Tạo hứng thú học tập ở học sinh trong giờ đọc hiểu văn bản bậc THCS - Pdf 34

Sáng kiến kinh nghiệm: Tạo hứng thú học tập ở học sinh trong giờ đọc hiểu văn bản bậc THCS.
***********************************************************************************

TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP Ở HỌC SINH
TRONG GIỜ “ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN” BẬC THCS
Phần A: MỞ ĐẦU
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
1. Thực trạng của vấn đề đòi hỏi phải có giải pháp mới để giải quyết:
Mơn Ngữ văn có vị trí rất quan trọng. Mơn học này khơng chỉ là phương tiện nhận thức mà
còn là đối tượng thẩm mỹ, đồng thời là một cơ sở để hiểu biết về lịch sử, văn hóa xã hội, lại vừa
là một cơng cụ giáo dục đặc biệt giúp học sinh phát triển tồn diện và cân đối. Một trong những
phân môn quan trọng trong môn Ngữ văn là phân môn văn bản, qua phân môn này các em
mới cảm nhận được cái đẹp, cái hay của ngôn từ, nghệ thuật. Từ nội dung phần văn bản, các
em mới có cơ sở học các phân môn khác.
Mơn Ngữ văn nói chung và phân môn văn bản nói riêng có vị trí quan trọng như vậy
nhưng những năm gần đây số lượng học sinh giỏi ít dần, thậm chí những em có năng khiếu được
giáo viên giảng dạy bộ mơn chọn vào đội tuyển học sinh giỏi thì từ chối với lí do “đã đăng kí vào
đội tuyển các mơn khoa học tự nhiên rồi”.
Mặc dù giáo viên đã có nhiều cố gắng trong việc đổi mới phương pháp dạy học (theo tinh
thần chỉ đạo chung) theo hướng làm tăng tính tích cực của người học. Nhưng thực tế từ ngày thay
sách giáo khoa đến nay, việc thực hiện theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học vẫn chưa đạt
hiệu quả cao. Trong từng tiết học, học sinh còn thụ động nhiều, chỉ ngồi nghe, chép là chính,
khơng khí giờ học văn trơi qua nặng nề, nhàm chán.
Qua q trình giảng dạy, dự giờ đồng nghiệp và tìm hiểu học sinh, chúng tơi nhận thấy có
một số vấn đề như sau:
Bản thân học sinh ít chịu học, tư duy hình tượng của các em rất hạn chế. Về chủ quan của
một số các thầy cơ dạy Ngữ văn, do trình độ học sinh còn nhiều hạn chế nên có người nảy sinh
tâm lý chán nản cho rằng mình có giảng nhiều, nói nhiều mà học sinh khơng chịu học, tư duy thì
bỏ cơng sức cũng chẳng đem lại tác dụng gì cả. Từ tâm lý đó lời giảng của một số thầy cơ chỉ
chuẩn bị sơ lược, nơng cạn. Họ đã vơ tình làm tắt nguội ở trẻ thơ những rung cảm nghệ thuật.
Giờ đọc - hiểu văn bản trở thành giờ học nặng nề, giáo viên chỉ thuyết giảng sng, kết hợp một

-Việc đổi mới phương pháp dạy học, giáo viên có sử dụng phương pháp mới nhưng hiệu
quả chưa cao, chưa có tính sáng tạo, chưa có sự linh hoạt, chưa kích thích tư duy sáng tạo, chưa
phát huy tính tích cực của học sinh.
2. Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mới:
- Đưa ra các phương pháp dạy học, các phương pháp dạy học đặc thù cho từng kiểu
văn bản thật hiệu quả vào việc tổ chức dạy, học các tiết đọc - hiểu văn bản ở chương trình THCS
để làm sao tiết dạy phân môn văn bản thêm sinh động, học sinh u thích, hứng thú học văn,
hạn chế được những sai sót về kỹ năng làm bài của học sinh , giúp người học rút kinh nghiệm cho
những bài đọc - hiểu văn bản đạt hiệu quả cao hơn .
-Giúp học sinh tích cực, chủ động, sáng tạo, hứng thú hơn trong q trình học tập nói
chung và trong một giờ giảng văn nói riêng. Khơng ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo

******************************************************************************
Người viết: Lê Thò Nghi Xuân
- Đơn vò trường THCS Mỹ Thành
2


Sáng kiến kinh nghiệm: Tạo hứng thú học tập ở học sinh trong giờ đọc hiểu văn bản bậc THCS.
***********************************************************************************

dục; rèn kĩ năng sống cho học sinh, đồng thời bồi dưỡng cho các em lòng u nước, u nền văn
hóa, văn học của dân tộc mình.
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Với đề tài này, tơi đã mạnh dạn áp dụng thực nghiệm trong 2 lớp 9a1, 9a2 mà tơi được
phân cơng giảng dạy tại trường THCS Mỹ Thành trong năm học 2010- 2011 và 9a1, 9a2 ,9a3
năm học 2011- 2012. Phạm vi nghiên cứu chủ yếu của đề tài là triển khai các giải pháp thiên về
đổi mới cách dạy học hiện nay nhằm tạo hứng thú học tập ở học sinh trong giờ đọc- hiểu văn
bản. Đây khơng chỉ đơn thuần là những giải pháp mang tính lí luận mà là những giải pháp bắt
nguồn từ thực tiễn giảng dạy, được soi chiếu bởi những tư tưởng tiến bộ và được sự giúp đỡ của


