Đảng bộ nghệ an với công tác phát triển công nghiệp trong 20 năm đổi mới (1986 2005 - Pdf 33

Trờng đại học vinh

Khoa lịch sử
----- -----

Trần thị mai

Khoá luận tốt nghiệp

đảng bộ nghệ an với công tác
phát triển công nghiệp trong
20 năm đổi mới
(1986-2005)
Chuyên ngành: lịch sử đảng
Lớp 46b niên khoá 2005-2009

Giáo viên hớng dẫn: t.s trần vũ tài
Vinh, tháng 05-2009
Vinh, tháng 5 - 2009

Qui ớc về các chữ cái viết tắt
Sử dụng trong khoá luận
Viết tắt

Viết đầy đủ

Bch
CNH, HĐH
Cnxh

ban chấp hành

1
2
3
3.1
3.2
4
4.1
4.2
5
6

1.1
1.1.1
1.1.2
1.2
1.2.1
1.2.2
1.2.3

Lý do chọn đề tài
Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu
Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu
Nguồn tài liệu
phơng pháp nghiên cứu
Đóng góp của đề tài
Bố cục của đề tài
Nội dung

34


2.1
2.1.1
2.1.2
2.2.
2.2.1
2.2.2

3.1
3.1.1
3.1.2
3.2
3.2.1
3.2.2
3.3
3.3.1
3.3.2
3.3.3
3.4
3.4.1
3.4.2

năm đầu đổi mới (1986-1995)
Hoàn cảnh và chủ trơng phát triển công nghiệp của Đảng
Đờng lối phát triển công nghiệp của Trung ơng Đảng
Chủ trơng của Đảng bộ Nghệ An
Những chuyển biến của công nghiệp Nghệ An từ 1986-1995
Công nghiệp chuyển sang cơ chế mới (giai đoạn 1986-1991)


3

34
35
37
39
39
44
50
50
50
52
53
53
61
68
68
72
74
74
74
75
77
79


khỏi những sai sót. Tác giả kính mong quý thầy (cô), các bạn độc giả sau khi tiếp
xúc với bài viết này sẽ có những đóng góp chân thành và quý báu cho tác giả để
hoàn thiện khả năng của bản thân. Xin chân thành cảm ơn!

Trong tiến trình cách mạng giai cấp công nhân Nghệ An đã viết nên những
trang sử oanh liệt thời kỳ 1930-1931. Đây chính là những tiền đề rất thuận lợi
cho sự phát triển của ngành công nghiệp Nghệ An.
Tuy nhiên, sau những năm tháng chiến tranh là hậu quả rất nặng nề; trong
quy hoạch trọng điểm u tiên phát triển công nghiệp của cả nớc Nghệ An không
có tên. Do vậy, ngành công nghiệp Nghệ An trở về điểm xuất phát thấp; trong
thời kỳ đổi mới, bản thân ngời Nghệ tự biết mình làm công nghiệp không giỏi.
Vì thế, để tạo sức bật mới cho nền kinh tế tỉnh nhà trong sự nghiệp CNH,
HĐH, Đảng bộ và nhân dân quyết tâm vực dậy nền công nghiệp Nghệ An với
những bớc đi, giải pháp thiết thực, cụ thể. Qua 20 năm đổi mới dới sự lãnh đạo
của Đảng mà trực tiếp là Đảng bộ Nghệ An, ngành công nghiệp tỉnh nhà đã có
những tiến bộ đóng góp vào sự phát triển kinh tế của tỉnh vì một mục tiêu
chung Dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.
Một thực tế cho thấy nhu cầu tìm hiểu về lịch sử địa phơng đang trở thành
một nhu cầu có sự đòi hỏi cấp thiết trong quần chúng nhân dân. Nó xuất phát
từ lòng yêu quê hơng, yêu xứ sở, yêu đất nớc của mỗi ngời dân đất Việt.
Nghiên cứu về sự phát triển công nghiệp dới sự lãnh đạo của Đảng bộ Nghệ
An cũng là nghiên cứu một phần lịch sử địa phơng.
Là một ngời con của xứ Nghệ, đựơc học tập ngay trên quê hơng với lòng
tự hào tôi có mong muốn tìm hiểu về lịch sử của nơi chôn nhau cắt rốn của
mình; Mặt khác là sinh viên chuyên ngành lịch sử Đảng, tôi muốn tìm hiểu
xem dới sự lãnh đạo của Tỉnh uỷ, nền công nghiệp đợc đánh giá còn non kém
của tỉnh nhà trong hai thập niên đầu đổi mới có những thành tựu và hạn chế
gì?
Bởi những lý do đó, chúng tôi lựa chọn đề tài Đảng bộ Nghệ An với công
tác phát triển công nghiệp trong 20 năm đổi mới (1986-2005) làm khoá luận
tốt nghiệp đại học chuyên ngành Lịch sử Đảng của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Công nghiệp là vấn đề thu hút đợc sự quan tâm của nhiều giới, đặc biệt là
vấn đề công nghiệp trong 20 năm đổi mới (1986-2005). Vậy nên, bàn về kinh

