I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
BI BCH PHNG
KIểM SáT ĐIềU TRA
ĐốI VớI CáC Vụ áN XÂM PHạM Sở HữU
(Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn quận Nam Từ Liêm,
thành phố Hà Nội)
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2015
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
BI BCH PHNG
KIểM SáT ĐIềU TRA
ĐốI VớI CáC Vụ áN XÂM PHạM Sở HữU
(Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn quận Nam Từ Liêm,
thành phố Hà Nội)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04
LUN VN THC S LUT HC
Cỏn b hng dn khoa hc: TS. TRN VN DNG
Một số vấn đề lý luận về kiểm sát hoạt động điều tra của Viện
kiểm sát nhân dân .............................................................................. 7
1.1.1. Kiểm sát điều tra – một trong những chức năng cơ bản của Viện
kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự .............................................. 7
1.1.2. Tăng cường Kiểm sát hoạt động điều tra – một yêu cầu khách
quan của quá trình cải cách tư pháp ................................................... 23
1.2.
Một số vấn đề chung về các tội xâm phạm sở hữu ........................ 29
1.3.
Một số vấn đề chung kiểm sát hoạt động điều tra trong các vụ
án xâm phạm sở hữu ........................................................................ 33
Chương 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ THỰC TIỄN VỀ KIỂM SÁT HOẠT
ĐỘNG ĐIỀU TRA CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN ĐỐI
VỚI CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU TRÊN ĐỊA BÀN
QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI ......................... 36
2.1.
Đặc điểm tình hình các vụ án phạm sở hữu trên địa bàn quận
Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội ................................................... 36
2.1.1. Tình hình các vụ án xâm phạm sở hữu trên địa bàn quận Nam Từ
Liêm, thành phố Hà Nội ..................................................................... 36
2.1.2. Một số đặc điểm chung về các vụ án xâm phạm sở hữu trên địa
vụ án xâm phạm sở hữu trên địa bàn quận Nam Từ Liêm, thành
phố Hà Nội ......................................................................................... 49
2.3.2. Nguyên nhân khách quan ................................................................... 53
2.3.3. Nguyên nhân chủ quan ....................................................................... 55
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA ĐỐI VỚI
CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN
NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI ...................................... 58
3.1.
Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm sát hoạt động
điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu.............................................. 58
3.1.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về tố tụng hình sự ............................. 58
3.1.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về Luật tổ chức Cơ quan điều tra
hình sự ................................................................................................ 64
3.2.
Các đề xuất nâng cao năng lực của Kiểm sát viên ........................ 65
3.2.1. Tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng trong các cơ
quan Viện kiểm sát ............................................................................. 65
3.2.2. Nâng cao ý thức đạo đức, năng lực chuyên môn nghiệp vụ của
đội ngũ cán bộ, kiểm sát viên và các chủ thể có thẩm quyền áp
dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm sở
hữu ...................................................................................................... 67
3.2.3. Kiện toàn bộ máy ngành kiểm sát trong hoạt động kiểm sát điều
tra các vụ án xâm phạm sở hữu .......................................................... 70
3.2.4. Tăng cường công tác kiểm tra hoạt động kiểm sát điều tra các vụ
Hội đồng xét xử
TANDTC:
Tòa án nhân dân tối cao
TNHS:
Trách nhiệm hình sự
VKS:
Viện kiểm sát
VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
XHCN:
Xã hội chủ nghĩa
XXST:
Xét xử sơ thẩm
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng
Tên bảng
Trang
pháp trong đó có Viện kiểm sát là một đòi hỏi có tính cấp bách của Đảng, Nhà
nước ta trong giai đoạn hiện nay. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
IX đã chỉ rõ: "Viện kiểm sát nhân dân tập trung làm tốt chức năng công tố và
kiểm sát hoạt động tư pháp", yêu cầu trên đã được thể chế hóa trong Hiến
pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát năm 2014.
Kiểm sát hoạt động tư pháp trong đó có kiểm sát hoạt động điều tra vụ
án hình sự thể hiện chức năng của Viện kiểm sát, bảo đảm hoạt động điều tra
được tiến hành bởi Cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao thực hiện
hoạt động điều tra được đúng pháp luật; không để lọt tội phạm và người phạm
tội, không làm oan người vô tội. Đồng thời còn là biểu hiện của việc thực hiện
quyền lực nhà nước góp phần ổn định xã hội, phát triển kinh tế và bảo vệ
pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN). Vì vậy, Nghị quyết số 08/NQTW ngày
02/01/2002 của Bộ chính trị đã đặt ra yêu cầu:
VKS các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát
việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp. Hoạt động công tố
phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá
trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm
tội, không làm oan người vô tội, xử lý kịp thời những trường hợp
sai phạm của những người tiến hành tố tụng làm nhiệm vụ... Tăng
cường công tác kiểm sát việc bắt, giam, giữ, bảo đảm đúng pháp
luật; những trường hợp chưa cần bắt, tạm giữ, tạm giam thì kiên
quyết không phê chuẩn lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam; phát hiện và xử
lý kịp thời các trường hợp oan, sai trong bắt, giữ. Viện kiểm sát các
cấp chịu trách nhiệm về những oan, sai trong việc bắt, tạm giữ, tạm
giam thuộc phạm vi thẩm quyền phê chuẩn của mình [6].
