phân loại cho vay của tổ chức tín dụng và ý nghĩa pháp lý của việc phân loại đó - Pdf 33

Bài tập lớn - Luật Ngân hàng

NỘI DUNG

TRANG

A. LỜI MỞ ĐẦU

1

B. NỘI DUNG

1

I. Khái quát về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng

1

II. Phân loại cho vay của TCTD

3

1. Phân loại TCTD dựa vào thời hạn sử dụng vốn vay

3

a. Cho vay ngắn hạn

3

b. Cho vay trung hạn


4. Phân loại cho vay dựa vào phương thức vay

10

a. Cho vay từng lần

10

b. Cho vay theo hạn mức tín dụng

11

c. Cho vay theo dự án đầu tư

12

d. Cho vay hợp vốn

12

e. Cho vay trả góp

13

f. Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng

13

g. Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng

chức tín dụng. Vì vậy, các tổ chức tín dụng càng đa dạng hoá các hình thức cho
vay bao nhiêu thì càng tạo ra các điều kiện thuận lợi cho các tổ chức cá nhân có
nhu cầu về vốn có được điều kiện tiếp cận vốn để sản xuất kinh doanh hay phục
vụ sinh hoạt tốt hơn. Vì những đặc điểm quan trọng như trên, em xin chọn để tài
“phân loại cho vay của tổ chức tín dụng và ý nghĩa pháp lý của việc phân loại
đó”.
B. NỘI DUNG
I. Khái quát về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng
Theo Khoản 1 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (Luật các
TCTD 2010) thì Tổ chức tín dụng (TCTD) được định nghĩa như sau: “Tổ chức
tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân
hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ
chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân”. Khoản 2, 4, 5 và 6 Điều 4 Luật
các TCTD năm 2010 giải thích về các thuật ngữ: Ngân hàng, Tổ chức tín dụng
phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và Quỹ tín dụng nhân dân như sau:
“2. Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả
các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu
hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng
chính sách, ngân hàng hợp tác xã.
2
Đinh Quý Đôn – KT33A035


Bài tập lớn - Luật Ngân hàng

4. Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực
hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này, trừ các
hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài
khoản của khách hàng. Tổ chức tín dụng phi ngân hàng bao gồm công ty tài
chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác.

giữa hai bên.
- Thứ tư, việc cho vay bao giờ cũng dựa trên sự tín nhiệm giữa người cho
vay đối với người đi vay về khả năng hoàn trả tiền vay.
Bên cạnh những dấu hiệu chung của quan hệ cho vay, hoạt động cho vay của tổ
chức tín dụng còn có những dấu hiệu đặc thù sau:
- Thứ nhất, việc cho vay của TCTD là hoạt động nghề nghiệp kinh doanh
mang tính chức năng.
- Thứ hai, hoạt động cho vay của TCTD là một nghề nghiệp kinh có điều
kiện.
- Thứ ba, ngoài việc tuân thủ các quy định chung của pháp luật về hợp
đồng, hoạt động cho vay của TCTD còn chịu sự điều chỉnh, chi phối của các đạo
luật về ngân hàng, thậm chí cả các tập quán thương mại về ngân hàng.
II. Phân loại cho vay của TCTD
Việc phân loại cho vay của TCTD cần phải căn cứ vào nhiều tiêu chí cơ
bản khác nhau, mỗi cách phân loại đều có ý nghĩa và mục đích nhất định.
1. Phân loại TCTD dựa vào thời hạn sử dụng vốn vay
Căn cứ vào tiêu chí này, hoạt động cho vay của các TCTD phân thành các
loại:
a. Cho vay ngắn hạn
- Theo Khoản 1 Điều 8 của Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày
31/12/2001 ban hành Quy chế vay của TCTD đối với khách hàng thì “cho vay
ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng”. Ta thấy đây là
loại hình cho vay có thời hạn dưới 1 năm, vì thế hình thức cho vay này chủ yếu
nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn lưu động của khách hàng trong hoạt động kinh
4
Đinh Quý Đôn – KT33A035