viên vận dụng linh hoạt, sáng tạo, thành thục và đổi mới phương pháp dạy học trong giờ dạy văn
bản sẽ có tác động rất lớn đến tình cảm, nhận thức, tạo hứng thú học tập ở học sinh, phát huy tính
tích cực, chủ động, sáng tạo ở các em, làm cho các em hứng thú và u thích mơn Ngữ văn hơn.
Một phương pháp dạy học có được xem là tích cực hay khơng đều phụ thuộc vào mỗi
giáo viên. Vì thế, giáo viên phải có năng lực vận dụng các phương pháp dạy học, tạo nên những
tình huống có vấn đề, khiến các em có những vận động trí tuệ, cảm xúc, đặc biệt trong giờ dạy
“Đọc - hiểu văn bản”.Vậy làm thế nào để tạo được hứng thú học tập ở học sinh trong giờ dạy
“Đọc- hiểu văn bản” đạt hiệu quả như mong muốn ?
b. Cơ sở thực tiễn:
-Lâu nay, trong q trình dạy học, chúng ta vẫn thường sử dụng các phương pháp dạy
học tích cực trong giờ văn nhằm tạo sự hứng thú, nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn.
Nhưng thực tế cho thấy, việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực ở nhiều giáo viên còn
mang tính hình thức, chỉ áp dụng phổ biến trong các tiết dự giờ, thao giảng, hội giảng mà
chưa sử dụng trong các tiết giảng dạy thông thường, nhất là phân môn văn bản. Giáo viên tuy
có ý thức đổi mới phương pháp dạy học nhưng nhìn chung vẫn còn chịu nhiều ảnh hưởng của
phương pháp dạy học trước đây.
-Đa số các giáo viên đều lo ngại khi thay đổi phương pháp dạy học trong giờ “Đọc – hiểu
văn bản” để tạo hứng thú cho học sinh. Nếu giáo viên chỉ thiên về những kỹ năng, kiến thức đơn
giản thì sẽ gây ra nhàm chán đối với học sinh khá giỏi. Còn nếu q chú trọng về tính tích cực
sáng tạo của học sinh, thì những học sinh yếu kém tiếp thu chậm sẽ theo khơng kịp, dẫn đến
khơng thích học Văn, khơng nắm được bài.
-Thực tế chúng ta thấy rằng, càng ngày số lượng học sinh học giỏi bộ mơn Ngữ văn càng ít
bởi lẽ các em vẫn còn thấy chưa hứng thú với việc học bộ mơn này, các em lười phát biểu, thụ
động trong giờ học (chiếm tỉ lệ từ 60% đến 70%) trên mỗi tiết học. Từ đó dẫn đến giờ học trơi
qua nặng nề, lớp học trầm lặng, tinh thần học tập của học sinh mệt mỏi. Các em thấy rằng việc
học Ngữ văn- phần văn bản là q nặng nề vì phải học thuộc lòng nhiều, phải ghi nhiều trong
q trình học tập. Chính điều này đòi hỏi phải có những phương pháp cải tiến trong việc dạy và
học Ngữ văn. Đây là u cầu bức thiết được đặt ra đối với những giáo viên giảng dạy bộ mơn
này.

******************************************************************************
Người viết: Lê Thò Nghi Xuân
- Đơn vò trường THCS Mỹ Thành
5


Sáng kiến kinh nghiệm: Tạo hứng thú học tập ở học sinh trong giờ đọc hiểu văn bản bậc THCS.
***********************************************************************************

c. Phương pháp đối chứng: Học kì II năm học 2009-2010 tôi tiến hành dự giờ đồng
nghiệp vào các tiết dạy văn bản.Từ đó tôi so sánh, đối chiếu kết quả trước và sau khi vận dụng
phương pháp dạy học tích cực vào giờ dạy; Rút ra nhận xét kết luận.
d. Phương pháp phân tích, tổng hợp: Sau khi hoàn chỉnh bảng thống kê trên, tơi tiến hành
phân tích những nguyên nhân, xây dựng giải pháp.
e. Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Cuối năm học 2019-2010 sưu tầm và nghiên cứu tài
liệu có liên quan: SGK, SGV, các sách tham khảo.
- Các tài liệu bồi dưỡng giáo viên và phương pháp dạy học bộ mơn Ngữ văn.
- Định hướng đổi mới về nội dụng và phương pháp dạy học của Bộ GD-ĐT.
2.2.Thời gian tạo ra giải pháp: 3 năm
- Hè năm học 2009-2010: tìm kiếm thơng tin, xác định ngun nhân, xây dựng giải pháp.
-Đầu năm học 2010 -2011: áp dụng giải pháp trên một số lớp thực nghiệm, thống kê kết
quả, so sánh với những lớp không áp dụng, phân tích nguyên nhân.
-Từ năm học 2011-2012 áp dụng trên các lớp được phân công giảng dạy, bổ sung thêm
một số giải pháp mới ,đánh giá kết quả đạt được.
-Giữa tháng 8 /2011 đăng ký đề tài; tháng 12/2011 xây dựng dàn ý; tháng 1/2012 viết sáng
kiến; cuối tháng 5/1012 hồn thành sáng kiến .

