QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TỈNH ĐẮK LẮK ĐẾN NĂM 2020 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030 - Pdf 34

1

QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TỈNH ĐẮK LẮK
ĐẾN NĂM 2020 VÀ ĐỊNH HƢỚNG ĐẾN NĂM 2030
(Kèm theo Quyết định số 3156/QĐ-UBND, ngày 29/12/2014)
MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu chung về tỉnh Đắk Lắk
Đắk Lắk là một tỉnh lớn nằm ở vùng trung tâm Tây Nguyên, có diện tích tự nhiên
rộng 13.125,37 km2 (1.312.537 ha)1, phía Bắc giáp tỉnh Gia Lai, phía Đông giáp tỉnh
Phú Yên và Khánh Hoà, phía Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Tây Nam giáp tỉnh Đắk
Nông, phía Tây giáp Vương quốc Campuchia.
Đắk Lắk có một nguồn tài nguyên đất đai lớn với tổng số 1.312.537 ha, trong đó, đất
nông nghiệp 537.681 ha, đất lâm nghiệp 597.349 ha, đất chuyên dùng 63.859 ha, đất ở
14.678 ha, còn lại 71.513 ha là đất chưa sử dụng 2.
Nằm trên cao nguyên rộng lớn, với độ cao trung bình 450m trên mặt nước biển, khá
bằng phẳng, Đắk Lắk thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp và công nghiệp. Diện
tích núi chỉ chiếm 35%, tập trung ở phía Nam và Đông Nam của tỉnh. Đa số diện tích
canh tác là đất đỏ bazan, thuận lợi cho việc trồng cây công nghiệp như cà phê, cao su,
hồ tiêu, điều và những loại cây ăn quả có giá trị khác.
Đắk Lắk có khí hậu nhiệt đới nhưng ôn hoà, nhiệt độ trung bình hàng năm dao động
trong khoảng từ 23 đến 25 độ C, có hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10,
mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4.
Là tỉnh miền núi nhưng Đắk Lắk lại có khá nhiều sông. Những sông chính như sông
Krông H’năng, Krông Ana, Krông Nô, Ea H’leo, Sê rê pốc. Những dòng chảy tạo
thành nhiều thác hùng vĩ như thác Đrai Đlông, Đrai Gar, Ba Tầng, Bìm Bịp, Krông
Kmar, Buôn H’ngô, Ea Kar, Đăk Tuôr, Đray Sáp Thượng v.v... Đắk Lắk cũng có nhiều
hồ lớn (khoảng 500 hồ) như hồ Ea Kao, hồ Lắk, hồ Ea Rbin, hồ Buôn Triết, hồ Buôn
1
2

Niên giám thống kê tỉnh Đắk Lắk 2013.

huyện Cư Kuin (353,29 người/km2); huyện Krông Pắc (324,56 người/km2). Số còn lại,
11 huyện đều có mật độ dân cư thưa thớt.