Ngoài ra trong cuốn sách Kinh tế - xã hội - văn hoá Nghệ An trong
tiến trình đổi mới, (Nguyễn Duy Quý) NXB Nghệ An,1994 có đề cập đến
một số vấn đề về công nghiệp Nghệ An trong giai đoạn này nh là thực trạng
của nền công nghiệp quốc doanh
Tóm lại, công nghiệp Nghệ An trong 20 năm đổi mới chỉ đợc đề cập từ
những góc độ chuyên môn khác nhau, lẻ tẻ và thiếu tính hệ thống.
Vậy nên, trên cơ sở kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các công
trình đã đợc công bố, chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu và trình bày có hệ

6


thống, toàn diện, khách quan về những chuyển biến của công nghiệp tỉnh nhà
trong 20 năm đổi mới dới sự lãnh đạo của Đảng bộ Nghệ An.
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu:
3.1.

Đối tợng nghiên cứu

Đối tợng nghiên cứu của đề tài này Đảng bộ Nghệ An với công tác phát
triển công nghiệp trong 20 năm đổi mới (1986-2005).
3.2.

Phạm vi nghiên cứu:

Do đề tài xác định nội dung tập trung nghiên cứu là Đảng bộ Nghệ An
với công tác phát triển công nghiệp trong 20 năm đổi mới (1986-2005) nên
không gian nhiên cứu chỉ tập trung vào Nghệ An; về thời gian là từ 1986-2005.
Tuy nhiên, để có cái nhìn toàn diện về giai đoạn, về những mặt làm đợc
và cha làm đợc của nền sản xuất công nghiệp tỉnh nhà dới sự lãnh đạo của

toàn cảnh công nghiệp Việt Nam. Từ đó nhằm làm rõ những thành tựu và hạn
chế của công nghiệp Nghệ An trong thời kỳ mới qua đó sẽ thấy đợc vai trò
lãnh đạo của Đảng bộ sở tại.
Mặt khác, với đề tài này chúng tôi muốn đóng góp về công tác t liệu trong
nghiên cứu lịch sử Đảng bộ địa phơng ở phơng diện phát triển kinh tế công
nghiệp.
6. Bố cục của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo; nội dung chính của đề
tài đợc chia làm 3 chơng:
Chơng 1: Khái quát tình hình công nghiệp Nghệ An trớc đổi mới
Chơng 2: Đảng bộ Nghệ An với công tác phát triển công nghiệp 10 năm
đổi mới (1986-1995)
Chơng 3: Đảng bộ Nghệ An với việc phát triển công nghiệp thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa (1995-2005)

8


Nội dung
Chơng 1: khái quát tình hình công nghiệp
nghệ an trớc đổi mới
1.1.

Vài nét về điều kiện tự nhiên - xã hội Nghệ An

1.1.1. Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý
Nghệ An - Tỉnh dẫn đầu các tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ và là 1 trong
những tỉnh lớn nhất nớc ta với tổng diện tích tự nhiên là 16.487,29 km2, chiếm
khoảng 5% diện tích cả nớc. Lãnh thổ Nghệ An trải dài theo hớng tây bắc - đông