Phần B.

NỘI DUNG

Đối với từng kiểu loại bài, giáo viên nên chọn những phương pháp, thủ pháp đặc thù để
học sinh tiếp cận với văn bản một cách dễ dàng hơn.
a.Đối với thơ – văn Trung đại: Trong q trình giảng dạy, giáo viên cần liên hệ kiến thức
lịch sử, liên hệ các tác phẩm cùng thời kì để học sinh vừa biết liên hệ thực tế, vừa có kiến thức
chung của bài học.
Ví dụ 1:Dạy Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ: Cần cho học sinh
đọc bài thơ Lại Viếng bài Vũ Thị của Lê Thánh Tơng để học sinh dễ hình dung hơn về thời kì
lịch sử của bài. Qua đó hiểu thêm về thân phận người phụ nữ tại thời điểm đó.
Ví dụ 2:Khi dạy đoạn trích Nước Đại Việt ta- trích Bình Ngô đại cáo của Nguyễn
Trãi- Ngữ văn 8: Giáo viên cần so sánh với Nam quốc sơn hà của lí Thường Kiệt, liên hệ với
Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí minh để các em nhận ra điểm tiến bộ và hạn chế trong tư
tưởng của từng tác giả, từ đó các em hứng thú và nhớ tác phẩm lâu hơn.
b. Đối với thơ – văn hiện đại: Trong qua trình giảng dạy, cần xâu chuỗi các đơn vị kiến
thức, hệ thống hố các đơn vị kiến thức trong chương trình học, xem mỗi tác phẩm là một bộ
phận trong hệ thống.
Ví dụ: Tìm hiểu xong bài Những ngơi sao xa xơi của Lê Minh Kh: Em hiểu gì
về người lính trong thời kì chống Mĩ?
Để trả lời được câu hỏi trên , học sinh phải xâu chuỗi các tác phẩm: Bài thơ về tiểu đội xe
khơng kính của Phạm Tiến Duật, Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng,…

******************************************************************************
Người viết: Lê Thò Nghi Xuân
- Đơn vò trường THCS Mỹ Thành
7


Sáng kiến kinh nghiệm: Tạo hứng thú học tập ở học sinh trong giờ đọc hiểu văn bản bậc THCS.
***********************************************************************************

c.Đối với các tiết hướng dẫn đọc thêm: Nên bám sát các câu hỏi phần đọc –hiểu văn bản

dù biết rõ học sinh đang trong vai diễn, nhưng vẫn cứ khen trò của mình trả lời rất tốt, rất giỏi!
Việc học sinh xem nhẹ đọc tác phẩm đã làm hạn chế khả năng cảm thụ và sáng tạo của chính
******************************************************************************
Người viết: Lê Thò Nghi Xuân
- Đơn vò trường THCS Mỹ Thành
8


Sáng kiến kinh nghiệm: Tạo hứng thú học tập ở học sinh trong giờ đọc hiểu văn bản bậc THCS.
***********************************************************************************

mình, từ đó khiến cho học sinh chỉ biết tiếp thu một cách thụ động, không mấy hứng thú trong
giờ văn, mất dần kĩ năng đọc hiểu văn bản, thiếu năng lực đọc cách sáng tạo. Có nhiều nguyên

nhân dẫn đến tình trạng trên nhưng chủ yếu là giáo viên không hướng dẫn cụ thể việc
chuẩn bò ở nhà.
Ví dụ : Hướng dẫn chuẩn bò cho tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương - Nguyễn

Dữ, Giáo viên chỉ dành trong1 phút với những lời dặn sau :
-Về nhà đọc kó tác phẩm.
-Trả lời các câu hỏi phần đọc hiểu văn bản.
Qua cách hướng dẫn sơ sài trên, học sinh chỉ cần lấy sách học tốt chép vào vở soạn là
xong. Cách làm việc chán nản như thế ảnh hưởng đến giờ học văn rất nhiều.
Nhận thức được điều đó, tơi thường u cầu học sinh tóm tắt tác phẩm trước bằng lập sơ
đồ, trả lời các câu hỏi bằng cách lập bảng biểu, sau đó kiểm tra thực hiện của học sinh trong
thời gian hỏi bài cũ.
Ví dụ: Chuẩn bị cho bài Chuyện người con gái Nam Xương, tơi u cầu học sinh lập
bảng:
-Bảng 1: Tìm hiểu tác giả Nguyễn Dữ và tác phẩm Truyền kì mạn lục (u cầu: Học sinh
tìm hiểu và hồn tất các thơng tin về tác giả, q qn, thời đại, thời gian ra đời, nội dung và đặc