3

Cũng theo Niên giám thống kê 2013 của Cục thống kê tỉnh Đắk Lắk, dân số ở thành
thị năm 2012 chiếm 24,07%, còn dân số ở nông thôn chiếm 75,93%. Tỉ lệ này ảnh
hưởng đến nội dung phát triển văn hóa. Với lượng người sống ở nông thôn nhiều, văn
hóa nông thôn (nông dân) vẫn đóng vai trò quan trọng trong toàn bộ đời sống văn hóa
của tỉnh. Cầu trường sinh hoạt văn hóa vẫn diễn ra chủ yếu ở nông thôn và chủ thể văn
hóa ở đây vẫn là nông dân. Điều đó có nghĩa rằng, văn hóa truyền thống vẫn giữ vai
trò chủ đạo ở tỉnh Đắk Lắk. Việc coi trọng người nông dân và coi trọng văn hóa nông
nghiệp cần được nâng lên thành quan điểm phát triển văn hóa. Người nông dân nói
chung và người nông dân ở Đắk Lắk nói riêng đã bao đời làm nên một nền văn hóa
bản địa giàu bản sắc dân tộc. Trong văn hóa nông dân, nông thôn, có nhiều giá trị
trường tồn, cần được bảo tồn và phát huy trong thời đại mới. Cầu trường sinh hoạt văn
hóa nông thôn là điều kiện tối ưu cho việc gìn giữ, bảo tồn văn hóa truyền thống. Hiện
nay, nhiều yếu tố văn hóa cũ có giá trị đang sống trong dân gian. Sự tồn tại lâu bền của
văn hóa truyền thống chính là chỗ dựa của dân tộc trong bước đường phát triển, hội
nhập. Đó chính là sức mạnh và sức sống của dân tộc.
Tuy nhiên, với tỉ lệ cao của người nông dân đang sinh sống ở nông thôn Đắk Lắk
hiện nay thì văn hóa của họ cũng còn nhiều mặt bảo thủ, lạc hậu, tạo thành không ít rào
cản cho quá trình hiện đại hóa. Ý thức người nông dân ở các vùng sâu, vùng xa không
theo kịp được nhịp sống công nghiệp đương đại. Lối sống cũ kỹ và những hủ tục nặng
nề vẫn đang làm cho người nông dân như bị trói buộc bởi một thứ xiềng xích nô lệ vô
hình của các thời đại trước. Vì thế, văn hóa nông dân, nông thôn vừa là chỗ mạnh, vừa
là thách thức đối với việc phát triển hiện nay của tỉnh Đắk Lắk.
Ngược lại với tỉ lệ dân cư ở nông thôn, dân cư ở thành thị chiếm phần thứ yếu, chỉ có
24,07%, nghĩa là bằng 1/3 dân số ở nông thôn, bằng 1/4 so với dân số toàn tỉnh. Với tỉ

thuẫn sẽ nảy sinh trong quá trình truyền giáo. Hơn nữa, một nguy cơ không thể không
tính đến là các thế lực thù địch đang muốn lợi dụng tôn giáo để tuyên truyền, lôi kéo
3

Xem phụ lục 1


5

quần chúng chống phá chế độ. Vì vậy, tôn giáo cần được phát triển đúng hướng để
người dân sống “tốt đời đẹp đạo” như mong muốn của chính họ.
Tín ngưỡng dân gian (đa thần) vẫn khá thịnh hành trong các tộc người ở Đắk Lắk.
Trong những năm gần đây, tín ngưỡng thờ mẫu bắt đầu du nhập từ các tỉnh phía Bắc
vào Tây Nguyên, trong đó có Đắk Lắk. Những tín ngưỡng này, nếu hạn chế được phần
mê tín dị đoan thì có thể khai thác được những giá trị tích cực trong việc tăng cường sự
cố kết cộng đồng và tinh thần đoàn kết dân tộc, ý thức bảo vệ môi sinh. Các nghi lễ thể
hiện tín ngưỡng dân gian mang tính thuần phác, vẫn còn ý nghĩa quan trọng trong đời
sống, cần được duy trì và phát huy.
- Về đời sống kinh tế, nhìn chung trong toàn tỉnh Đắk Lắk, số hộ có mức sống từ loại
khá trở lên (với bình quân thu nhập 2 triệu đồng/tháng trở lên) chiếm 20,02%. Số hộ có
mức sống trung bình và trung bình khá chiếm tỉ lệ 50,81%. Số hộ nghèo và cận nghèo
chiếm tỉ lệ 29,34%.4 Theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Đắk Lắk năm 2013, tính đến
tháng 12 năm 2012, toàn tỉnh vẫn còn 23 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn, tỉ lệ hộ
nghèo trên phạm vi toàn tỉnh chiếm 17,8%.
Những con số thống kê trên đây rất có ý nghĩa đối với sự phát triển văn hóa. Kinh tế
là nền tảng (cơ sở hạ tầng) quyết định văn hóa. Từ góc độ này, chúng ta thấy khả năng
xã hội hóa xét ở phương diện huy động nguồn lực tài chính từ trong dân sẽ rất hạn chế.
Đắk Lắk sẽ phải trông chờ nhiều vào khả năng bao cấp của Nhà nước tại thời điểm
hiện nay và trong những năm tới. Việc phát triển sự nghiệp văn hóa trong tình hình đời
sống kinh tế dân cư còn nhiều khó khăn là một thách thức lớn mà ngành văn hóa phải