Là nơi bắt đầu thắt lại của dải đất miền Trung, Nghệ An - Một trong những
yết hầu trên con đờng xuyên Việt, án ngự sau lng là dãy Trờng Sơn hùng vĩ, trải ra
trớc mặt là Biển Đông rộng lớn. Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Huệ đã chọn
vùng đất Yên Trờng, huyện Châu Lộc, trấn Nghệ An để xây dựng thành Phợng
Hoàng Trung Đô. ở đây vừa có khí tợng tơi sáng, vừa có thể khống chế đợc
trong Nam, ngoài Bắc và tiện lợi cho việc đi lại.
Tuy nhiên, vị trí địa lý cũng tạo nên một số khó khăn nhất định về mặt khí
hậu. Mặt khác địa hình bị chia cắt mạnh gây khó khăn trong xây dựng các công
trình kết cấu hạ tầng, đờng, điện, thuỷ lợi.
Mặc dù có những khó khăn nhng nhìn chung có thể thấy vị trí địa lý là một
lợi thế so sánh của tỉnh Nghệ An trong quá trình hợp tác hội nhập khu vực và
quốc tế, có tiềm năng lớn phát triển kinh tế nói chung, kinh tế công nghiệp nói
riêng.
* Khí hậu
Nghệ An thuộc đới khí hậu gió mùa chí tuyến, á đới có mùa đông lạnh. Khí
hậu có sự phân hoá theo chiều Bắc Nam, Đông Tây (trong chừng mực nhất định)
và theo độ cao của địa hình. Khí hậu cuả Nghệ An tơng đối khắc nghiệt, đặc biệt
là bão và gió phơn Tây Nam đã gây ra những trở ngại không nhỏ cho sản xuất và
đời sống

10


Hàng năm, lãnh thổ của Nghệ An nhận đợc lợng bức xạ của mặt trời phong
phú với tổng bức xạ là 131,8 kcal/cm 2/năm và cán cân bức xạ là 87,3
kcal/cm2/năm (tại trạm Vinh). Nhiệt độ trung bình 23-24 oC. Số giờ nắng trung
bình đạt 1500-1700 giờ.
Khí hậu đa dạng nên có thể phát triển cây trồng vật nuôi phong phú đa dạng
là nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến.
* Đất đai

đến 68 họ, 510 loại cây thân gỗ cha kể thân thảo, thân leo và hạ đẳng. Trữ lợng gỗ
tự nhiên và gỗ trồng là rất lớn. Hàng năm có thể khai thác theo đùng quy trình
khai thác thay thế là 10 000 m3. Ngoài ra, còn trữ lợng lớn tre, nứa, mét, song
mây có thể phục vụ cho công nghiệp giấy; nhiều loại dợc liệu là nguồn dợc liệu
quý cho phát triển công nghiệp dợc phẩm.
* Biển
Nghệ An hớng ra biển Đông với bờ biển dài 82km và 6 cửa lạch. Hải phận
Nghệ An có khoảng 4 230 hải lí vuông. Vùng biển có nhiều động vật phù du là
nguồn thức ăn cho các loài cá sinh sống và phát triển.
Theo điều tra của viện nghiên cứu hải sản trữ lợng cá tập trung nhiều ở đáy
và ngoài khơi. Cá biển có tới 267 loài, tập trung ở các loài lớn nh cá trích 3039%, cá nục 15-20%, cá cơm 10-15%. Tôm biển cũng có đến 8 loài sống tập
trung ở vùng nớc sâu 30m trở vào. Mực cũng có nhiều loại sống tập trung gần bờ
thuận tiện cho việc khai thác. Tổng trữ lợng các loại hải sản là 84 nghìn tấn, khả
năng khai thác 52 nghìn tấn/năm.
Với diện tích nuôi trồng thuỷ sản là 3254,34 ha (6/2000) sản lợng nuôi trồng
thuỷ sản đạt 7-8 ngàn tấn hàng năm.
Hiện tại Nghệ An là 1 tỉnh sản xuất muối lớn của miền Bắc, hàng năm sản
xuất 80-100 nghìn tấn/năm.
Khai thác kinh tế từ biển, đẩy mạnh nuôi trồng để phát triển công nghiệp
chế biến hải sản là hớng quan trọng để làm giàu cho tỉnh nhà.
* Khoáng sản
Khoáng sản Nghệ An đợc đánh giá là đa dạng. Trong đó vật liệụ xây dựng là
1 tiềm năng lớn của tỉnh.
Trên lãnh thổ của tỉnh có nguồn đá vôi phong phú, phân bố ở nhiều nơi, với
trữ lợng ớc khoảng 650 triệu m3. ở một vài vùng núi đá vôi tập trung thành một
quần thể, thuận tiện cho việc hình thành các khu công nghiệp vật liệu xây dựng
tập trung: Hoàng Mai, Kim Nhan (Anh Sơn). Riêng khu đá vôi Hoàng Mai có trữ
lợng 350 triệu m3, dễ khai thác gần quốc lộ 1, đờng sắt và cảng Nghi Sơn (Thanh
Hoá). Ngoài ra đá vôi còn có thể khai thác ở Đô Lơng, Tân Kì, Nghĩa Đàn, Quỳ
Hợp.