thu hút sự chú ý và tạo hứng thú học tập cho học sinh. Bằng những hình ảnh âm thanh, màu sắc
trực quan sinh động, các phương tiện kỹ thuật hiện đại có thể tác động cùng một lúc vào nhiều
giác quan của học sinh, khiến các em phải chú ý, tạm gát những mối quan tâm cá nhân để bước
vào bài học.
Ví dụ 1: Dạy bài “Mùa xn nho nhỏ” ( Thanh Hải):Cho học sinh xem hình ảnh mùa
xn xứ Huế, dòng sơng Hương hoa lục bình tím…, cách đồng lúa mượt xanh, cùng với giai điệu
mượt mà, truyền cảm của khúc nhạc từ bài thơ Giáo viên u cầu học sinh trình bày cảm nhận
về những hình ảnh vừa xem, từ đó các em giới thiệu với cả lớp về bài học.Với cách này khả năng
tạo sự chú ý và khích lệ các HS khác càng lớn.
Ví dụ 2:Bài thơ "Viếng Lăng Bác" của Viễn Phương: (1)GV giới thiệu bằng cách cho HS
nghe đoạn nhạc của bài hát phổ nhạc từ bài thơ “ Viếng lăng Bác.”
-> Giáo viên dẫn vào bài: Bác Hồ là một hình ảnh đẹp, là niềm tự hào của mỗi
chúng ta. Chính vì vậy, viết về Bác có nhiều sáng tác rất hay. Trong đó có một bài thơ, khi đọc
lên ta không chỉ xúc động trước tình cảm riêng tư của nhà thơ mà còn nhận thấy có cả tình
cảm của mình ở đó.Và có lẽ, không phải ngẫu nhiên mà nhạc só Hoàng Hiệp đã phổ nhạc bài
hát khiến ai nghe cũng xúc động bồi hồi. Vậy điều kì diệu nào đã làm nên giá trò đó ? Hôm nay
chúng ta cùng đi vào tìm hiểu bài thơ "Viếng Lăng Bác" của Viễn Phương.
Còn cách giới thiệu thông thường như: Viết về đề tài Bác Hồ có rất nhiều nhà thơ, nhà
văn đề cập nhưng khơng tác phẩm nào hay bằng“Viếng Lăng Bác”của Viễn Phương. Hơm nay
chúng ta cùng tìm hiểu bài thơ này -> Khơng kích thích tư duy, khơng bất ngờ.
Với cách giới thiệu bài trên (1) giáo viên sẽ giúp các em chuyển vùng khơng gian riêng tư
vào vùng khơng gian thẩm mĩ của bài học. Phương pháp này khơng chỉ dừng lại ở việc tạo tâm
thế cho học sinh mà còn tạo ra việc đọc- hiểu, trang bị thêm cho học sinh những kiến thức cần
thiết, giúp các em nâng cao tầm đón nhận chuẩn bị cho khâu tiếp nhận tác phẩm.
******************************************************************************
Người viết: Lê Thò Nghi Xuân
- Đơn vò trường THCS Mỹ Thành
10



của qn Pháp cuối năm 1947 lên khu căn cứ địa Việt Bắc. Nhà thơ Chính Hữu lúc đó là Chính
trị viên đại đội thuộc Trung đồn thủ đơ, cùng đơn vị tham gia chiến đấu suốt chiến dịch. Bài thơ
là kết quả của những trải nghiệm thực và những cảm xúc sâu xa , mạnh mẽ của tác giả với đồng
đội trong chiến dịch Việt Bắc. Bài "Đồng chí "là lời tâm sự viết ra để tặng đồng đội. “Tất cả
những hình ảnh gian khổ của người lính thiếu ăn, thiếu mặc, sốt rét, bệnh tật...bạn và tơi đều cùng
******************************************************************************
Người viết: Lê Thò Nghi Xuân
- Đơn vò trường THCS Mỹ Thành
11


Sáng kiến kinh nghiệm: Tạo hứng thú học tập ở học sinh trong giờ đọc hiểu văn bản bậc THCS.
***********************************************************************************

trải qua ...Trong hồn cảnh đó chúng tơi là một, gắn bó trong tình đồng đội " (Chính Hữu ). Như
vậy, Chính Hữu viết “Đồng chí" cũng chính là viết về một phần đời đã qua của đồng đội, của
chính bản thân mình nên cảm xúc, tình cảm chân tình, tự nhiên, khơng có sự gò ép, gắng gượng
nào.
Có thể tái hiện lại hồn cảnh ra đời bài thơ “ Đồng chí” theo lời kể của chính tác giả
Chính Hữu  Thuyết trình gắn liền với kể chuyện. Làm được như vậy giáo viên giúp HS hiểu
tốt, tái hiện lại hồn cảnh đất nước ta lúc ấy, sẽ tạo nên một cái nhìn tồn diện khi tiếp nhận tác
phẩm .
Còn thông thường giáo viên chỉ cho học sinh ghi sơ lược mà khơng giới thiệu cụ thể để
học sinh khắc sâu và hứng thú. Giờ văn chưa gợi ra được bối cảnh lịch sử mà tác phẩm ra đời:
Ví dụ 1 : Tập thơ : “ Nhật Ký Trong tù” –Hồ Chí Minh (Ngữ văn 8) : Năm 1942 -1943 khi
Bác bị giam cầm trong nhà tù Tưởng Giới Thạch, trong hồn cảnh đó, Bác đã viết tập thơ Nhật
Ký Trong tù -> khơng nói rõ hồn cảnh ra đời tập thơ.
Ví dụ 2: Bài “Đồng chí” –Ngữ văn 9: Ra đời năm 1948 khi tác giả đang nằm trên giường
bệnh -> khơng gây được sự chú ý cho học sinh cũng như khơng tạo kiến thức, cơ sở cho việc tìm
hiểu văn bản .