1
Để đáp ứng yêu cầu này ngành kiểm sát phải không ngừng nâng cao
chất lượng thực hiện chức năng của mình trong quá trình giải quyết vụ án.
phải trả để điều tra bổ sung nhiều, vẫn còn án hủy. Quá trình giải quyết vụ án
hình sự 05 năm từ 2010 đến 2014, Viện kiểm sát quận Nam Từ Liêm vẫn còn
bị Tòa trả hồ sơ để điều tra bổ sung 33 vụ với 63 bị can tội xâm phạm sở hữu
trên tổng số 81 vụ/159 bị cáo mà Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung, Tòa án
cấp phúc thẩm hủy 01 vụ án. Những hạn chế đó đã gây ra những hậu quả nhất
định đối với người bị khởi tố điều tra, làm cho quá trình giải quyết kéo dài,
ảnh hưởng đến uy tín của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, làm không ít người
dân hoài nghi về chất lượng điều tra, truy tố của các cơ quan này.
Để đáp ứng kịp thời yêu cầu của cải cách tư pháp, thời gian qua Quốc
hội đã sửa đổi, bổ sung và ban hành nhiều văn bản pháp luật như: Hiến pháp
năm 2013, Luật tổ chức VKS năm 2014 và dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự,
Dự thảo Bộ luật hình sự nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của các cơ quan
tư pháp nói chung và Viện kiểm sát nói riêng. Các văn bản pháp luật trên có
nhiều quy định mới liên quan đến chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của
Viện kiểm sát. Vì vậy, cần nghiên cứu làm rõ nội dung các quy định của luật
góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát.
Từ những sự phân tích trên, tác giả quyết định chọn đề tài "Kiểm sát
điều tra đối với các vụ án xâm phạm sở hữu (Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn
địa bàn quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội)" làm đề tài luận văn tốt
nghiệp cao học luật của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Sau khi Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị
về "Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới" và Nghị
quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về "Chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020", Kết luận 79/KL-TW về "Đề án đổi mới tổ chức
và hoạt động của Tòa án, VKS, CQĐT" được ban hành, đã có một số công
trình nghiên cứu khoa học ở các cấp độ khác nhau về vấn đề đổi mới tổ chức
3
Luận văn nghiên cứu tương đối toàn diện lý luận và thực tiễn về vấn đề
kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS trong các vụ án xâm phạm sở hữu trong
điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và cải cách tư pháp.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về vấn đề kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự nói chung và đặc biệt là các vụ án xâm
phạm sở hữu nói riêng nhằm làm rõ bản chất của hoạt động này trong giai
đoạn điều tra và mối liên hệ chặt chẽ giữa các khâu kiểm sát trong hoạt động
KSĐT vụ án hình sự. Luận văn cũng nghiên cứu thực trạng hoạt động kiểm
sát tư pháp của VKS trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu trên
địa bàn quận Nam Từ Liêm từ năm 2010 – 2014. Trên cơ sở đó chỉ ra những
hạn chế của hoạt động này và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác
kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.
Để thực hiện mục đích nói trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về kiểm sát hoạt động điều tra của Viện
kiểm sát nhân dân đối với các tội xâm phạm sở hữu.
- Làm rõ đặc điểm tình hình tội phạm sở hữu trên địa bàn quận Nam Từ
Liêm, thành phố Hà Nội từ đó làm rõ một số vấn đề thực tiễn của hoạt động
kiểm sát hoạt động điều tra với loại tội phạm này.
- Khảo sát thực tiễn thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động điều tra vụ
án xâm phạm sở hữu của VKS, từ đó thấy được những ưu điểm, tích cực và
mặt hạn chế để từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả của việc thực
hiện chức năng này.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận cơ bản về
giai đoạn điều tra vụ án hình sự và hoạt động kiểm sát của VKS trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự. Luận văn giới hạn việc khảo sát thực tiễn từ năm
2010 – 2014 trên địa bàn quận Nam Từ Liêm.
5
6
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG
ĐIỀU TRA ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU
1.1. Một số vấn đề lý luận về kiểm sát hoạt động điều tra của Viện
kiểm sát nhân dân
1.1.1. Kiểm sát điều tra – một trong những chức năng cơ bản của
Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự
Khái niệm kiểm sát điều tra
Theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học thuộc Viện ngôn
ngữ - Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia xuất bản năm 2000, thì
"kiểm sát" có nghĩa là kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật của Nhà nước.
