NGHIÊN CỨU CÁC LOẠI HÌNH DU LỊCH ĐỂ HÌNH THÀNH CÁC TOUR DU
LỊCH DÀI NGÀY, NỘI TỈNH, THÚC ĐẨY DỊCH VỤ - DU LỊCH
QUẢNG BÌNH PHÁT TRIỂN
A. THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI
1. Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Khắc Thái.
2. Cơ quan chủ trì đề tài: Trung tâm Tin học và Thông tin khoa học, công nghệ
Quảng Bình.
3. Những cá nhân tham gia thực hiện đề tài: CN. Nguyễn Diên An; TS. Phạm
Hoàng Chương; ThS. Nguyễn Văn Thắng; ThS. Nguyễn Duy Tân; CN. Nguyễn Đăng
Tuấn; CN. Lưu Văn Lộc; CN. Tạ Trung Nghĩa; CN. Đinh Phú Lộc; KTV Trần Ngọc Hải.
4. Cấp quản lý: UBND tỉnh Quảng Bình.
5. Mục tiêu của đề tài:
- Trên cơ sở xác lập hệ thống các luận cứ khoa học về giá trị tài nguyên du lịch, khả
năng khai thác các giá trị này thích ứng với nguồn lực, điều kiện địa phương và xu thế
hội nhập với xu thế phát triển của lĩnh vực du lịch trên cả nước, xây dựng các loại hình
và tours du lịch dài ngày, nội tỉnh phù hợp với nguồn lực và tình hình địa phương nhằm
nâng cao hiệu quả khai thác tài nguyên du lịch, thúc đẩy dịch vụ - du lịch phát triển.
6. Phương pháp nghiên cứu của đề tài:
- Sử dụng phương pháp điều tra đánh giá.
- Nghiên cứu xác lập, xây dựng phác đồ các tour, tuyến du lịch.
7. Phạm vi nghiên cứu và ứng dụng của đề tài: Quảng Bình.
8. Những đóng góp của đề tài:
- Xây dựng được các tour, tuyến du lịch dài ngày nội tỉnh phục vụ phát triển du lịch
Quảng Bình.
9. Thời gian thực hiện đề tài: 24 tháng (Từ tháng 09/2007 đến tháng 9/2009).
10. Bố cục của đề tài: Đề tài có 2 phần, 9 mục chương; 43 luận giải cơ sở, 51 luận
đề, 15 luận điểm, 4 giải pháp kỹ thuật, 5 kết luận và 5 kiến nghị.
B. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG DU LỊCH
TỪ KHI CÓ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI
cấu kinh tế cả nước và từng địa phương, thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo, mở
rộng giao lưu giữa các vùng, miền trong nước và quốc tế.
2. Tình hình và định hướng hoạt động du lịch trên địa bàn khu vực Bắc miền
Trung và Quảng Bình.
2.1. Vài nét về tình hình và định hướng phát triển du lịch khu vực Bắc miền Trung.
Tại hội thảo về phát triển du lịch Bắc miền Trung do Tổng cục Du lịch Việt Nam tổ
chức tại Cửa Lò ngày mồng 2/6/ 2009, hầu hết những nhà quản lý, nhà khoa học và nhà
kinh doanh du lịch đều thống nhất nhận định du lịch Bắc miền Trung là đơn điệu, khuôn
mẫu và lặp lại lối mòn, thiếu sáng tạo và thiếu những tìm tòi để khai thác tiềm năng, thế
mạnh từng địa phương; mặc dù Bắc miền Trung là quê hương của 3 Di sản thế giới và là
địa bàn chứa đựng những di tích lịch sử văn hoá có giá trị quốc gia và toàn cầu.