những lời thuyết giảng gợi mở của thầy.
Ví dụ: Trong bài thơ “Ơng Đồ” của Vũ Đình Liên sau câu hỏi : Em hãy nói rõ cái hay của
những câu thơ sau “Lá vàng rơi trên giấy – Ngồi trời mưa bụi bay”.HS trả lời, sau đó GV bình:
Giờ đây , hình ảnh ng đồ trở nên trơ trọi , lạc lõng tội nghiệp giữa dòng đời .Hình ảnh Ơng đồ
ngồi cơ độc một mình trong khung cảnh thiên nhiên buồn vắng , chỉ có lá vàng và mưa bụi
bay.Tác giả đã lấy cái nền thiên nhiên để bộc lộ tâm trạng con người, gợi nên nỗi buồn vắng
lạnh trong lòng Ơng đồ, khiến ta cảm thấy xót xa, thương cảm cho một kiếp người tài hoa bị lãng
qn , thương cho giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc đã dần mai một và dễ tiêu vong (ở
đây giáo viên bình với giọng sâu lắng và ngậm ngùi ).
Với lời bình trên, các em như được chia sẻ, được sống trong thế giới của ông đồ.
Các từ ngữ hay trong các câu thơ được các em ghi nhớ, thậm chí còn biết vận dụng vào các
tiết tập làm thơ sau này.
b.2.3. Dùng thơ văn minh họa:
Dùng thơ văn minh họa cho lời bình đúng lúc, hợp lí cũng là cách tạo hứng thú cho học
sinh khi học văn.
Việc dùng thơ văn để minh hoạ cho văn bản hầu như giáo viên chúng ta lãng qn, hoặc
dùng khơng đúng lúc. Chúng ta khơng biết rằng dùng thơ văn minh hoạ vừa làm sáng tỏ nội dung
bài học, vừa cung cấp cho HS những kiến thức mới .
Ví dụ: Dạy bài “Viếng Lăng Bác”(Viễn Phương) -Ngữ Văn 9: Giáo viên có thể dùng các
câu thơ sau để bình từ “Mặt Trời” trong câu “Ngày ngày mặt trong lăng rất đỏ” như sau: “Thật
ra, so sánh Bác Hồ với mặt trời đã được các nhà thơ sử dụng từ lâu ( Hồ Chí Minh – nh thái
dương toả sáng đời đời- Lưu Hữu Phước; “Người rực rỡ một mặt trời cách mạng -Mà Đế quốc là
lồi dơi hoảng hốt- Đêm tàn bay chập choạng dưới chân người- Tố Hữu – sáng tháng Năm. Sau
đó bình câu thơ trong bài “Viếng Lăng Bác” .
Hoặc bài “Mùa xn nho nhỏ” – Thanh Hải- Ngữ văn 9. Khi tìm hiểu ước nguyện của nhà
thơ Thanh Hải, Giáo viên liên hệ thơ Tố Hữu:
“ Nếu là con chim chiếc lá
******************************************************************************
Người viết: Lê Thò Nghi Xuân
- Đơn vò trường THCS Mỹ Thành

đào tạo cấp, thầy cơ còn minh hoạ thêm một số bức tranh khác cho bài giảng của mình nhưng
phần lớn giáo viên đã lạm dụng, biến giờ dạy thành giờ bình tranh, khơng hạn định được thời
gian. Có những giờ văn có sử dụng tranh theo danh mục nhưng khai thác chưa triệt để nội dung
tranh, học sinh chẳng thấy gì hay, hấp dẫn ngồi những gì các em trực quan qua tranh.
Ví dụ : Dạy bài “Sơn Tinh Thuỷ Tinh” giáo viên dùng tranh do Bộ GD-ĐT cấp , phần lớn
giáo viên chỉ hướng các em nhìn vào tranh , hướng vào tranh để theo dõi cuộc đọ sức của Sơn
Tinh -Thuỷ Tinh. Hoặc bài “Con Cò” Chế Lan Viên (Ngữ văn 9) giáo viên minh hoạ cho HS

******************************************************************************
Người viết: Lê Thò Nghi Xuân
- Đơn vò trường THCS Mỹ Thành
14