hóa. Quy hoạch phát triển sự nghiệp văn hóa nhằm tạo sự hài hòa giữa các phương
diện trên để Đắk Lắk có được sự phát triển bền vững.
- Quy hoạch tổng thể phát triển sự nghiệp văn hóa là yêu cầu tự thân của ngành văn
hóa xuất phát từ thực trạng còn nhiều khó khăn, bất cập cần được khắc phục để vươn
lên một tầm cao mới.
Khó khăn lớn nhất hiện nay vẫn là vấn đề kinh phí. Nếu không có quy hoạch, sẽ
không có một nguồn kinh phí dài hạn cho từng phương diện của sự phát triển văn hóa.
Hiện nay, phần lớn kinh phí được dự toán theo năm tài chính. Những hạng mục đầu tư


8

dài hạn chưa có được kế hoạch thật cụ thể. Vì thế, việc cấp kinh phí không thể thực
hiện trên quy mô lớn nếu thiếu những luận chứng khoa học xác thực.
Khó khăn thứ hai là sự chỉ đạo đồng bộ giữa các ngành các cấp đối với sự phát triển
văn hóa rất khó thực hiện vì thiếu quy hoạch tổng thể. Hiện nay, việc chỉ đạo của các
ngành, các cấp phần lớn vẫn dựa vào các báo cáo thường niên. Chỉ có các chủ trương
lớn là xuyên suốt các năm. Một kế hoạch tổng thể sẽ giúp cho các cấp lãnh đạo trong
tỉnh nhìn nhận toàn diện và sâu sắc hơn những vấn đề của phát triển văn hóa trong một
thời gian dài.
Sự bất cập về nguồn nhân lực văn hóa chất lượng cao đang là một vấn đề nan giải
hiện nay. Việc xây dựng một đội ngũ cán bộ văn hóa đủ trình độ và năng lực theo yêu
cầu xã hội không thể thực hiện trong một sớm một chiều mà cần phải có một lộ trình
dài hạn. Quy hoạch tổng thể sẽ giúp cho việc đào tạo nguồn nhân lực phù hợp với thực
tế phát triển văn hóa.
Nhiều đơn vị trong ngành văn hóa hiện đang có nhu cầu phát triển song không thể
phát triển tự do bởi sẽ tạo ra những tác động trái chiều với các đơn vị khác. Quy hoạch
tổng thể văn hóa sẽ giúp cho các đơn vị này vừa thấy được cái chung, vừa thấy được
cái riêng của mình, thấy được các mục tiêu, chỉ tiêu mà mình cần vươn tới. Như vậy,
quá trình phát triển của đơn vị mới tạo được sự hài hòa trong tổng thể sự nghiệp văn

2.1. Mục tiêu chung


10

Các mục tiêu sau đây được đề ra trong Chương trình số 41-CTr/TU ngày 26/8/2014
của Tỉnh ủy Đắc Lắk cũng có ý nghĩa chỉ đạo đối với việc xây dựng quy hoạch phát
triển văn hóa:
"- Phát huy truyền thống lịch sử, văn hóa, cách mạng giàu bản sắc văn hóa dân tộc của
tỉnh, xây dựng nền văn hóa và con người phát triển toàn diện, hướng đến chân

-

thiện - mỹ; thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Tạo môi
trường và điều kiện thuận lợi để phát triển nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng
tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp
luật; đề cao tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, trách nhiệm của mỗi người đối với bản
thân, với gia đình, cộng đồng xã hội và đất nước, nhất là trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa.
- Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Xây dựng văn hóa trong hệ
thống chính trị, trong từng cộng đồng thôn, buôn, khu phố, cơ quan, đơn vị, doanh
nghiệp và mỗi gia đình. Phát huy vai trò của gia đình, cộng đồng, xã hội trong việc xây
dựng môi trường văn hóa, làm cho văn hóa trở thành nhân tố thúc đẩy con người Việt
Nam hoàn thiện nhân cách.
- Từng bước thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hóa giữa thành thị và nông thôn,
giữa các địa phương trong tỉnh và các giai tầng xã hội. Ngăn chặn và đẩy lùi sự xuống
cấp về đạo đức xã hội.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Bảo tồn và phát huy sự đa dạng của văn hóa truyền thống các dân tộc trong quá


5

Chương trình (số 41-CTr/TU ngày 26/8/2014 của Tỉnh ủy Đắc Lắk) thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp

hành Trung ương Đảng (khóa XI) về "xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền
vững đất nước".


