phạm nói chung là đủ? Tội
phạm nguồn có thể do chính kẻ đang tiến
hành tẩy rửa tiền thực hiện trớc đó hoặc do
kẻ khác thực hiện. Nếu theo nh yêu cầu thứ
nhất, sẽ rất khó khăn cho cơ quan tiến hành
tố tụng, nhất là khi tiền, tài sản có nguồn gốc
tội phạm đ đợc quay vòng nhiều lần hoặc
tiền, tài sản đợc tẩy rửa bởi những tên rửa
tiền chuyên nghiệp, chỉ cần nhận tiền để tẩy
rửa và lấy chi phí mà không hề biết tiền đấy
từ đâu ra. Quá trình điều tra có thể từ tội
phạm nguồn lần tìm theo con đờng chu
chuyển của khoản tiền đó hoặc tìm ngợc trở
lại nguồn gốc của khoản tiền này trong giao
dịch có nghi vấn. Đây là việc làm cực kì khó
khăn nhng cũng mang tính thuyết phục rất
nghiên cứu - trao đổi
cao. Nếu xét theo yêu cầu thứ hai, cơ quan
tiến hành tố tụng sẽ phải dựa trên rất nhiều
yếu tố suy đoán, nhân chứng, tình tiết vụ
án... để chứng minh rằng đối tợng không
thể không biết tiền đó là tiền có nguồn gốc
khởi tố với tội danh quy định tại Điều 251.
Tuy nhiên, trên thực tế không phải không có
những dấu hiệu tẩy rửa tiền đ và đang tồn
tại ở Việt Nam, đặc biệt thời gian vừa qua
hàng loạt những vụ án về buôn bán ma tuý,
tham nhũng, những vụ án kinh tế với các
khoản tiền và tài sản kếch sù bị xử lí không
thể không làm ngời ta nghi ngờ về nguồn
gốc và đờng đi của chúng. Tẩy rửa tiền có
sự khởi nguồn từ các tội phạm khác và đến
lợt mình, nó lại trở thành điểm xuất phát
cho hàng loạt các tội phạm mới. Cơ chế xử lí
đối với vấn đề này rất phức tạp, vừa tấn công,
vừa phòng thủ, cần một cơ chế thông tin và
xử lí thông tin, hợp tác giữa các cơ quan
chức năng, hợp tác quốc tế... làm sao ngăn
chặn đợc các luồng tiền "bẩn" mà không
làm ảnh hởng đến hoạt động bình thờng,
đặc biệt là các hoạt động kinh tế. Bài viết
này chỉ xin đợc nêu một số suy nghĩ làm rõ
đợc phần nào các khía cạnh về nội dung,
đặc điểm của hành vi tẩy rửa tiền nói chung
và tội tẩy rửa tiền nói riêng. Để thay cho lời
kết luận, xin đợc dẫn lời ông Joel Sollier Phó giám đốc Nhà pháp luật Việt - Pháp từng
nói trong cuộc hội thảo pháp luật về đấu
tranh phòng chống tội hợp pháp hóa tiền, tài
sản do phạm tội mà có: "Nếu muốn phòng
chống hiện tợng tẩy rửa tiền thì phải nghiên
cứu về mặt lí luận rất nhiều để hiểu thế nào