Sáng kiến kinh nghiệm: Tạo hứng thú học tập ở học sinh trong giờ đọc hiểu văn bản bậc THCS.
***********************************************************************************

bằng bức tranh trong sách giáo khoa, HS khó có thể có sáng tạo và hiểu hết tình mẹ dành cho con
và ý nghĩa lời ru trong cuộc đời con người như thế nào.
Nhà văn sáng tạo tác phẩm bằng ngơn ngữ nghệ thuật. Người dạy cần bằng sự rung động
của mình qua ngơn ngữ trong sáng, cử chỉ nét mặt phù hợp, đồng tác giả mà truyền tới người học
là chính. Nói như vậy khơng có nghĩa là chúng ta kiên dùng tranh ảnh, hiện vật khi cần thiết trong
giảng văn. Ví như để giới thiệu tác giả có thể dùng hình ảnh chân dung; với một số hiện vật hiện
nay khó hiểu như tác phẩm chữ Hán, văn tự, mực tàu giấy đỏ ...có thể dùng hình mẫu. Trong một
số trường hợp cụ thể như: sơng nước Cà Mau , cầu Long Biên, đèo Ngang, nhà lao Cơn Đảo,
cảnh Pác Bó... có thể dùng tranh minh hoạ nhưng chỉ là để giới thiệu qua gây tâm thế chứ quyết
khơng dùng để giảng, nhất là với ngơn ngữ biểu cảm .
-Sử dụng tốt một số đồ dùng trong q trình giảng dạy sẽ tạo sự tập trung chú ý cao độ của
học sinh, phát huy được khả năng tư duy sáng tạo của các em học sinh.
Ví dụ: Khi dạy bài “ Sơng nước Cà Mau” ( Đồn Giỏi )

Dưới đây là các tranh vẽ minh họa của chính các em vẽ khi tìm hiểu tác phẩm:

Tranh vẽ minh họa bài thơ con cò của Chế lan Viên

Tranh vẽ minh họa truyện ngắn Bến quê của Nguyễn Minh Châu.

Tranh vẽ minh họa đoạn trích Lục Vân Tiên cứ Kiều Nguyệt Nga – trích truyện Lục vân Tiên của Nguyễn Đình
Chiểu

Như vậy, qua việc vẽ tranh một số em học yếu kém cũng tham gia. Dù khả năng tiếp
thu các em chậm hơn so với những em khác nhưng các em cũng nắm được kiến thức cơ bản
******************************************************************************
Người viết: Lê Thò Nghi Xuân
- Đơn vò trường THCS Mỹ Thành
16


Sáng kiến kinh nghiệm: Tạo hứng thú học tập ở học sinh trong giờ đọc hiểu văn bản bậc THCS.
***********************************************************************************

của bài, thậm chí còn háo hức mong tới giờ văn để được ngợi khen. Ngợi khen đúng lúc, đúng
chỗ giúp các em phấn chấn hơn, tự tin hơn, từ đó các em ham học hơn. Trong khi đó, các
tranh ảnh có sẵn trong sách giáo khoa và ĐDDH mà ngành cấp chỉ minh họa một phần nội
dung nào đó, nội dung đó có thể các em không thích, không ấn tượng bằng bức tranh mình đã
kì công tô vẽ.
Tóm lại, trực quan trong dạy văn là rất phong phú. Nó đòi hỏi giáo viên phải rèn luyện,
học tập đến độ kỹ xảo và tinh tế. Trực quan trong dạy văn khơng thể ví như bản đồ đối với địa lí ,
sa bàn đối lịch sử, tiêu bản đối với sinh vật... Bản thân văn chương đề cập tới chiều sâu tư tưởng,
rung cảm của tâm hồn - chỉ có ngơn ngữ tác phẩm, ngơn ngữ giáo viên (bao gồm ngơn ngữ nói ,
viết , cử chỉ , thái độ , hành vi ...) mới có thể diễn đạt được ý nghĩa, giá trị nghệ thuật, giúp các