kiệm, căn cơ, giản dị, nhân hậu, trung thành, dũng cảm, khẳng khái, cơng quyết
[17,22].
Con ngời Nghệ An với bản sắc và truyền thống của mình là một nguồn lực
rất quan trọng cho sự phát triển của tỉnh nhà. Trong lĩnh vực phát triển kinh tế,
đặc biệt là trong lĩnh vực công nghiệp nguồn lực này có những thuận lợi và khó
khăn nhất định.
Về thuận lợi:

13


Dân số Nghệ An tăng đều đặn qua các năm. Trớc khi tái lập, dân số của cả
tỉnh là 2.498 nghìn ngời (năm 1990) đến năm 1995 tăng lên 2.715 nghìn ngời. Tại
thời điểm tổng điều tra dân số và nhà ở 1-4-1999, dân số của tỉnh đạt 2.858.265
ngời. Với số dân này, Nghệ An đứng hàng thứ 3 trong toàn quốc, chỉ sau thành
phố Hồ Chí Minh và Thanh Hoá. Bởi thế, nguồn lao động của Nghệ An rất dồi
dào và thờng xuyên gia tăng. Năm 1997, số dân trong độ tuổi lao động là
1.351.888 ngời. Đến năm 2000, con số này đã là 1.361.459 ngời, chiếm 46,48%
dân số. Nh vậy tiềm năng về lao động Nghệ An là rất lớn.
Vậy nên trong công cuộc đổi mới tỉnh cần khai thác truyền thống, tiềm năng
con ngời xứ Nghệ, để hình thành nên đội ngũ công nhân công nghiệp và cán bộ
quản lý, cán bộ kĩ thuật trong phát triển công nghiệp.
Về khó khăn:
Trong điều kiện hiện nay, ngời lao động phải có trình độ học vấn và chuyên
môn kĩ thuật thì mới đáp ứng đợc yêu cầu của sản xuất. ở Nghệ An, tỉ lệ lao động
đã qua đào tạo mới chỉ chiếm 10,65% tổng số lao động đang làm việc trong nền
kinh tế quốc dân (1-4-1999). Số ngời có trình độ từ cao đẳng trở lên còn rất hạn
chế (cao đẳng: 0,9%, đại học: 1,86%, trên đại học: 0,03%).
Một đặc điểm nổi bật trong lao động công nghiệp Nghệ An là thiếu lao đông
kỹ thuật và cán bộ quản lý công nghiệp, các chuyên gia đầu ngành. Mặt khác, ngời Nghệ An có nhiều hạn chế nặng về bảo thủ, thiên tả, cục bộ, sự thích ứng với

398

566

1130

+Đờng cấp phối

1.470

2.150

2.635

+Đờng đá dăm

242

660

373

- Đờng sắt

124

124

124


Hệ thống thông tin liên lạc phát triển nhanh đáp ứng đợc nhu cầu thông tin
liên lạc hỗ trợ đắc lực cho việc tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật ứng
dụng vào các ngành công nghiệp.
Nhìn chung cơ sở hạ tầng Nghệ An còn hạn chế nên cha tận dụng hết các
nguồn lực, đặc biệt là trong công nghiệp chế biến.
* Đánh giá chung
- Những lợi thế so sánh:
+ Vị trí địa lý kinh tế thuận lợi, có đủ điều kiện để phát triển ngành công
nghiệp giữ vai trò chủ đạo trong công cuộc đổi mới.
+ Tài nguyên phong phú đa dạng để phát triển công nghiệp đa ngành, trong
đó một số ngành công nghiệp có điều kiện để phát triển tập trung có quy mô