Tính hướng đích cho du lịch Bắc miền Trung là xác định thị trường, đẩy mạnh hợp
tác, liên kết, đa dạng hóa, nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, xúc tiến quảng bá và đề
ra kế sách, giải pháp giảm tính mùa vụ. Đó là tiền đề quan trọng để phát triển Bắc miền
Trung thành một trong những trung tâm du lịch biển đảo của Việt Nam và thúc đẩy du
lịch dọc hành lang kinh tế Đông Tây.
2.2. Thực trạng hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Bình trong những năm
2000.
Nhận định chung:
Một số thành tựu cơ bản mà ngành du lịch đạt được trong thập niên qua:
- Ngành du lịch đã tích cực chủ động tham gia, đề xuất xây dựng cơ chế chính sách
nhằm khuyến khích phát triển du lịch - dịch vụ của tỉnh, phối hợp cùng các ban, ngành,
các địa phương tham gia góp ý sửa đổi, bổ sung và thẩm định các dự án đầu tư phát triển
du lịch.
- Bộ máy cơ quan quản lý Nhà nước về du lịch vẫn đang tiếp tục được kiện toàn
cũng cố ổn định.
- Công tác đào tạo nguồn nhân lực tiếp tục được quan tâm.
- Công tác tuyên truyền quảng bá, xúc tiến du lịch đã có nhiều chuyển biến theo
Riêng 6 tháng đầu năm 2009, doanh thu chuyên ngành đã đạt 71,1 tỷ đồng/tổng doanh thu
157 tỷ đồng.
2.3. Những tồn tại và thách thức đối với du lịch Quảng Bình.
Về chủ quan:
- Tổ chức bộ máy và biên chế của cơ quan quản lý Nhà nước về du lịch còn thiếu và
yếu, chưa theo kịp sự phát triển của du lịch.
- Chưa xây dựng được cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư phát triển du lịch
một cách có hiệu quả.
- Nguồn nhân lực du lịch chưa thật sự đáp ứng đầy đủ yêu cầu, nhiệm vụ trong xu
thế hội nhập kinh tế quốc tế.
- Vật chất kỹ thuật và hạ tầng du lịch tuy đã được chú trọng đầu tư nhưng vẫn chậm
phát triển và thiếu đồng bộ.
- Đa số các doanh nghiệp hoạt động du lịch của tỉnh có quy mô vừa và nhỏ, năng
lực cạnh tranh yếu, thiếu tính liên kết vùng miền, chưa đủ sức vươn ra thị trường nước
ngoài. Sản phẩm du lịch, chương trình tours, tuyến còn đơn điệu, kém hấp dẫn, chưa đủ
sức vươn ra thị trường trong nước và quốc tế. Có thể nói khó khăn hơn cả là hiện nay
ngành du lịch Quảng Bình chưa có doanh nghiệp nào hoạt động kinh doanh lữ hành tầm
cỡ quốc gia và quốc tế. Do vậy, đây là thách thức không nhỏ đối với ngành du lịch
Quảng Bình trong phát triển bền vững.
Về khách quan:
- Tình hình phát triển kinh tế - xã hội Quảng Bình trong thập kỷ vừa qua đã có
những tiến bộ đáng kể nhưng so với mặt bằng chung của khu vực và cả nước thì Quảng
Bình vẫn đang là một tỉnh nghèo, khả năng đầu tư cho các lĩnh vực nói chung, trong đó
du lịch đang còn hạn chế.
- Tính mùa vụ du lịch ở Quảng Bình khá cao. Mùa du lịch thường chỉ kéo dài từ
tháng 3 đến tháng 9 hàng năm. Do vậy, việc điều chỉnh đầu tư và tổ chức hoạt động trong
chu kỳ một năm gặp nhiều khó khăn.
2.4. Chủ trương và giải pháp phát triển du lịch của cấp uỷ Đảng và chính quyền tỉnh
tỉnh.