Bài tập lớn - Luật Ngân hàng


Bài tập lớn - Luật Ngân hàng

+ Cho vay ngắn hạn các công trình xây dựng: cho vay đối với các doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây lắp thiếu vốn để mua nguyên liệu … Cho
vay ngắn hạn trong trường hợp này cần chú ý những điểm sau:
Thứ nhất, việc xem xét cho vay chủ yếu phải dựa vào từng hợp đồng nhận
thầu;
Thứ hai, đối tượng cho vay là tiền thuê nhân công, thiết bị để thực hiện thi
công công trình;
Thứ ba, kỳ hạn nợ được xác định dựa vào kế hoạch thi công theo hợp
đồng nhận thầu;
Thứ tư, nguồn thu nợ là tiền thanh toán của nhà đầu tư, hợp đồng nhận
thầu là cơ sở để bảo đảm cho khoản tiền vay.
Hoạt động cho vay ngắn hạn của TCTD còn được áp dụng với các loại vay để
kinh doanh chứng khoán, vay để kinh doanh bán lẻ và cho vay đối với các định
chế tài chính khác.
+ Cho vay chiết khấu giấy tờ có giá: đây là một nghiệp vụ ngắn hạn được
thực hiện dưới hình thức chuyển nhượng quyền sở hữu chứng từ cho tổ chức tín
dụng để nhận một khoản tiền bằng mệnh giá trừ đi chiết khấu. Chứng từ có giá là
những phương tiện chuyển tải và dự trữ giá trị do những đơn vị được phép phát
hành hợp pháp và được pháp luật thừa nhận như kì phiếu, trái phiếu, tín phiếu,
thương phiếu.
+ Thấu chi: là một nghiệp vụ cho vay ngắn hạn bổ sung vốn lưu động
nhằm cân đối ngân quỹ hàng ngày trên tài khoản vãng lai của khách hàng.
Nghiệp vụ thấu chi được thực hiện bằng cách cho phép khách hàng được dư nợ
tài khoản vãng lai một số lượng tiền nhất định và trong một thời gian nhất định.
b. Cho vay trung hạn
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 8 của Quyết định số 1627/2001/QĐNHNN ngày 31/12/2001 ban hành Quy chế vay của TCTD đối với khách hàng
6
Đinh Quý Đôn – KT33A035

Đinh Quý Đôn – KT33A035


Bài tập lớn - Luật Ngân hàng

cho thấy phạm vi về thời hạn cho vay của TCTD là ngân hàng thường diễn ra
rộng hơn, phổ biến hơn so với các loại hình TCTD khác.
2. Phân loại cho vay của TCTD dựa vào tính chất có bảo đảm của
khoản vay
Với tiêu chí này, hoạt động cho vay của các TCTD bao gồm các loại sau:
a. Cho vay có bảo đảm bằng tài sản
Đây thực chất là hình thức bảo đảm tín dụng. Nghĩa là TCTD sẽ áp dụng
các biện pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo ra cơ sở kinh tế, pháp lí để thu hồi
các khoản nợ đã cho khách hàng vay. Có thể nhận thấy đây là hình thức cho vay
mà trong đó nghĩa vụ trả nợ tiền vay được bảo đảm bằng tài sản của bên vay
hoặc của người thứ ba (người bảo lãnh khoản tiền vay).
+ Cho vay có bảo đảm bằng tài sản thế chấp là việc bên vay vốn thế chấp
tài sản của mình cho bên cho vay để đảm bảo khả năng chi trả, hoàn trả vốn vay.
Thế chấp tài sản là việc bên đi vay sử dụng bất động sản thuộc sở hữu của mình
hoặc giá trị quyền sử dụng đất hợp pháp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với
bên cho vay.
Đối với thế chấp bất động sản thì tất cả các bất động sản thuộc sở hữu hợp
pháp của cá nhân hay tổ chức đều có thể dử dụng để thế chấp vay vốn của
TCTD. Khi thế chấp thì hai bên, Ngân hàng và khách hàng phải có thoả thuận
với nhau về việc định giá tài sản thế chấp và kí hợp đồng thế chấp có sự chứng
nhận hợp pháp của Phòng công chứng.
Đối với việc thế chấp bằng giá trị quyền sử dụng đất thì do đất đai ở Việt
Nam thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý và thực hiện giao
đất hoặc cho thuê đất đối với cá nhân, hộ gia đình, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ
trang, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội ổn định lâu dài. Trong các chủ