15


(ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp chế bến lâm sản,
nông sản,...) làm tiền đề phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ, dịch vụ công
nghiệp và thay đổi cơ cấu cây trồng ngành nghề nông thôn.
+ Lực lợng lao động dồi dào, nhất là lực lợng lao động trẻ, có hệ thống các
trờng dạy nghề và trờng đại học để đào tạo nguồn.
+ Hạ tầng đã và đang đợc tập trung đầu t đáp ứng yêu cầu phát triển.
+ Sự chỉ đạo của Trung ơng và Tỉnh uỷ Nghệ An trong điều kiện đất nớc ổn
định về chính trị, quốc phòng, an ninh đợc giữ vững đã khơi dậy tinh thần vơn lên
khắc phục khó khăn, phát huy nội lực xây dựng quê hơng.
- Những hạn chế, thách thức:
+ Nghệ An với điều kiện khí hậu khắc nghiệt, địa hình dàn trải , lại không
nằm trong quy hoạch phát triển công nghiệp trọng điểm cả nớc, kết cấu hạ tầng
cha đồng bộ, đã hạn chế không nhỏ đến phát triển công nghiệp của Tỉnh nhà.
+ Xuất phát điểm kinh tế của tỉnh thấp. Công nghiệp Nghệ An chủ yếu là
công nghiệp vừa và nhỏ. Nền kinh tế còn mang đặc trng của một nền kinh tế phi

tranh xâm lợc nớc ta. Tuy nhiên, phải sau hiệp ớc Hác - măng (1883) và hiệp ớc
Patơnốt (1884) thực dân Pháp mới hoàn tất về mặt pháp lý về việc chiếm đóng lâu
dài ở nớc ta với triều đình nhà Nguyễn.
Trong khoảng thời gian từ 1884-1919, để phục vụ cho nền kinh tế chính
quốc nên dù rất hạn chế nhng các tập đoàn t bản Pháp đã xây dựng cơ sở đầu tiên
cho công nghiệp bản xứ . Trớc hết là ở các thành phố, đô thị với một số ngành
công nghiệp: diêm, dệt, than đá. Nh vậy, nói đến công nghiệp theo đúng nghĩa
của nó, thì phải kể từ khi thực dân Pháp xâm chiếm Việt Nam, công nghiệp hiện
đại mới hình thành những mầm mống đầu tiên.[3, 38].
Công nghiệp Nghệ An hình thành và phát triển trong bối cảnh chung đó.
Ngày 20-7-1885, quân đội Pháp cho 3 đại đội đổ bộ vào Cửa Hội, đánh
chiếm thành Nghệ An. Năm 1896, sau khi dập tắt phong trào Cần Vơng, t sản
Pháp bắt đầu thực hiện quá trình đầu t t bản vào Nghệ An.
Quá trình đó đợc minh chứng bởi các sự kiện:
Ngày 12-7-1899, vua Thành Thái ký đạo dụ thành lập đô thị Vinh cùng với 4
đô thị khác. Dới sự tác động của chính quyền thực dân ngày 11-3-1914, Bến
Thuỷ đợc nâng lên thành thị xã. Ngày 2-8-1917, thị xã Trờng Thi đợc thành lập.
Đến 10-12-1927, chính quyền thực dân đã ra nghị định thành lập thành phố Vinh
- Bến Thuỷ. Nh vậy trong chơng trình khai thác thuộc địa của Pháp tại Nghệ An,
Vinh là một trung tâm quan trọng.
Từ những năm cuối thế kỷ XIX, t bản Pháp tập trung vào khai thác lâm
nghiệp, lập đồn điền, hình thành hệ thống giao thông và bắt đầu mở một số nhà
máy chế biến lâm sản.
Năm 1892, công ty lâm sản và thơng mại Trung kỳ đợc thành lập đặt tại
Vinh, nhà máy ca Xiri. Năm 1908, thực dân Pháp xây dựng nhà máy sữa chữa xe
lửa Trờng Thi. Năm 1922, nhà máy Diêm Bến Thuỷ đi vào hoạt động. Bên cạnh
đó, một số xí nghiệp vừa và nhỏ của t sản ngời Việt, ngời Hoa cũng đợc phát
triển.