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam xuất bản năm 2002 do Hội đồng
Quốc gia chỉ đạo biên soạn, thì "kiểm sát" là hoạt động của VKSND nhằm
kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan nhà nước.
Với cách giải thích khái niệm "kiểm sát" của các cuốn từ điển nêu trên,
chúng tôi cho rằng, kiểm sát gồm hai loại hình hoạt động cơ bản: giám sát và
kiểm tra. Hoạt động giám sát là hoạt động theo dõi các hoạt động của các đối
tượng bị giám sát và khi cần thiết thì sử dụng các biện pháp tác động phù hợp
để yêu cầu người, cơ quan bị giám sát có hành vi vi phạm pháp luật sửa chữa
vi phạm đó. Hoạt động kiểm tra là hoạt động xem xét, đánh giá hoạt động của
người, cơ quan bị kiểm tra.
Sau Cách mạng tháng 8 thành công Nhà nước ta đứng trước những yêu
cầu của quá trình xây dựng và củng cố đất nước, trong đó việc tuân thủ pháp
luật của của các cơ quan nhà nước và mọi công dân là một trong những yêu
cầu cấp bách cần thực hiện. Muốn đáp ứng được yêu cầu đó cần tổ chức thành
lập một cơ quan nhà nước có chức năng kiểm tra và giám sát các hoạt động áp
8
đã đưa ra tiền đề cho việc nghiên cứu làm rõ chức năng kiểm sát các hoạt
động tư pháp của VKS.
Chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp là một vấn đề được quan
tâm nghiên cứu, tranh luận trong suốt quá trình lập Hiến và lập pháp cũng như
trong quá trình đổi mới cải cách tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp
nước ta trong thời gian qua. Nên, với mục đích đi sâu nghiên cứu làm rõ chức
năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự để giúp chúng ta
nhận thức và phân biệt hình thức hoạt động của VKS với hoạt động của các
cơ quan nhà nước khác. Đồng thời đưa đến sự nhận thức chung, thống nhất
của toàn thể cán bộ ngành kiểm sát nhằm thực hiện tốt và có hiệu quả các quy
định của Luật tổ chức VKSND năm 2002 trong thực tiễn, góp phần bảo vệ
pháp chế XHCN.
Chức năng theo định nghĩa chung nhất được hiểu là những phương
diện, hướng hoạt động của tổ chức, cá nhân thể hiện bản chất của hoạt động
đó. Với quy định tại Điều 137 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) và Điều 1 Luật
tổ chức VKSND năm 2002 thì chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp
được coi là vấn đề căn bản xuyên suốt toàn bộ hoạt động của hệ thống cơ
quan VKS, đồng thời thể hiện bản chất trong hoạt động của VKS nước ta.
Thuật ngữ "kiểm sát các hoạt động tư pháp" được xuất hiện trong các
văn kiện của Đảng như Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX, Nghị quyết số 08
ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị và đặc biệt được quy định tại Điều 137
Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) và Luật tổ chức VKSND năm 2002. Tuy nhiên
nhà lập pháp nước ta chưa đưa ra một định nghĩa pháp lý chung nhất của khái
niệm "kiểm sát các hoạt động tư pháp" nên dẫn đến nhiều quan điểm nhận
thức khác nhau về khái niệm này. Một thực tế chúng ta phải thừa nhận rằng:
Trong suốt một thời gian dài chúng ta chưa quan tâm đúng mức đến
thủ nghiêm chỉnh thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định [11].
Mỗi quan điểm trên đây đều có những lập luận đúng của mình về khái
10
niệm "kiểm sát các hoạt động tư pháp". Tuy nhiên, theo quan điểm chúng tôi
trước hết cần phải khẳng định kiểm sát các hoạt động tư pháp là chức năng
hiến định của VKS. Kiểm sát các hoạt động tư pháp là một dạng giám sát Nhà
nước về tư pháp, đây là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước. Tuy nhiên,
khác với hoạt động giám sát Nhà nước nói chung về tư pháp, kiểm sát các
hoạt động tư pháp là sự giám sát trực tiếp các hoạt động cụ thể của các cơ
quan tư pháp trong quá trình tố tụng với mục đích là nhằm đảm bảo cho pháp
luật được áp dụng nghiêm chỉnh và thống nhất trong quá trình giải quyết các
vụ án và bản chất pháp lý của chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong
tố tụng hình sự là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp trong hành vi của
các chủ thể bị kiểm sát. Từ đó, theo chúng tôi có thể đưa ra định nghĩa về khái
niệm kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự như sau:
Kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự là chức năng
hiến định của VKS, có nội dung là giám sát trực tiếp các hoạt động của các
cơ quan tư pháp trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, nhằm bảo đảm cho
pháp luật tố tụng hình sự được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, thống nhất.