+ Khu du lịch phía Nam tỉnh Quảng Bình: Cùng với suối nước khoáng nóng Bang,
cần khai thác tốt Bàu Sen, Hồ An Mã, Nhà lưu niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đền
thờ và Lăng mộ Nguyễn Hữu Cảnh. Khu nghỉ dưỡng sinh thái và du lịch Tâm linh Hồ
Rào Đá, chùa Non, núi Thần Đinh.
+ Di sản Thiên nhiên thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng: Đây là khu du lịch có tính đột
phá của tỉnh. Tuy nhiên, cần chú trọng công tác bảo vệ, bảo tồn và phát huy các giá trị
của Di sản Thế giới.
Chương 2
ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN DU LỊCH QUẢNG BÌNH
1. Phương pháp đánh giá tài nguyên du lịch.
a. Khái niệm chung về tài nguyên du lịch.
“Tài nguyên du lịch là các thành phần, các thể cảnh quan tự nhiên và nhân sinh có
thể dùng để tạo ra sản phẩm du lịch, thoả mãn nhu cầu về chữa bệnh, thể thao, nghỉ ngơi
hay tham quan, du lịch” (Pirôginoic - 1985).
Theo các cách hiểu trên đây thì tài nguyên du lịch vô cùng phong phú và đa dạng,
song về mặt cấu trúc, tài nguyên du lịch có thể phân chia thành hai hệ thống: tài nguyên
du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn.
b. Phương pháp đánh giá.
- Phương pháp đánh giá tổng hợp là phương pháp phù hợp với hiện trạng tài nguyên
và điều kiện phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
- Việc đánh giá tổng hợp các tài nguyên du lịch Quảng Bình sẽ được thực hiện lồng
ghép các yếu tố và tiêu chí về thẩm mỹ, sinh học, kỹ thuật, kinh tế, trong một khu vực
lãnh thổ có tài nguyên du lịch đang và sẽ được khai thác làm đối tượng khu vực đánh giá
tổng hợp.
2. Đánh giá tài nguyên du lịch Quảng Bình.
a. Đánh giá tổng quát.
Tài nguyên du lịch tồn tại trong hai thể: tự nhiên (danh thắng) và văn hoá (di tích
chúa; Làng Văn hóa Cảnh Dương; Trọng điểm Cảng Gianh.
+ Tại huyện Bố Trạch: Thành Cao Lao Hạ; Khu tưởng niệm anh hùng, liệt sỹ đường
20 - hang “Tám cô”; Khu tượng đài thanh niên xung phong; Sân bay Khe Gát; Bản Arem.
+ Tại thành phố Đồng Hới: Thành Đồng Hới; Quảng Bình Quan; Lũy Nhật Lệ; Vực
Quành.
+ Tại huyện Quảng Ninh: Trọng điểm Long Đại; Chùa Non.
+ Tại huyện Lệ Thủy: Lăng mộ Nguyễn Hữu Cảnh; Đền thờ Hoàng Hối Khanh;
Nhà lưu niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp; Trận địa và khu tượng đài C gái pháo binh
Ngư Thủy.
c. Đánh giá giá trị nội dung và tâm lý - thẩm mỹ.
Định hướng phát triển du lịch Quảng Bình đến 2010 đã xác định 4 khu vực du lịch
là: Khu vực du lịch phía Bắc Quảng Bình, khu vực du lịch Đồng Hới, khu vực du lịch
phía Nam Quảng Bình và Khu vực Di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng.
* Khu vực du lịch phía Bắc Quảng Bình.
Khu vực này tập trung vào khai thác sản phẩm du lịch nghỉ dưỡng biển Vũng Chùa
- Đảo Yến, cụm di tích lịch sử - văn hóa Đèo Ngang - Hoành Sơn quan, du lịch văn hoá
tộc người trong nhóm các dân tộc Chứt và một vài nhóm đơn lẻ thuộc các dân tộc
Mường, Thái, Lào sống rải rác quanh vùng, các giá trị di tích lịch sử cách mạng phân bố
trên địa bàn các huyện Tuyên Hoá, Minh Hoá, Quảng Trạch trên tuyến đường 12A.