17

Anh em công, đình công bãi dịch
Anh em nông, tranh đấu biểu tình
đã làm cho:

Quân Tây một vía bốn chồn
Nam triều địa chủ kinh hồn tả tơi;

18


Tiếp đó là cuộc tổng bãi công lớn của công nhân Trờng Thi ngày 6-7-1937 đợc
các xí nghiệp trong thành phố cùng phối hợp hành động; cuộc tổng khởi nghĩa
giành chính quyền tháng 8-1945 ở Nghệ An.
Những cơ sở trên đã sớm hình thành một nền công nghiệp ở Nghệ An. Từ đó
tạo ra những tiền đề về vật chất và tinh thần cho sự phát triển công nghiệp tỉnh
sau này.
1.2.2. Công nghiệp Nghệ An trong 30 năm chiến tranh
* Trong kháng chiến chống Pháp
- Sự hình thành và phát triển công nghiệp quốc phòng:
Cách mạng tháng 8-1945 thành công, chính quyền Dân chủ Nhân dân đợc
thiết lập, nớc Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra đời. Chính quyền mới đứng trớc một
tình thế chỉ mành treo chuông. Riêng về công nghiệp lại ở trong tình trạng sa
sút nghiêm trọng do hậu quả của chiến tranh, đặc biệt là trong công nghiệp khai
thác và công nghiệp chế biến.
Các hoạt động trong công nghiệp khai thác giảm sút một cách nghiêm trọng.
Năm 1945 sản lợng khai thác than chỉ đạt 231.000 tấn (năm 1940 là 2.500.000
tấn, nghĩa là cha đạt 1-10). Tơng tự các mỏ khai thác kẽm, thiếc, sắt, phốt phát
cũng chỉ khai thác đợc 8.967 tấn (năm 1940 là 74.490 tấn ). Kéo theo đó, công
nhân trong nghành mỏ cũng giảm sút từ 39.500 công nhân (1940) xuống còn
4.000 (1995), tức là còn 1/10 sức lao động.

các cơ sở khai thác than đá đợc phục hồi, xây dựng và phát triển nhằm phục vụ
cho cả quốc phòng và dân sinh.
Hoà chung với cả nớc, công nghiệp Nghệ An có nhiệm vụ hậu chiến lợc của
chiến trờng Bắc Bộ, hậu phơng trực tiếp của Bình - Trị - Thiên, chi viện cho cuộc
cách mạng Lào. Để làm tròn nhiệm vụ đó, việc trớc tiên là xây dựng cơ sở công
nghiệp quốc phòng ở khu an toàn và tiếp tục khai thác ngành nghề thủ công
truyền thống.
Tháng 9-1945, Chính phủ thành lập Cục Quân Giới. Tại tỉnh nhà, ngay sau
khi thực dân Pháp gây hấn ở Nam Bộ, 23-9-1945 lập Ban chế tạo vũ khí (xởng
Đặng Thái Thân do đồng chí Đinh Văn Đức tập hợp, đóng tại xã Thanh Thuỷ nay
là Nam Thanh - Nam Đàn). Từ đó xởng không ngừng đợc mở rộng, đến năm 1949
trở thành công binh xởng lớn nhất Nghệ An.
Tháng 12-1946 bùng nổ kháng chiến toàn quốc, sau khi có lệnh sơ tán triệt
để, các cơ sở công nghiệp ở thành phố Vinh với gần 2000 tấn máy móc, công cụ,
nguyên vật liệu đều đợc chuyển lên vùng trung du, miền núi dọc theo các triền
sông Lam, sông Giăng, một bộ phận theo đờng sắt ra ga Yên Lý, đờng ô tô ngợc
lên Nghĩa Đàn, vùng sông Hiếu, sông Con.
Đầu năm 1947, mặt trận Bình - Trị - Thiên vỡ, một số đồng bào chủ yếu là
học sinh, sơ tán ra vùng Nghệ Tĩnh. Theo đó công binh xởng của tỉnh Quảng Trị
hợp nhất với nhà đèn Đông Hà, chuyển sang Sở quân giới khu 4 quản lý.