+ Nhịp 3/2; 2/3 nhấn mạnh điệp câu, điệp ngữ “tiếng gà trưa” ở đầu các đoạn
2,3,4,7.
+ Chú ý giọng đọc vui, bồi hồi phân biệt lối mắng u của bà với lời kể, tả trữ tình
của nhà thơ – trong vai anh bộ đội nhớ nhà, nhớ bà, nhớ q .
Ví dụ 2: Bài thơ “Con cò” của Chế Lan Viên mang âm hưởng lời hát ru. Vì thế khi
đọc cần chú ý giọng tha thiết, truyền cảm của khúc ru. Các đoạn có sự thay đổi giọng điệu, nhịp
điệu bởi những câu thơ có nhịp ngắn, dài biến đổi. Giáo viên cũng có thể ngâm hoặc hát minh
họa một đoạn thơ.
Nhưng thực tế cho thấy phần lớn GV hướng dẫn HS đọc văn bản một cách sơ sài, chưa cụ
thể, ít chú trọng đến việc đọc trước văn bản ở nhà của HS, thậm chí HS đọc sai từ và lược bỏ từ
mà GV cũng khơng sửa sai cho các em. Một số GV đọc chưa chuẩn, chưa xác định được giọng
đọc của tác phẩm, chưa thể hiện hết tình cảm của tác giả qua tác phẩm thì thử hỏi làm sao HS có
thể đọc theo và cảm nhận nội dung nghệ thuật tác phẩm qua phần đọc được .
Ví dụ : Đọc bài “Hịch Tướng Sĩ” của Trần Quốc Tuấn (Ngữ văn 8 ) mà giáo viên chỉ
đọc giọng đều đều, chưa thể hiện được giọng điệu văn bản, chưa khơi dậy được khơng khí của
thời đại.Đọc bài nnhư những bài thơ khác, không lưu ý cách đọc, không khởi động được tâm
thế học sinh
Từ cách đọc diễn cảm một bài thơ, một lời đối thoại tả nhân vật trong tác phẩm đến cách
thức đọc thầm, đọc lướt để nắm khái qt văn bản hay đọc nghiền ngẫm một vấn đề thâm thúy,…
Có như thế học sinh mới tìm thấy sự hứng thú trong việc đọc văn bản, bởi các em có thể nản lòng
khi đọc một tác phẩm ngắn, ý nghĩa cơ đọng khó hiểu hay đọc một tác phẩm dài mất thời gian .
b.5. Cách vận dụng tình huống có vấn đề :
Tác phẩm văn chương dù chỉ nhỏ nhất là một câu tục ngữ hay lớn nhất là một tiểu thuyết
thì cũng có vấn đề nội dung, vấn đề nghệ thuật. Nhiệm vụ của người giáo viên là phát hiện ra tình
huống có vấn đề. Nhưng nếu khơng biến "vấn đề" thành yếu tố của tình huống có vấn đề thì khó
có thể tạo hứng thú cho học sinh khi tiếp xúc và cảm thụ tác phẩm.
b.5.1.Tình huống mâu thuẫn :
Ở đây là sự mâu thuẫn (khơng phù hợp) giữa hình thức và nội dung, giữa nội dung
này với nội dung khác, và giữa hình thức với hình thức trong một chỉnh thể tác phẩm văn học.
Có ý kiến cho rằng: ngun nhân gây ra
cái chết cho Vũ Nương là do chiến tranh phong kiến. Ý kiến của em như thế nào?
Như vậy, đứng trước tình huống có vấn đề, đòi hỏi học sinh phải có khả năng tổng hợp,
bao qt tri thức, tư duy sáng tạo mới giải quyết được. Những khó khăn về nhận thức do câu hỏi
nêu vấn đề gây ra chuyển hóa thành hứng thú và cảm xúc học tập ở các em. Làm được điều đó là

******************************************************************************
Người viết: Lê Thò Nghi Xuân
- Đơn vò trường THCS Mỹ Thành
19


Sáng kiến kinh nghiệm: Tạo hứng thú học tập ở học sinh trong giờ đọc hiểu văn bản bậc THCS.
***********************************************************************************

một thành cơng lớn của giáo viên trong giờ đọc hiểu văn bản. Nếu chỉ đưa ra những câu hỏi
thông thường học sinh sẽ nhàm chán, bởi câu hỏi đều đều, không kích thích tư duy các em.
b.6. Liên hệ thực tế có tính giáo dục :
Câu chuyện văn chương là câu chuyện cuộc đời : cuộc đời là nơi xuất phát cũng là
cái đích của văn chương. Vì thế Gor-ki từng viết “tơi xin nói với các bạn: hãy u văn chương, nó
sẽ làm cho cuộc sống của các bạn bớt khó khăn, nó sẽ thân ái với các bạn, giúp các bạn hiểu được
ý nghĩa, tình cảm và cuộc sống với tất cả sự phức tạp và sơi nổi . Nó sẽ dạy cho các bạn biết kính

Ví dụ: Phân tích câu thơ: “Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi”.
+ Những sự vật nào của thiên nhiên được nhắc tới trong khổ thơ cuối cùng ?
+ Cách nói về những sự vật thiên nhiên đó có gì đặc biệt ?
+ Em hình dung như thế nào về hàng cây đứng tuổi ?
******************************************************************************
Người viết: Lê Thò Nghi Xuân
- Đơn vò trường THCS Mỹ Thành
21


Sáng kiến kinh nghiệm: Tạo hứng thú học tập ở học sinh trong giờ đọc hiểu văn bản bậc THCS.
***********************************************************************************

+ Có ý kiến cho rằng hai câu thơ cuối cùng vừa tả thực hình ảnh thiên nhiên mà vẫn có ý
nghĩa sâu xa. Em đồng ý với ý kiến đó khơng ? Vì sao ?
Giáo viên cũng có thể cho học sinh thảo luận nhóm để phân tích , cắt nghĩa và khái qt
hóa các giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm. Làm được như vậy, học sinh sẽ thấy được cái
hay, cái đẹp của ngôn từ nghệ thuật, biết cách vận dụng những từ ngữ ấy vào bài văn của
mình.Từ đó chất lượng bài văn sẽ cao hơn, hay hơn.
b.9. Thảo luận nhóm- áp dụng kĩ thuật khăn trải bàn.:
Đặc trưng của phương pháp thảo luận nhóm là cho học sinh được hội thoại tự do theo
nhóm của mình, học sinh có cơ hội trình bày ý kiến, suy nghĩ của mình và được nghe ý kiến của
bạn. Mọi ý kiến đều được trân trọng bao gồm cả những kinh nghiệm mà các em có được. Ở
phương pháp này học sinh cũng có cơ hội sử dụng các kĩ năng nhận biết bậc cao như đánh giá và
tổng hợp. Khi tổ chức cho các em thảo luận, hoạt động theo nhóm sẽ tạo khơng khí thi đua, sơi
nổi, thoải mái cho giờ học. Ngồi ra nó còn khơi dậy sự gắn bó của tập thể, tạo sự hứng thú, tạo
cơ hội cho các em học hỏi. Những học sinh nhút nhát thường ít phát biểu trong lớp, sẽ có mơi
trường tốt để động viên tham gia xây dựng bài. Ở hoạt động này các lỗi sai đều được giải đáp,
học sinh tự sửa lỗi và dạy lẫn nhau trong bầu khơng khí rất thoải mái và sơi nổi. Học sinh có thể