+ Cho vay bằng hình thức bảo lãnh.
Bảo lãnh là việc bên thứ ba cam kết với bên cho vay ( người nhận bảo
lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay bên đi vay (người được bảo lãnh) nếu khi đến
9
Đinh Quý Đôn – KT33A035


Bài tập lớn - Luật Ngân hàng

hạn mà người được bảo lãnh không thực hiện hoặc không thể thực hiện đúng
nghĩa vụ trả nợ. Bảo lãnh có thể chia làm hai loại chính:
Thứ nhất, bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba (bên bảo lãnh) cam kết với
bên cho vay về việc sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ
trả nợ thay cho bên đi vay, nếu đến hạn trả nợ mà bên đi vay không thực hiện
hoặc không thể thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ.
Thứ hai, bảo lãnh bằng tín chấp của tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội là
biện pháp đảm bảo tiền vay trong trường hợp cho vay không có bảo đảm bằng tài
sản, theo đó tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội tại cơ sở bằng uy tín của mình
bảo lãnh cho bên đi vay.
b. Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản
Đây là hình thức cho vay mà trong đó nghĩa vụ hoàn trả tiền vay không
được bảo đảm bằng các tài sản thuộc quyền sở hữu của khách hàng vay hoặc của
người thứ ba. Để thực hiện cho vay theo hình thức này thì thông thường các bên
chỉ cần giao kết một hợp đồng duy nhất là hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên, trường
hợp TCTD cho vay có bảo lãnh bằng tín chấp thì mặc dù khoản bat này không
thể xem là khoản vay có bảo đảm bằng tài sản nhưng người bảo lãnh bằng tín
chấp vẫn phải xác lập văn bản cam kết bảo lãnh bằng uy tín của mình và gửi cho
TCTD để khách hàng vay có thể được TCTD chấp nhận cho vay.
Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản nhìn chung là hình thức cho vay tương
đối mạo hiểm của TCTD nên cần tuân thủ các điều kiện về vay vốn:

gia dụng, mua sắm nhà cửa hoặc phương tiện đi lại, thậm chí bao gồm cả việc sử
dụng vốn vay vào mục đích học tập của sinh viên…
4. Phân loại cho vay dựa vào phương thức vay
Theo tiêu chí này, việc cho vay của TCTD đối với khách hàng được chia
làm các loại sau:
a. Cho vay từng lần
Cho vay từng lần được quy định tại Khoản 1 Điều 16 của Quyết định số
1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 ban hành Quy chế vay của TCTD đối
với khách hàng. Theo phương thức này, mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức
11
Đinh Quý Đôn – KT33A035


Bài tập lớn - Luật Ngân hàng

tín dụng phải thực hiện thủ tục vay vốn và ký kết hợp đồng tín dụng theo quy
định.
b. Cho vay theo hạn mức tín dụng
Cho vay theo hạn mức tín dụng quy định tại Khoản 2 ĐIều 16 của Quyết
định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 ban hành Quy chế vay của
TCTD đối với khách hàng.
- Phương thức cho vay này áp dụng với khách hàng vay ngắn hạn có nhu
cầu sử dụng vốn thường xuyên, kinh doanh ổn định.
- Xác định mức tín dụng theo các điều kiện:
+ Ngân hàng Nhà nước nơi cho vay sau khi nhận đủ các tài liệu của khách
hàng tiến hành xác định hạn mức tín dụng
+ Đối với khách hàng sản xuất, kinh doanh tổng hợp thì phương án sản
xuất, kinh doanh của khách hàng là tổng hợp phương án sản xuất kinh doanh của
từng đối tượng, theo đó Ngân hàng Nhà nước nơi cho vay xác định hạn mức tín
dụng cho cả phương án sản xuất, kinh doanh tổng hợp.