20


Giữa năm 1948, Cục quân giới lập phân nha kỹ thuật ở Nghệ An bao gồm 2
bộ phận: Bộ phận cơ, nghiên cứu các phơng pháp công nghệ và chế tạo các công
cụ; bộ phận hoá, nghiên cứu sản xuất các loại thuốc nổ. Đến đầu năm 1950 thì
giải thể.
- Khai thác và phát triển công nghiệp địa phơng:
Từ những năm cuối thập niên 50, do nhu cầu kháng chiến kiến quốc, đợc sự



Thời kỳ 1955-1965 là thời kỳ mà nhân dân tỉnh nhà cùng với nhân dân cả nớc sau gần một thập niên chiến tranh, mới giành đợc hoà bình ở miền Bắc và bắt
tay đăt nền móng cho nền kinh tế độc lập, tự chủ.
Sau ngày hoà bình lập lại, công nghiệp miền Bắc nói chung và công nghiệp
Nghệ An nói riêng có mấy đặc điểm đáng lu ý:
Hầu hết các nhà máy lớn và quan trọng nh xe lửa Trờng Thi, Diêm ca Bến
Thuỷ đều bị phá huỷ, tê liệt hoạt động. Lại thêm hậu quả của trận lụt 1954, tiếp
đến là trận rét khủng khiếp vào đầu năm 1955. Mặt khác, trong khi ta đang lo
khắc phục những hậu quả đó thì địch với âm mu Biến miền Bắc thành sa mạc để
lại cho Việt Minh đã lợi dụng điều khoản 14d của Hiệp định Giơnevơ để dụ dỗ,
cỡng ép đồng bào công giáo vào Nam. Tình hình đó làm cho đời sống công nhân
càng khó khăn, công thơng nghiệp đình đốn.
Tháng 9-1954, Bộ Chính trị đã đề ra nghị quyết với chủ trơng khôi phục sản
xuất ngang mức trớc chiến tranh, trớc hết là nông nghiệp, sau là sản xuất công
nghiệp nhẹ và thủ công nghiệp sản xuất hàng hoá tiêu dùng, đồng thời phát triển
một số ngành công nghiệp nặng cần thiết cung cấp t liệu sản xuất cho sản xuất
nông nghiệp.
Đẩy mạnh cuộc cách mạng XHCN, Nghị quyết 14 (tháng 10-1958) đợc đề ra
và triển khai thực hiện. ở Nghệ An các nhà máy của Trung ơng: nhà máy điện
Vinh (8000 kw), nhà máy Nớc Vinh (1.200m3/ngày), nhà máy Gỗ, nhà máy Đờng
Sông Lam đã đợc xây đựng, tạo điều kiện cho tỉnh nhà phát triển công nghiệp
địa phơng và tiểu thủ công nghiệp.
Kết quả là đến năm 1960, giá trị tổng sản lợng công nghiệp địa phơng so với
năm 1955 tăng 80,5%. Trong đó: Quốc doanh và công t hợp doanh tăng 30,4%;
thủ công nghiệp tăng 60,6%. Tổng số lao động là 104.071 ngời. Trong đó: Quốc
doanh và công t hợp doanh là 3.069 ngời; thủ công nghiệp là 101.002 ngời.
Thắng lợi của công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - văn hoá 3 năm
(1958-1960) đã làm khởi sắc bộ mặt chính trị - xã hội của tỉnh, góp phần cùng với
công nghiệp miên Bắc làm thay đổi tính chất nền kinh tế thuộc địa và nửa phong

cá, muối, vật liệu xây dựng đã phát triển với tốc độ khá nhanh. Cụ thể: Khai thác
Gỗ tròn năm 1961 đạt 136.400 m3, năm 1964 đạt 193.400 m3; Cá biển năm 1961
đạt 21.524 tấn đến năm 1964 đạt 24.143 tấn; Muối năm 1961 đạt 36.582 tấn đến
năm 1964 đạt 46.887 tấn; Gạch năm 1961 đạt 21 triệu viên đến năm 1964 đạt 41
triệu viên. [25,57].
Nhịp độ sản xuất công nghiệp đang trên đà phát triển thì đế quốc Mỹ mở cuộc
chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất. Ngày 5-8-1964, Mỹ ném bom đánh
phá vùng Vinh - Bến Thuỷ và một số nơi khác trên miền Bắc. Từ đây nhân dân ta
lại phải đơng đầu với cuộc chiến đấu mới quyết liệt hơn và công nghiệp cũng bớc
sang thời kỳ mới.
Thời kỳ 1965-1975. Thời kỳ này hoạt động công nghiệp chuyển biến theo tình
hình chiến cuộc và nhiệm vụ của quân dân Nghệ An với công cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nớc.