Trên tuyến này có các điểm đến có sức hấp dẫn về văn hoá và tâm linh là Hoành
Sơn quan, Lâm Ấp luỹ cũ, đền Liễu Hạnh công chúa đều là những điểm đến không bị
trùng lặp về phương diện tâm lý thẩm mỹ so với các điểm đến cùng loại trong khu vực.
* Khu vực du lịch Đồng Hới.
Trong nhóm các tài nguyên sinh cảnh có bãi biển Đá Nhảy – Lý Hoà, bãi biển Nhật
Lệ và hồ nước ngọt Bàu Tró, có vực Quành như một dạng bảo tàng ngoài trời.
Các tài nguyên du lịch trong khu vực du lịch Đồng Hới trên đây tuy có dấu ấn về
nội dung văn hoá - lịch sử có thể có giá trị tâm lý - thẩm mỹ nhưng hầu hết các công
trình này đã bị thiên nhiên và con người huỷ hoại, các công trình xây dựng với công năng
- Đánh giá tải trọng của lãnh thổ.
- Đánh giá lãnh thổ về ảnh hưởng của môi trường thiên nhiên và khí hậu đối với du
lịch.
Quá trình khảo sát các chỉ tiêu cho thấy, tải trọng lãnh thổ tại các khu vực du lịch
chưa có áp lực. Nguyên nhân chính là do hoạt động du lịch chưa sôi động nên chưa tạo ra
áp lực. Tiên lượng áp lực sẽ xuất hiện ở Phong Nha. Vì vậy, cần có các tours dài ngày,
nội tỉnh để kéo hoạt động du lịch ra ngoài địa bàn Phong Nha.
Chương 3
ĐÁNH GIÁ CHỦ THỂ TỔ CHỨC - HOẠT ĐỘNG DU LỊCH
1. Đánh giá chủ thể quản lý và tổ chức hoạt động du lịch.
Đề tài đánh giá theo các cấp độ sau:
- Đánh giá cấp độ thích ứng của tổ chức bộ máy vận hành hoạt động du lịch.
- Đánh giá cấp độ chuyên môn trong hoạt động du lịch của chủ thể.
2. Đánh giá cấp độ thích ứng của môi trường xã hội và phản ứng của cộng
đồng về hoạt động du lịch trên địa bàn.
- Phản ứng tích cực nhất của hoạt động du lịch là sự đồng tình của đại đa số cư dân
trong các khu vực có hoạt động du lịch trực tiếp và sự tham gia của cộng đồng dân cư
vào hoạt động của du khách.
- Bên cạnh sự thu hút của hoạt động du lịch ở một khu vực tài nguyên thì tỷ lệ
những người không biết, chưa biết và thờ ơ với tài nguyên du lịch và hoạt động du lịch
trên địa bàn Quảng Bình cực kỳ lớn. Tình trạng đó cho thấy, các chương trình du lịch
Quảng Bình vẫn đang tồn tại đơn độc, theo lối mòn và quán tính. Vì thế dòng chảy cho
các hoạt động này từ năm này sang năm khác vẫn không thay đổi. Sức lan toả của hoạt
động du lịch hết sức hạn hẹp, chưa đủ để tạo ra vết dầu loang trong nội địa cũng như
trong thị truờng du lịch trong nước và quốc tế. Dấu hiệu tiêu cực này là một trong những
mối quan ngại hết sức lớn đối với việc xác lập các chương trình du lịch mới.
Chương 4
XÁC LẬP CÁC LOẠI HÌNH DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH QUẢNG BÌNH
1. Cơ sở xác lập loại hình du lịch.
- Đánh giá chung về loại hình.
