CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN THỪA CÂN Ở TRẺ - TUỔI TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON QUẬN GÒ VẤP, TP HỒ CHÍ MINH NĂM 2005 - Pdf 33

Nghiên cứu Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 11 * Phụ bản của Số 1 * 2007

CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN THỪA CÂN Ở TRẺ 2 - 6 TUỔI TẠI CÁC
TRƯỜNG MẦM NON QUẬN GÒ VẤP, TP. HỒ CHÍ MINH NĂM 2005
Trương Công Hòa *

TÓM TẮT
Mở đầu: Thừa cân / béo phì hiện nay là vấn đề y tế cộng cộng nổi bật tại các đô thò lớn. Xác đònh được
các yếu tố liên quan đến thừa cân sẽ góp phần xây dựng chương trình can thiệp cộng đồng phòng chống thừa
cân ngay từ lứa tuổi mầm non.
Mục tiêu: Xác đònh các yếu tố liên quan đến thừa cân ở trẻ 2-6 tuổi tại các trường mầm non quận Gò Vấp,
TPHCM năm 2005.
Phương pháp: Nghiên cứu bệnh chứng, tiến hành trong năm 2005 trên 441 trẻ đang học tại các trường
mầm non Gò Vấp với tỷ số bệnh chứng là 1/2. Các yếu tố về tiền căn gia đình, tiền sử của trẻ, thói quen ăn
uống của trẻ, thói quen sinh hoạt và hoạt động thể lực của trẻ và kiến thức phụ huynh về thừa cân được thu
thập bằng cách phát phiếu câu hỏi soạn sẵn cho giáo viên và phụ huynh tự điền độc lập.
Kết quả: Tiền sử bú sữa mẹ là yếu tố bảo vệ (OR=0,24, p=0,004), nguy cơ TC ở trẻ háu ăn gấp 10,4 đến
13,8 lần so với trẻ mức ăn bình thường (OR= 10,4 – 13,8, p< 0,001), hiếu động là yếu tố bảo vệ (OR=0,03,
p=0,011) và trình độ học vấn của cha tăng lên một cấp thì khả năng TC ở trẻ tăng lên gấp 2 lần (OR=2,07,
p=0,022).
Kết luận: Ngành y tế của quận Gò Vấp có thể sử dụng các yếu tố liên quan đã được xác đònh (nuôi con
bằng sữa mẹ, các thói quen ăn uống và hoạt động thể lực có lợi) để xây dựng chương trình phòng chống tình
trạng TC ở trẻ lứa tuổi mầm non của quận.

ABSTRACT
ASSOCIATED FACTORS OF OVERWEIGHT IN CHILDREN AGED 2-6 YEARS OLD AT
KINDERGARTENS OF GOVAP DISTRICT, HOCHIMINH CITY, IN 2005
Truong Cong Hoa * Y Học TP. Ho Chi Minh * Vol. 11 * Supplement of No 1 * 2007: 111 -117


khi tại các nước đã phát triển, tỷ lệ TC thường tăng
gấp đôi sau 15-20 năm, thì tại thành phố Hồ Chí
Minh, tình trạng TC lại gia tăng với tốc độ chóng
mặt. Theo số liệu điều tra tình trạng dinh dưỡng trẻ
em dưới 5 tuổi của Trung tâm dinh dưỡng (TTDD)
TPHCM cho thấy tỉ lệ TC có chiều hướng tăng từ
2,1% (1999) lên đến 6,0% (2004) tức là tăng gần
gấp 3 lần chỉ trong vòng 5 năm [6].
Đây là bệnh lý điều trò thì rất khó khăn, tốn
kém và hầu như không có kết quả nhưng có thể
phòng ngừa được [10]. Bởi lẽ, hầu hết các yếu tố
liên quan của TC đều có thể kiểm soát được, nếu
có sự kiên nhẫn và hợp tác của chính người bò TC,
sự hài hòa trong phối hợp hành động tích cực giữa
gia đình, nhà trường, y tế và xã hội.
Gò Vấp là một quận ở vùng ven nội và ngoại
thành mang tính chất chuyển tiếp. Xu hướng tỷ lệ
trẻ TC tại quận này gia tăng nhanh chóng, gần 1,5
lần chỉ trong vòng 4 năm (11,8% năm 2005 [7] so
với 7,9% năm 2001 [2]). Đến nay, sau 4 năm
thành phố phát triển, vẫn chưa có khảo sát nào về
các yếu tố liên quan đến TC tại vùng ven này. Vì
thế, để có thể xác đònh được những yếu tố liên quan
đến TC ở trẻ nơi đây, từ đó đề xuất biện pháp can
thiệp phù hợp nhằm cải thiện tình trạng TC của trẻ,
và được sự đồng ý của Phòng giáo dục quận Gò
Vấp, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu này.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: Xác đònh các yếu tố liên quan
đến thừa cân ở trẻ 2-6 tuổi tại các trường mầm non