23


Từ năm 1965 đến 1968, Mỹ ồ ạt đa quân vào miền Nam thực hiện cuộc chiến
tranh cục bộ. Đồng thời, tăng cờng phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải
quân. Nhận định tình hình sẽ diễn biến phức tạp, kế hoạch có thể bị xáo trộn; nền
kinh tế hỗn loạn; đời sống nhân dân và nhiệm vụ chi viện tiền tuyến có thể gặp
khó khăn. Thực hiện chủ trơng vừa sản xuất, vừa sẵn sàng chiến đấu, cán bộ
công nhân ngành công nghiệp Nghệ An đã cùng với quân dân tỉnh nhà đã hạn chế
tới mức thấp nhất thiệt hại, sơ tán di chuyển kịp thời, đảm bảo an toàn lực lợng,
nhanh chóng ổn định sản xuất, du nhập đợc nhiều ngành nghề mới, trang bị kỹ
thuật cho một số ngành quan trọng. Riêng ngành cơ khí và trang bị kỹ thuật cho
các cơ sở trớc chiến tranh chỉ còn 22 máy công cụ đến năm 1968 có 100 máy, 40
tổ máy phát điện độc lập với tổng công suất 1.800 kw. Các hợp tác xã cơ khí cũng
đợc trang bị thêm: 22 máy phát điện điêzen, 4 tổ máy phát, 70 máy công cụ cắt
gọt.

tăng 170% so với 1964 là năm đạt cao nhất trớc chiến tranh nhng cha đáng kể.
Năm 1972, Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ 8 đợc tổ chức đã
đánh giá và đề ra phơng hớng, nhiệm vụ cho ngành công nghiệp. Tiếp đó, thờng
vụ Tỉnh uỷ ra Nghị quyết chuyển hẳn mọi hoạt động sang thời chiến với 7 nhiệm
vụ cụ thể: Chiến đấu giỏi, phòng tránh tốt, trị an vững; Giao thông vận tải hông
suốt; chuyển hớng kinh tế toàn diện, phát động cao trào lao động sản xuất
Mặt khác để cứu nguy cho chính quyền nguỵ ở miền Nam, Mỹ gây lại cuộc
chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ hai với quy mô, cờng độ lớn hơn nhiều so
với lần thứ nhất. Các cơ sở sản xuất công nghiệp cũng là mục tiêu đánh phá.
Tính đến tháng 10 năm 1972, 30 trong số 50 xí nghiệp, 97 trong số 127 cơ sở
thủ công nghiệp đã bị đánh, có nơi bị đánh đi đánh lại nhiều lần, nhiều nhất là Gỗ
Đô Lơng 16 lần, hợp tác xã Trung Kiên 22 lần.[25,100].
Qua thực tế chiến đấu, lao động và sản xuất đã xuất hiện những điển hình tiên
tiến trong công nghiệp và thủ công nghiệp. Những đơn vị anh hùng trong những
năm trớc đây vẫn tiếp tục phát huy truyền thống ngoan cờng dũng cảm nh nhà
máy Điện Vinh và phà Bến Thuỷ. Những cơ sở có nhiều tiến bộ nổi bật trong
quốc doanh nh Xí nghiệp Gỗ Đô Lơng, Phốt phát Song tình hình sản xuất công
ghiệp và thủ công nghiệp nói chung còn nhiều khó khăn và nhợc điểm, tuy đã có
nhiều cố gắng.
Trớc sức tấn công mạnh mẽ của quân dân ta đã biến cuộc tập kích khổng lồ
của Mỹ thành Điện Biên Phủ trên không đánh bại ý chí xâm lợc của kẻ thù.
Thời kỳ 1973 - 1975: Bớc vào thời kỳ này, Nghệ An mang theo những di sản
của các thời kỳ trớc đó để lại. Đó là những tổn thất nặng nề sau hai lần chống
chiến tranh phá hoại với 15.203 ngời chết, 20.605 ngời bị thơng, 100% xí nghiệp
và cơ sở sản xuất bị phá huỷ. Thành phố Vinh trở thành đống gạch vụn, các công
trình thuỷ lợi, trờng học, bệnh viện đều bị đánh phá. Điều này đã ảnh hởng
nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống nhân dân.

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status