12

giải pháp; tính đồng bộ giữa việc đảm bảo các mặt hoạt động văn hóa với việc xây
dựng đội ngũ cán bộ nghiệp vụ văn hóa.
Trước hết là sự đồng bộ giữa số lượng và chất lượng. Tinh thần chung là số lượng
phải vừa đủ để bảo đảm hoạt động đạt chất lượng theo yêu cầu của từng lĩnh vực văn
hóa. Nếu chỉ chú trọng đến chất lượng thì buộc phải giảm số lượng, sẽ dẫn đến tình
trạng cung không đủ cầu. Khi cán cân cung cầu quá lệch sẽ dẫn đến tình trạng rối loạn
về văn hóa. Ngược lại, nếu quá chú trọng đến số lượng, sẽ buộc phải giảm về chất
lượng hoạt động, dẫn đến tình trạng suy thoái về văn hóa, hoạt động văn hóa sẽ tồn tại
một cách hình thức, không có chiều sâu và sẽ không đạt được hiệu quả mong muốn.
Sự đồng bộ của các giải pháp có tầm quan trọng đặc biệt. Mỗi giải pháp khi đứng
riêng rẽ, sẽ không thể phát huy hiệu quả. Cần đặt các giải pháp trong mối tương quan,
hỗ trợ lẫn nhau, tránh tình trạng các giải pháp phát huy hiệu quả ngược chiều nhau.
Tình trạng này đã từng xảy ra ở một số địa phương trong nước.
Việc đồng bộ giữa hoạt động văn hóa và đội ngũ cán bộ nghiệp vụ văn hóa sẽ tạo
điều kiện thuận lợi cho sự phát triển văn hóa. Đội ngũ cán bộ chuyên trách sẽ là nòng
cốt trong mọi hoạt động. Nếu trình độ nghiệp vụ chuyên môn tương ứng với yêu cầu
hoạt động thì sẽ phát huy được đến mức cao nhất hiệu quả hoạt động, sự nghiệp văn
hóa sẽ phát triển nhanh và bền vững.
- Xây dựng nội dung quy hoạch phải toàn diện, bao quát được các lĩnh vực hoạt động

điều tra cơ bản gồm các lĩnh vực sau:
+ Thực trạng đời sống kinh tế của dân cư;
+ Sự tồn tại của các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể;
+ Các thiết chế văn hóa: Bảo tàng, thư viện, phòng truyền thống, nhà văn hóa…;
+ Các cơ quan tổ chức văn hóa: Trung tâm văn hóa, đoàn nghệ thuật, câu lạc bộ;
+ Tổ chức và hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước về văn hóa;
+ Các cơ sở dịch vụ văn hóa: Rạp chiếu bóng, cửa hàng sách-văn hóa phẩm.
Việc đánh giá đúng thực trạng sẽ tạo tiền đề để đưa ra các nhiệm vụ tiếp theo.


14

- Xây dựng các nội dung, dự kiến các chỉ tiêu phát triển văn hóa cần đạt tới trong thời
gian từ 2014 đến 2020 và định hướng đến 2030 trên các lĩnh vực văn hóa sau:
+ Lĩnh vực di sản văn hóa, bao gồm di sản văn hóa vật thể và phi vật thể;
+ Lĩnh vực đời sống văn hóa, bao gồm sự hưởng thụ văn hóa, các hoạt động
sáng tạo và phổ biến văn hóa của nhân dân, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở;
+ Lĩnh vực thiết chế văn hóa, bao gồm thiết chế văn hóa cấp tỉnh, huyện, xã
(phường, thị trấn), thôn (buôn, tổ dân phố)
+ Lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, bao gồm các đoàn nghệ thuật và các câu lạc bộ
nghệ thuật;
+ Lĩnh vực thông tin - tuyên truyền
+ Lĩnh vực đào tạo về văn hóa và nghệ thuật;
+ Lĩnh vực dịch vụ văn hóa;
+ Lĩnh vực quản lý văn hóa.
- Xây dựng kế hoạch thực hiện theo từng năm.
Kế hoạch từng năm được xây dựng với những nội dung cụ thể. Những chương trình
mục tiêu trong năm sẽ được gợi ý về việc soạn thảo đề án để được Uỷ ban Nhân dân
tỉnh phê duyệt.
- Đề xuất các giải pháp để thực hiện quy hoạch, bao gồm các nhóm giải pháp sau đây:

và điều kiện để phát triển v ề nhân cách, đa ̣o đức, trí tuệ, năng lực sáng ta ̣o , thể chất,
tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật; đề cao tinh
thần yêu nước, tự hào dân tộc, lương tâm, trách nhiệm của mỗi người với b ản thân
mình,

với

gia

đình,

cô ̣ng

đồ ng,



hô ̣i



đất

nước.

- Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Xây dựng văn hóa trong hệ
thống chính trị, trong từng cộng đồng làng, bản, khu phố, cơ quan, đơn vị, doanh
nghiệp và mỗi gia đình. Phát huy vai trò của gia đình, cộng đồng, xã hội trong việc xây
dựng môi trường văn hóa, làm cho văn hóa trở thành nhân tố thúc đẩy con người Việt

hoá dân tộc, tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới, làm phong phú thêm nền
văn hóa dân tộc, bắt kịp sự phát triển của thời đại.


17

+ Giải phóng mạnh mẽ năng lực và tiềm năng sáng tạo của mọi người, phát huy cao
độ tính sáng tạo của trí thức, văn nghệ sĩ; đào tạo tài năng văn hóa nghệ thuật; tạo cơ
chế, chính sách và cơ sở vật chất để có nhiều sản phẩm văn hóa nghệ thuật chất lượng
cao xứng tầm với dân tộc và thời đại.
+ Tạo mọi điều kiện nâng cao mức hưởng thụ và tham gia hoạt động sáng tạo văn
hóa của nhân dân.
+ Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hóa, huy động mọi nguồn lực cho phát
triển văn hóa.
- 9 nhiệm vụ trọng tâm nhằm phát triển văn hóa của đất nước đến năm 2020 là:
+ Xây dựng con người toàn diện, có đủ phẩm chất về tư tưởng, đạo đức, lối sống và
nhân cách văn hóa, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước và hội nhập quốc tế là nhiệm vụ hàng đầu, quan trọng, thường xuyên, vừa cấp
bách, vừa cơ bản, lâu dài của sự nghiệp phát triển văn hóa nước ta. Các phẩm chất đó
bao gồm: có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, có lối sống lành mạnh, nếp sống
văn minh, không ngừng nâng cao tri thức, học tập suốt đời; biết suy nghĩ độc lập và tự
chịu trách nhiệm; có tư duy cởi mở với cái mới; rèn luyện thể lực; tu dưỡng cả kiến
thức, kỹ năng nghề nghiệp và đạo làm người; biết xây dựng gia đình đoàn kết, hòa
thuận, bình đẳng, hạnh phúc.
+ Xây dựng đời sống văn hóa và môi trường văn hóa là một nhiệm vụ quan trọng, có
quan hệ khăng khít với việc xây dựng con người phát triển toàn diện. Để xây dựng đời
sống văn hóa và môi trường văn hóa – xã hội lành mạnh, cần xác lập các thể chế dân
chủ ở cơ sở, khuyến khích và tạo điều kiện cho mọi người dân được tổ chức và tham
gia các sinh hoạt văn hóa cộng đồng; hình thành truyền thống xã hội học tập; giáo dục
sức khỏe cộng đồng, lối sống thân thiện và bảo vệ môi trường thiên nhiên; thực hiện

điểm của nhà nước ta là công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc
không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Đồng bào
các tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đoàn kết dân tộc.