- Biến số độc lập: tiền căn gia đình, tiền sử của
trẻ, thói quen ăn uống của trẻ, thói quen sinh
hoạt và hoạt động của trẻ, nhận thức của phụ
huynh về thừa cân.
- Biến số có khả năng gây nhiễu hoặc tương tác:
yếu tố dân số của trẻ (tuổi, lớp, giới tính, dân
tộc), điều kiện kinh tế gia đình, yếu tố gia đình
(nghề nghiệp, trình độ học vấn của cha mẹ).
-

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Dân số nghiên cứu:
- Dân số mục tiêu: Trẻ 2–6 tuổi tại các trường
mầm non quận Gò vấp
- Dân số chọn mẫu: Trẻ 2–6 tuổi đang học tại
các trường mầm non Gò vấp năm 2005
Đòa điểm nghiên cứu: tại Quận Gò vấp TPHCM
Thời gian khảo sát: tháng 3 - 6 / 2005
Thiết kế nghiên cứu: Bệnh chứng
Cỡ mẫu: chọn cỡ mẫu toàn bộ
Nhóm bệnh (nhóm TC): chọn tất cả các trẻ TC
điều tra được từ kết quả nghiên cứu trước về thực
trạng thừa cân [7]. Nhóm chứng: chọn cỡ mẫu gấp 2
lần nhóm bệnh.

Kỹ thuật chọn mẫu:

Chuyên đề Khoa học Cơ bản – Y tế Công cộng



ăn trong ngày, tiền sử xem tivi tại nhà, thời gian
trung bình xem tivi trong ngày, mức độ trẻ ưa thích
đồ ăn thức uống (rau, trái cây, đồ béo, đồ ngọt, thức
ăn nhanh, nước ngọt), mức độ hoạt động của trẻ tại
trường / nhà, thời gian ngủ đêm, phụ huynh có kiến
thức hiểu đúng về TC, phụ huynh biết cách phòng
ngừa TC.
Thu thập thông tin: Sử dụng Bộ câu hỏi soạn sẵn,
gởi cho giáo viên mầm non và phụ huynh tự điền
riêng lẻ. Nếu sau 2 lần vẫn không gởi lại phiếu thì
đến nhà phỏng vấn.

Y tế Công cộng

Các phương pháp hạn chế sai số
- Sai số do không/ thiếu đáp ứng:
Gửi thư ngỏ nêu mục đích ý nghóa, các yêu
cầu để khuyến khích sự tham gia của phụ
huynh và loại trừ những trường hợp không
đủ dữ liệu sau khi điều tra.
Nhờ giáo viên nhắc nhở phụ huynh hợp
tác, nếu không nộp lại phiếu điều tra sau 2
lần gởi thì điều tra viên sẽ đến nhà phỏng
vấn trực tiếp.
- Sai số do thu thập số liệu
Tổ chức tập huấn kỹ cho các điều tra viên.
Một số thông tin về hoạt động và thói quen
ăn uống của trẻ được đánh giá độc lập giữa
gia đình và giáo viên chủ nhiệm.
Điều tra thử và điều chỉnh lại Bộ câu hỏi tự

Thừa cân (f)
8 (5.4%)
39 (26.5%)
59 (40.1%)
41 (27.9%)
90 (61,2%)
57 (38,8%)
147(100,0%)
147

Khối lớp

Cơm
Mầm
Chồi

Giới tính
Nam
Nữ
Dân tộc
Kinh
Tổng của từng đặc tính

Chứng (f)
16 (5.4%)
78 (26.5%)
118 (40.1%)
82 (27.9%)
180 (61,2%)
114 (38,8%)