ngày 31/12/2001 ban hành Quy chế vay của TCTD đối với khách hàng
- TCTD cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển
sản xuất kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống.
- TCTD và khách hàng ký hợp đồng tín dụng và thoả thuận mức vốn đầu
tư duy trì cho cả thời gian đầu tư của dự án, phân định các kỳ hạn trả nợ.
- TCTD thực hiện giải ngân theo tiến độ thực hiện dự án
- Mỗi lần rút vốn, khách hàng lập giấy nhận nợ tiền vay trong phạm vi
mức vốn đầu tư đã thoả thuận; kèm theo các chứng từ xin vay phù hợp với mục
đích sử dụng vốn trong hợp đồng tín dụng
- Trường hợp khách hàng đã dùng nguồn vốn huy động tạm thời khác để
chi phí cho dự án được duyệt trong thời gian chưa vay được vốn thì Ngân hàng
nhà nước nơi cho vay có thể xem xét cho vay bù đắp nguồn vốn đó.
d. Cho vay hợp vốn

13
Đinh Quý Đôn – KT33A035


Bài tập lớn - Luật Ngân hàng

Cho vay hợp vốn được quy đinh tại Khoản 4 Điều 16 của Quyết định số
1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 ban hành Quy chế vay của TCTD đối
với khách hàng
Theo phương thức này, một nhóm TCTD cùng cho vay đối với dự án vay
vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng, trong đó có một TCTD làm đầu
mối dàn xếp, phối hợp với các TCTD khác.
e. Cho vay trả góp
Cho vay trả góp được quy định tại Khoản 5 Điều 16 của Quyết định số
1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 ban hành Quy chế vay của TCTD đối
với khách hàng, theo đó: Khi vay vốn, TCTD và khách hàng xác định và thoả

thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản
thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng
dịch vụ thanh toán.
i. Các loại cho vay khác
Ngoài ra, còn có các phương thức cho vay khác mà pháp luật không cấm
phù hợp với quy định của pháp luật và điều kiện kinh doanh của TCTD và đặc
điểm của khách hàng vay.
III. Ý nghĩa pháp lý của việc phân loại cho vay của các TCTD
Qua những phân tích như trên, ta có thể thấy việc phân loại cho vay của
TCTD theo nhiều tiêu chí như trên có những ý nghĩa nhất định:
- Việc phân loại cho vay của TCTD không những có ý nghĩa quan trọng
trong quá trình nghiên cứu lý luận mà nó còn có ý nghĩa sâu sắc trong hoạt động
của các TCTD trong thực tiễn. Các nhà làm luật Việt Nam có thể căn cứ vào việc
phân loại cho vay của các TCTD mà xây dựng thành những quy chế cho vay phù
hợp với hoạt động thực tiễn về nghiệp vụ tài chính của TCTD. Bên cạnh đó cũng
dựa trên kết quả phân loại cho vay trong hoạt động tín dụng của TCTD cũng đã
tạo điều kiện giúp cho mỗi tổ chức tín dụng có thể xây dựng, hoạch định cho
mình những chiến lược, chính sách kinh doanh phù hợp để phát triển.
15
Đinh Quý Đôn – KT33A035


Bài tập lớn - Luật Ngân hàng

- Vấn đề phân loại cho vay giúp các TCTD có nền cơ sở lý luận để xây
dựng các quy tắc nghiệp vụ tương thích với từng loại cho vay, phục vụ tốt hơn
các hoạt động của TCTD trong thực tế.
- Với mỗi hình thức cho vay trong thực tế luôn có những điểm tích cực và
những điểm hạn chế, bất hợp lý gây ra những trở ngại cho các TCTD cũng như

ngày 03/02/2005 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế cho vay của
tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành theo Quyết định số
1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001;
6. Quyết định 26/2006/QĐ-NHNN ngày 26/06/2006 ban hành Quy chế bảo lãnh
Ngân hàng;
7. Một số vấn đề pháp lý về hoạt động cho vay đầu tư chứng khoán của Tổ chức
tín dụng ở Việt Nam – Khoá luận tốt nghiệp - Nguyễn Thị Thu Hương;
8. Chế độ thế chấp tài sản vay vốn Tổ chức tín dụng và biện pháp bảo đảm thực
hiện - Luận văn tốt ngiệp - Nguyễn Trọng Vinh;
9. Pháp luật điều chỉnh hoạt động vay vốn trung, dài hạn của các Tổ chức tín
dụng ở Việt Nam, Thực trạng và một số kiến nghị - Khoá luận tốt nghiệp - Phạm
Trung Hiếu.

17
Đinh Quý Đôn – KT33A035




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status