19

+ Tăng cường công tác thông tin đại chúng. Thông tin đại chúng là phương tiện
chuyển tải các giá trị văn hóa đến công chúng, đồng thời, bản thân thông tin cũng là
một dạng thức văn hóa đặc thù, có tác động mạnh mẽ, sâu rộng đối với công chúng.
Phát triển và hiện đại hóa mạng lưới thông tin đại chúng, nâng cao chất lượng các sản
phẩm thông tin. Tăng cường và nâng cao chất lượng hoạt động của các hoạt động
thông tin đối ngoại.
+ Tăng cường, chủ động hợp tác và giao lưu quốc tế về văn hóa. Hiện nay ngoại giao
văn hóa giữ một vị trí quan trọng trong chính sách của các quốc gia. Chủ động đón
nhận các cơ hội phát triển cũng như cần có bản lĩnh vượt qua các thử thách để giữ gìn
bản sắc văn hóa dân tộc. Chú trọng ngăn chặn, loại bỏ những ảnh hưởng tiêu cực, mặt
trái của toàn cầu hóa đối với văn hóa nước ta.
+ Hoàn thiện hệ thống thể chế và thiết chế văn hóa. Hoàn chỉnh hệ thống các văn bản
pháp luật và cơ chế, chính sách về văn hóa, nghệ thuật một cách toàn diện, đồng bộ
trên mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa phù hợp với đường lối của Đảng Cộng sản Việt
Nam, pháp luật của Nhà nước Việt Nam.
5.1.4. Quyết định số 87/2009/QĐ – TTg ngày 17/6/2009 của Chính phủ phê duyệt kế
hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Đắk Lắk:
Trong Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, có ghi rõ:
“Tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, coi trọng phát huy nhân tố con
người, nâng cao năng lực giáo dục, đào tạo và trình độ dân trí kết hợp với phát triển
khoa học công nghệ … xem đó là một trong những yếu tố quyết định để thực hiện
công nghiệp hóa và hiện đại hóa”.
“…xây dựng Đắk Lắk trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng Tây

5.2. Những căn cứ cho việc xây dựng nội dung cụ thể của quy hoạch
5.2.1. Các văn bản của Quốc hội
1) Luật Di sản văn hóa số 28/2001/QH10 ngày 29/6/2001 của Quốc hội khóa X.
2) Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa, số 32/2009/QH12
ngày 18/6/2009 của Quốc hội khóa XII.


21

3) Luật Điện ảnh số 62/2006/QH11, ngày 29/06/2006 của Quốc hội.
4) Luật Điện ảnh số 31/2009/QH12, sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật điện ảnh
số 62/2006/QH11, ngày 18/6/2009.
5) Luật Quảng cáo số 16/2012/QH13 của Quốc hội, ngày 21/6/2012.
6) Pháp lệnh Thư viện số 31/2000/PL-UBTVQH10 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
ngày 28/02/2001.
5.2.2. Các văn bản của Chính phủ
1) Chỉ thị số 39/1998/CT-TTg ngày 3/12/1998 của Thủ tướng Chính phủ Về việc đẩy
mạnh công tác văn hóa - thông tin ở miền núi và vùng đồng bào các dân tộc thiểu số.
2) Quyết định số 156/QĐ-TTg ngày 23 tháng 6 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ
Phê duyệt “Quy hoạch tổng thể hệ thống bảo tàng Việt Nam đến năm 2020”.
3) Quyết định số 271/2005/QĐ-TTg ngày 31 tháng 10 năm 2005 của Thủ tướng
Chính phủ Phê duyệt “Quy hoạch phát triển hệ thống thiết chế văn hóa thông tin cơ sở
đến năm 2010”.
4) Quyết định số 581/QĐ-TTg ngày 6/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê
duyệt Chiến lược phát triển văn hoá đến năm 2020.
5) Nghị định 92/2006/NĐ-CP ngày 7/9/2006 của Chính phủ Về lập, phê duyệt và
quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội.
6) Nghị định 04/2008/NĐ-CP ngày 11/1/2008 của Chính phủ Sửa đổi, bổ sung một
số điều của Nghị định 92/2006/NĐ-CP.
7) Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ

Thể thao và Du lịch Phê duyệt “Chương trình phối hợp, chỉ đạo và tổ chức triển khai
thực hiện Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020”.
3) Chỉ thị số 79/CT-BVHTTDL ngày 22 tháng 5 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch Về việc tổ chức triển khai thực hiện “Chiến lược phát triển
văn hóa đến năm 2020”.