KTC 95%
0,78 - 1,79
1,14 - 2,38

p
0,414
0,008

Kết quả phân tầng
Tương tác: lớp

437

0,99

0,09 - 7,05

0,997

Nhiễu: tuổi trẻ, nghề cha mẹ

Tình trạng TC/BP của cha
Tình trạng TC/BP của mẹ
Cả cha mẹ cùng bò TC/BP

441
441
441

1,54

1,22*
0,38
KXĐ
0,66

KTC 95%
0,57 - 2,61
0,14 - 0,91

p
0,608
0,020

0,41-1,05

0,065

Kết quả phân tầng
Tương tác: giới tính trẻ
Nhiễu: nghề cha

(*: OR khuynh hướng, KXĐ: không xác đònh)
Có sự liên quan giữa TC và tiền căn suy dinh dưỡng của trẻ.
Bảng 4: Liên quan giữa thừa cân và thói quen ăn uống của trẻ
Yếu tố phơi nhiễm
Mức độ thèm ăn của trẻ tại nhà (Háu ăn, bình thường,
biếng ăn)
Mức độ thèm ăn của trẻ tại trường
Tần suất ăn thêm bữa phụ trước ngủ (<3,3-5,>5
lần/tuần)


0,18 - 0,36
0.57 - 0.98

0,0001
0,037

441
406

1,11
0,77

0,84 – 1,46
0,55 -1,09

0,450
0,139

425
412
433
397
429

0,77
0,72
1,10
1,01
1,15

ngủ và mức độ thích ăn đồ béo.
Bảng 5: Liên quan giữa thừa cân và số lần ăn trong ngày của trẻ (n=435)
Yếu tố

Thừa cân (f=145)
X
SD
4,28
0,08

Số lần ăn trong ngày của trẻ

Chứng (f=290)
X
SD
4,39
0,06

p
0,278

Không có sự khác biệt có ý nghóa thống kê giữa 2 nhóm.
Bảng 6: Liên quan giữa TC và thói quen sinh hoạt, hoạt động thể lực của trẻ
Yếu tố phơi nhiễm
Mức độ hoạt động của trẻ tại nhà (Hiếu động,
vừa phải, ít hoạt động)
Mức độ hoạt động của trẻ tại trường

n
441

4,64

Thời gian xem tivi của trẻ (phút)

Chứng (f=229)
X
SD
92,89
3,62

p
0,682

Không có sự khác biệt có ý nghóa thống kê giữa 2 nhóm.
Bảng 8: Liên quan giữa thừa cân và thời gian ngủ đêm của trẻ (n=440)
Yếu tố
Thời gian ngủ đêm của trẻ (phút)

Thừa cân (f=147)
X
SD
529,12

Chứng (f=293)
X
SD

44,06

529,37


Có sự liên quan giữa TC và biết cách phòng ngừa của phụ huynh.
Bảng 10: Mối liên quan giữa TC và các yếu tố phơi nhiễm điều chỉnh theo lớp, giới, tuổi, kinh tế gia đình,
nghề nghiệp và học vấn ba mẹ qua phân tích đa biến (n=230)
Yếu tố phơi nhiễm
Tiền sử bú mẹ (Có / không)
Mức độ thèm ăn của trẻ tại nhà (Háu ăn / bình thường)
Mức độ thèm ăn của trẻ tại trường (Háu ăn / bình thường)
Mức độ hoạt động tại trường (Hiếu động / vừa phải)
Trình độ học vấn cha (Cấp 1 / cấp 2 / cấp 3 / trung cấp)

OR
0,24
13,87
10,38
0,30
2,07*

KTC 95%
0,08 - 0,62
3,69 -52,09
3,11 -34,54
0,12 - 0,76
1,11 - 3,86

p
0,004
0,000
0,000
0,011

hoặc mẹ) giữa 2 nhóm TC và chứng (p>0,05). Vì
vậy, mẫu nghiên cứu này mang tính đại diện cho
dân số trẻ cần khảo sát.

để ghi nhận hoạt động của trẻ) hoặc dùng máy
(acelerometry) giám sát hoạt động của trẻ tiền học
đường như trong nghiên cứu của SG Trost [12] sẽ
cho kết quả giá trò hơn.