Trong tất cả các loại hình có thể xác lập tại Quảng Bình đã nêu trên đây, có những
loại hình đang hoạt động có hiệu quả như loại hình du lịch hỗn hợp, loại hình du lịch văn
hóa và một vài hoạt động du lịch mang màu sắc du lịch sinh thái. Các loại hình khác có
tiềm năng nhưng vì nhiều lý do khách quan và chủ quan (như chưa có đầu tư hạ tầng
đúng mức, chưa có sự quảng bá rộng rãi, chưa đủ sức cạnh tranh với các trung tâm du
lịch có loại hình du lịch tương tự,...) nên trước mắt chưa đưa vào khai thác, nhưng trong
một tương lai gần, các loại hình này sẽ có chỗ đứng trên thị trường du lịch nếu nó được
quy hoạch để tham gia vào các chương trình, các tuyến và tour du lịch dài ngày một cách
hợp lý.
Chương 5
XÁC LẬP CÁC TOURS DU LỊCH DÀI NGÀY, NỘI TỈNH
1. Quan điểm xác lập.
Đề tài đã đưa ra quan điểm xác lập và phân tích các yếu tố để xác lập các tuyến,
tours du lịch dài ngày, nội tỉnh phải được thực hiện trên cơ sở đảm bảo các yếu tố hấp
dẫn, khả thi, hiệu quả kinh tế, tính bền vững và nhiều yếu tố khác.
2. Lợi thế so sánh của Quảng Bình trong phát triển du lịch.
Đề tài tập trung phân tích, đánh giá các lợi thế của Quảng Bình trong phát triển du
lịch, bao gồm:
- Lợi thế so sánh về giá trị tài nguyên.
- Lợi thế so sánh về vị trí địa lý và hệ thống phục vụ di chuyển của khách du lịch
đến các điểm tài nguyên du lịch.
- Lợi thế so sánh về môi trường và phát triển bền vững.
- Lợi thế so sánh về đặc điểm lịch sử.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tuy hoạt động du lịch trên địa bàn Quảng Bình hiện
nay chưa phát triển ngang tầm với tài nguyên du lịch phân bố trên khắp địa bàn của tỉnh
nhưng có rất nhiều lợi thế để phát triển du lịch trong tương lai.
3. Xác lập các tours du lịch dài ngày trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
* Mục tiêu:
Giai đoạn II là giai đoạn chỉ hình thành khi giai đoạn I thu được kết quả tốt, thúc
đẩy hoạt động du lịch phát triển đến mức nảy sinh vấn đề tải trọng tới hạn và địa bàn du
lịch Quảng Bình đã có chỗ đứng xứng đáng trên bản đồ du lịch quốc gia. Giai đoạn này
có những mục tiêu sau:
- Đưa cả 4 khu du lịch đã được xác định trong Chương trình Du lịch của tỉnh giai
đoạn 2010 và định hướng 2020 vào hoạt động.
- Hình thành được sự liên kết ngoại để các tours du lịch nội tỉnh được bố trí trong
chương trình lữ hành của các tours ngoại (quốc tế và quốc gia).
- Hình thành được hoạt động lữ hành độc lập ngoại và độc lập nội.
- Khai thác các hoạt động văn hóa - xã hội nội địa vào chương trình du lịch (như
khai thác thiết chế các làng văn hóa du lịch, các lễ hội, các hoạt động kỷ niệm, các cuộc
gặp gỡ, các hoạt động dã ngoại của các tổ chức kinh tế - xã hội, các hoạt động giáo dục
truyền thống...).
* Thiết lập các tours du lịch mới:
Đề tài nghiên cứu thiết lập các tours du lịch mới, gồm:
Tour 5: Du lịch hỗn hợp văn hóa - sinh thái Đồng Hới - Đá Nhảy - Phong Nha –
Bang.
Tour 6: Du lịch sinh thái biển Đồng Hới - Phong Nha - Đền Liễu Hạnh công chúa Hòn La, Đảo Yến - Đá Nhảy.