23

4) Chỉ thị số 194/CT-BVHTTDL ngày 20/10/2011 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du
lịch Về tổ chức triển khai thực hiện đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc
thiểu số Việt Nam đến năm 2020”.
5) Thông tư liên tịch số 43/2008/TTLT-BVHTTDL-BNV ngày 6 tháng 6 năm 2008
của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Bộ Nội vụ Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thuộc Uỷ ban Nhân
dân cấp tỉnh, phòng Văn hóa Thể thao thuộc Uỷ ban Nhân dân cấp huyện.
6) Thông tư số 01/2010/TT-BVHTTDL ngày 26 tháng 02 năm 2010 Ban hành “Quy
chế về tổ chức và hoạt động của tổ chức sự nghiệp hoạt động trong lĩnh vực văn hóa,
thể thao và du lịch quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương”.
7) Thông tư số 11/2010/TT/BVHTTDL ngày 22 tháng 12 năm 2010 của Bộ trưởng
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quy định tiêu chí của Trung tâm Văn hóa – Thể thao
quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh.
8) Thông tư số 06/2011/TT/BVHTTDL ngày 8 tháng 3 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quy định mẫu về tổ chức, hoạt động và tiêu chí của Nhà
văn hóa – Khu thể thao thôn.
9) Thông tư số 12/2010/TT/BVHTTDL ngày 22 tháng 12 năm 2011 của Bộ trưởng
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quy định mẫu về tổ chức, hoạt động và tiêu chí của
Trung tâm Văn hóa – Thể thao xã.
10) Thông tư số 02/2013/TT-BVHTTDL, ngày 24/01/2013 của Bộ Văn hóa, Thể

9) Chương trình (số 41-CTr/TU ngày 26/8/2014 của Tỉnh ủy Đắc Lắk) thực hiện
Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về "xây
dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững
đất nước".
6. Phƣơng pháp xây dựng quy hoạch
6.1. Phương pháp điều tra, khảo sát thực trạng


25

Việc điều tra, khảo sát thực trạng là điều kiện tiên quyết để làm quy hoạch. Kết quả
điều tra trung thực sẽ cho những nhận xét chính xác và quy hoạch đưa ra sẽ phù hợp
với thực tế, mang tính khả thi. Quá trình điều tra, khảo sát thực trạng dựa trên những
mẫu phiếu được thiết kế theo yêu cầu đối với từng phương diện văn hóa. Tổng cộng có
10 mẫu phiếu điều tra:
- Mẫu 1: Khảo sát đời sống kinh tế của dân cư theo huyện.
- Mẫu 2: Khảo sát các loại hình văn hóa vật thể, phi vật thể.
- Mẫu 3: Khảo sát cơ sở vật chất và hoạt động của các thư viện.
- Mẫu 4: Khảo sát cơ sở vật chất và hoạt động của bảo tàng và các nhà truyền thống.
- Mẫu 5: Khảo sát cơ sở vật chất và hoạt động của các trung tâm, nhà văn hóa.
- Mẫu 6: Khảo sát số lượng sách và doanh thu của các cửa hàng sách và văn hóa phẩm.
- Mẫu 7: Khảo sát cơ sở vật chất và hoạt động của các đoàn nghệ thuật và đội tuyên
truyền lưu động.
- Mẫu 8: Khảo sát số lượng, quy mô của các tượng đài, công viên, khu vui chơi giải trí.
- Mẫu 9: Khảo sát các rạp và đội chiếu bóng lưu động.
- Mẫu 10: Khảo sát bộ máy quản lý văn hóa và số lượng, trình độ cán bộ.
6.2. Phương pháp phân tích xã hội học
Trên cơ sở kết quả khảo sát theo các mẫu điều tra cơ bản, các phân tích xã hội học
được thực hiện nhằm tìm ra những mặt mạnh, yếu; thuận lợi, khó khăn của từng đơn
vị.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status