Các yếu tố liên quan đến thừa cân

Liên quan giữa TC và trình độ học vấn của cha

Liên quan giữa TC và tiền sử bú mẹ

Ở các nước phát triển, người ta tìm thấy mối
liên quan nghòch giữa BMI và tình trạng nghề
nghiệp cũng như trình độ văn hóa của người chăm
sóc [8, 9]. Ngược lại, các nghiên cứu ở các nước
đang phát triển lại tìm thấy TC có xu hướng xảy ra
phổ biến ở những người có trình độ văn hóa cao
hơn [3, 6]. Khảo sát tại các trường mầm non
TPHCM 2002-2003 cho thấy có sự liên quan giữa
TC và trình độ văn hóa của người chăm sóc trẻ từ
cấp 3 trở lên [4]. Nghiên cứu của chúng tôi cho
thấy mối liên quan có tính khuynh hướng, khi học
vấn của cha tăng lên một bậc thì khả năng trẻ bò
TC tăng lên gấp 2 lần (Bảng 10). Phải chăng trình
độ văn hóa của cha là một yếu tố chỉ điểm
(marker) - chứ chưa phải là yếu tố nguy cơ trực tiếp

viên đánh giá) so với trẻ có mức ăn bình thường
(Bảng 10). Kết quả OR của 2 đánh giá độc lập này
đều cao hơn nghiên cứu trên lứa tuổi mẫu giáo ở
Hà Nội 2004 với OR=9,1 [3] và nghiên cứu trên lứa
tuổi tiểu học TPHCM năm 1998 với OR=7,9 [5].
Liên quan giữa TC và mức độ hoạt động thể lực của
trẻ

Nghiên cứu này khẳng đònh có sự liên quan
giữa TC và mức độ hoạt động của trẻ tại trường
(Bảng 10). Trẻ hiếu động ít bò TC hơn so với trẻ có
hoạt động thể lực vừa phải, hiếu động là yếu tố bảo
vệ (OR=0,30, p=0,011). Nghiên cứu trên lứa tuổi
tiểu học ở Hà Nội 2004 [3] cũng cho thấy có mối
liên quan tương tự, và nghiên cứu của chúng tôi
cũng phù hợp với nghiên cứu đo lường mức độ hoạt
động bằng đònh lượng của SG Trost 2003 [12]. Đo
lường hoạt động trẻ trong nghiên cứu này chỉ là
đònh tính nên kết quả bò hạn chế vì không thể đánh
giá mức độ hoạt động thể lực chính xác. Đo lường
hoạt động thể lực bằng OSRAP (hệ thống quan sát

116

Một số yếu tố khác: chưa tìm thấy mối liên quan
đến thừa cân.

Điểm hạn chế của đề tài
Do hạn chế về nguồn lực nên chúng tôi không
phỏng vấn trực tiếp mà phát phiếu tự điền, nên có

KẾT LUẬN
Qua thiết kế nghiên cứu bệnh chứng, khảo sát
trên 441 trẻ, chúng tôi tìm thấy 4 yếu tố liên quan
đến thừa cân: Tiền sử bú sữa mẹ là yếu tố bảo vệ
(OR=0,24, p=0,004), nguy cơ TC ở trẻ háu ăn gấp
10,4 đến 13,8 lần so với trẻ mức ăn bình thường
(OR và p lần lượt là 10,4 và 0,000 theo giáo viên
đánh giá, 13,8 và 0,000 theo phụ huynh đánh giá),
hiếu động là yếu tố bảo vệ (OR=0,03, p=0,011),
và trình độ học vấn của cha tăng lên một cấp thì
khả năng TC ở trẻ tăng lên gấp 2 lần (OR=2,07,
p=0,022).

KIẾN NGHỊ
Nên mở rộng nghiên cứu yếu tố liên quan
đến TC ở trẻ tiền học đường trên phạm vi lớn
hơn (toàn thành phố hoặc cả nước).
- Ngành y tế của quận Gò Vấp có thể sử dụng
các yếu tố liên quan đã được xác đònh (nuôi
con bằng sữa mẹ, các thói quen ăn uống và
hoạt động thể lực có lợi) để xây dựng chương
trình phòng chống tình trạng TC ở trẻ lứa tuổi
mầm non của quận.
-

Y tế Công cộng

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Lê Ngọc Trọng (2002). Thừa cân và béo phì với sức khỏe

Nutrition, 131: 866-870.
9. Jana Parizkova and Andrew Hills (2001). Childhood
obesity: prevention and treatment. New York: CRC press,
37-115.
10. Popkin BM (2001). The Nutrition transition and obesity in
the developing world. Journal of Nutrition, 131(3):871-873.
11. Rugiger von Kries et al (1999). Breast feeding and
obesity : cross sectional study. BMJ, 319:147-150.
12. SG Trost et al (2003). Physical activity in overweight and
nonoverweight preschool children. International journal of
obesity, 27:834-839.

117




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status