đúng. Áp dụng phương pháp tích cực khơng có nghĩa là gạt bỏ các phương pháp dạy học truyền
thống. Ngay cả những phương pháp tập trung vào giáo viên như thuyết trình, giảng giải, vẫn rất
cần thiết trong q trình dạy học. Có nhiều phương pháp dạy học tích cực, trong đó có phương
pháp thảo luận nhóm giúp cho giờ dạy thêm sơi nổi, học sinh hứng thú và đặc biệt là hiệu quả giờ
dạy đạt hiệu quả cao.
Nếu chúng ta biết lựa chọn câu hỏi phù hợp đối tượng học sinh, tùy theo đặc trưng của tiết
học thì hiệu quả của phương pháp này sẽ như mong muốn.
* Cách tiến hành:
-Làm việc chung cả lớp:
+ Giáo viên nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức. Giáo viên đưa ra câu hỏi có vấn đề
cho học sinh.
+ Tổ chức nhóm, giao nhiệm vụ cho các nhóm (4 - 6 nhóm)
- Làm việc theo nhóm:
+ Thảo luận - ghi ý kiến – đại diện nhóm tình bày kết quả làm việc của nhóm.
+ Thảo luận bàn bạc trước cả lớp.
- Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả.
* Lưu ý:
- Giáo viên nêu vấn đề rõ ràng, dự kiến thời gian hợp lí.
- Từ 1 đến 2 hoạt động nhóm khơng nên sử dụng q nhiều ảnh hưởng đến nội dung khác
vì thời gian của một tiết học là có hạn định, nội dung bài học lại dài.
-Phải huy động nhiều học sinh tham gia, học sinh được nói nhiều hơn, phát huy tính tích
cực trong mỗi học sinh, tránh tình trạng chỉ có nhóm trưởng làm hoặc một vài học sinh khá, giỏi
hoạt động.
-Giáo viên phải bao qt lớp, nhắc nhở học sinh ghi ý kiến cá nhân trước, sau đó nhóm
trưởng tổng hợp kết quả và ghi vào ơ giữa (đối với kĩ thuật “khăn trải bàn”.)
b.10. Sử dụng bản đồ tư duy:
******************************************************************************
Người viết: Lê Thò Nghi Xuân
- Đơn vò trường THCS Mỹ Thành
23

Người viết: Lê Thò Nghi Xuân
- Đơn vò trường THCS Mỹ Thành
24


Sáng kiến kinh nghiệm: Tạo hứng thú học tập ở học sinh trong giờ đọc hiểu văn bản bậc THCS.
***********************************************************************************

Bản đồ tư duy văn bản: Thầy bói xem voi - Ngữ văn 6
- Dùng BĐTD để củng cố kiến thức sau mỗi tiết học và hệ thống kiến thức sau mỗi
chương, phần,…: Sau mỗi bài học, giáo viên hướng dẫn, gợi ý để học sinh tự hệ thống kiến thức
trọng tâm, kiến thức cần nhớ của bài học bằng cách vẽ BĐTD. Mỗi bài học được vẽ kiến thức
trên một trang giấy rời rồi kẹp lại thành tập. Việc làm này sẽ giúp các em dễ ơn tập, xem lại kiến
thức khi cần một cách nhanh chóng, dễ dàng.
Ví dụ : BĐTD khi tìm hiểu tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du: Giáo viên định hướng
để học sinh khai thác kiến thức của bài học bằng hệ thống câu hỏi gợi mở. Trên cơ sở đó hình
thành và củng cố kiến thức cho HS bằng BĐTD.
Hệ thống kiến thức của bài học bao gồm:
a. Tác giả bao gồm: Tiểu sử (thân thế, gia đình), cuộc đời, sự nghiệp sáng tác...
b. Tác phẩm:
+ Các tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Du ở cả hai thành phần chữ (chữ Hán và chữ Nơm)
+ Thời gian và hồn cảnh sáng tác, nguồn gốc của tác phẩm; đồng thời giáo viên gúp học
sinh hiểu được vì sao Truyện Kiều có nguồn gốc từ Trung Quốc mà vẫn được coi là tác phẩm văn
học Việt Nam ...
+ Tóm tắt Truyện Kiều: 3 phần.
+ Giá trị của Truyện Kiều: Giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật.
Sau khi học sinh vẽ xong, giáo viên chuẩn kiến thức trên bảng, dùng hình ảnh đã
chuẩn bò sẵn dán vào các nhánh tưng ứng.

******************************************************************************


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status