Tour 7: Du lịch sinh thái rừng nhiệt đới kết hợp sinh thái nhân văn Đồng Hới - Cà
Roòng.
Tour 8: Tour du lịch sinh thái U bò, Rào Đá.
Tour 9: Tour thử nghiệm du lịch mạo hiểm Hang Tối.
Trên đây là các tours dài ngày được xác lập trên nguyên tắc lấy danh tiếng Phong
Nha làm sức hút trung tâm, từ đó triển khai chương trình đến các tài nguyên khác để đạt
tiêu chí dài ngày.
* Tổ chức các hoạt động phối hợp:
Để các tours du lịch dài ngày, nội tỉnh trở thành hiện thực, mang lại hiệu quả, góp
- Giải pháp tạo điểm đến.
- Giải pháp dịch vụ.
- Giải pháp xử lý quỹ thời gian.
- Các giải pháp cho chủ thể.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận.
Qua thực tiễn nghiên cứu, điều tra và đánh giá tài nguyên du lịch trên địa bàn tỉnh
Quảng Bình cho thấy, tài nguyên du lịch rất phong phú và đa dạng, phân bố rộng khắp
trên địa bàn, chứa đựng một số yếu tố về nội dung và cấu trúc hình thái để thiết lập các
loại hình du lịch văn hóa, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng - chữa bệnh, thể thao - giải trí và
du lịch hỗn hợp. Tuy nhiên, chỉ có các loại hình du lịch sinh thái, du lịch văn hóa và du
lịch hỗn hợp là những loại hình có thể vận dụng để thiết lập các tour du lịch dài ngày, nội
tỉnh. Các loại hình khác như du lịch thể thao, nghỉ dưỡng và chữa bệnh, du lịch công vụ,
du lịch khoa học do còn có những khó khăn về điều kiện đầu tư và tổ chức nên chưa thể
lập tour độc lập mà vận dụng kết hợp trong các tours hỗn hợp.
Trong số trên 150 điểm tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên văn hóa có chứa đựng
yếu tố du lịch (có nội dung và cấu trúc hình thức để tổ chức một loại hình du lịch nào đó)
thì chỉ có 38 tài nguyên đạt được tiêu chí về sự nổi trội (tính trác việt) và sự dị biệt (tính
khác lạ) ở những mức độ khác nhau, được phân bố tập trung trong một khu vực hay trong
một tuyến du lịch nhất định mới đủ điều kiện để huy động khai thác phục vụ cho việc
thiết lập các tour dài ngày, nội tỉnh. Số tài nguyên này chủ yếu tập trung tại khu vực
Phong Nha – Kẻ Bàng (khoảng 10 điểm tài nguyên), khu du lịch phía Bắc (khoảng 9
điểm tài nguyên), khu du lịch phía Nam (khoảng 12 điểm tài nguyên) và khu du lịch
trung tâm Đồng Hới (khoảng 7 điểm tài nguyên).
Trên cơ sở những tài nguyên có tính nổi trội và tính dị biệt có sức hấp dẫn đối với
hoạt động du lịch, có thể thiết lập 7 tour du lịch dài ngày, nội tỉnh, được chia làm 2 giai
đoạn thực hiện. Giai đoạn gồm 2 tour kéo dài các tours ngắn ngày đang hoạt động, 1 tour
thiết lập mới có tính chất thử nghiệm để làm tiền đề cho giai đoạn II. Giai đoạn II có 4
- Có chủ trương khuyến khích và vận động các cơ quan, các tổ chức kinh tế - xã hội
trong tỉnh sử dụng tours du lịch dài ngày, nội tỉnh đã đề xuất khi có những hoạt động văn
hóa - xã hội trong nội bộ cơ quan và tổ chức kinh tế - xã hội để làm tiền đề và cơ sở thu
hút các tours du lịch chính thức.
Tổng thuật: Lưu Văn Lộc