Như vậy, khi đã hiểu được như thế nào là kiểm sát hoạt động tư pháp
trong tố tụng hình sự, thì vấn đề đặt ra cho chúng ta cần tiếp tục làm rõ đó là:
Kiểm sát hoạt động tư pháp trong khởi tố - điều tra vụ án hình sự là gì? Đặc
điểm của chúng?
Chức năng kiểm sát khởi tố - điều tra vụ án hình sự của VKS thực chất
là kiểm sát việc tuân theo pháp luật các hoạt động tư pháp của CQĐT và các
cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra trong quá trình
giải quyết vụ án hình sự. Hoạt động kiểm sát khởi tố - điều tra với tính chất là
cho các hoạt động tố tụng thực hiện theo quy định của pháp luật, đòi hỏi phải
có sự giám sát chặt chẽ của VKS thông qua hoạt động kiểm sát việc tuân theo
pháp luật. Vì vậy, phạm vi của hoạt động kiểm sát khởi tố - điều tra các vụ án
hình sự được xác định bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra hoặt phát hiện được
12
dấu hiệu của tội phạm cho tới khi vụ án được kết thúc điều tra bằng bản kết
luận điều tra của cơ quan có thẩm quyền chuyển cho VKS đề nghị truy tố
hoặc khi CQĐT ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án. Việc xác định phạm vi
như vậy là thể hiện tính đầy đủ, toàn diện của công tác kiểm sát khởi tố - điều
tra các vụ án hình sự của VKS, cũng như thể hiện đầy đủ bản chất pháp lý của
hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong khởi tố - điều tra các vụ án
hình sự đó là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp trong hoạt động tố tụng
của cơ quan tiến hành tố tụng trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự.
Từ những nội dung nêu trên, có thể đưa ra định nghĩa về chức năng
kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra vụ án xâm phạm sở
hữu như sau:
Kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
là chức năng hiến định của VKS, có nội dung là giám sát trực tiếp mọi hoạt
động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá
trình điều tra vụ án hình sự, nhằm bảo đảm cho pháp luật tố tụng hình sự
được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, thống nhất.
Đặc điểm chung của kiểm sát điều tra
Xuất phát từ khái niệm đã nêu ở trên và trên cơ sở nghiên cứu các quy
định của pháp luật liên quan đến hoạt động kiểm sát tư pháp trong giai đoạn
điều tra vụ án hình sự, cho phép rút ra một số đặc điểm chung của nó như sau:
Thứ nhất, kiểm sát các hoạt động tư pháp trong điều tra vụ án hình sự
là chức năng hiến định của VKS, có phạm vi xác định thời điểm bắt đầu từ
vào hồ sơ vụ án theo đúng trình tự tố tụng khởi tố, điều tra vụ án. Đảm bảo
sau khi kết thúc điều tra, các tài liệu trong hồ sơ vụ án do CQĐT thống nhất
đánh số thứ tự một lần và lập bảng thống kê đầy đủ các tài liệu có trong hồ sơ
vụ án từ 01 cho đến hết theo đúng quy định tại mục 20, mục 21 Thông tư liên
tịch 05/2005/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP về quan hệ phối hợp giữa CQĐT
và VKS trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS 2003. Đối với
14
những tài liệu do VKS thu thập được ở giai đoạn truy tố phải được đưa vào hồ
sơ vụ án và đánh số thứ tự tiếp theo số tài liệu trong hồ sơ vụ án do CQĐT
chuyển sang, không được thay đổi thứ tự bút lục trong hồ sơ vụ án.
* Kiểm sát các hoạt động điều tra của CQĐT
Sau khi khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can CQĐT tiếp tục tiến hành
các hoạt động điều tra để thu thập tài liệu, chứng cứ nhằm chứng minh tội
phạm, người phạm tội. Khi CQĐT áp dụng các biện pháp để điều tra, VKS có
trách nhiệm bảo đảm cho mọi biện pháp điều tra phải được thực hiện theo
đúng quy định của pháp luật.
- Kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường
Điều 150 BLTTHS 2003 quy định: "Trong mọi trường hợp, trước khi
tiến hành khám nghiệm, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng
cấp biết. Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc khám nghiệm hiện
trường" [38, Điều 150]. Kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường là một quyền
năng pháp lý của VKS, thông qua hoạt động này VKS có trách nhiệm đảm
bảo cho toàn bộ hoạt động khám nghiệm hiện trường của CQĐT được tiến
hành theo đúng quy định của pháp luật. Khám nghiệm hiện trường thuộc trách
nhiệm của CQĐT, có thể được tiến hành trước hoặc sau khi có quyết định
khởi tố vụ án hình sự. Kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường có thể được
tiến hành dưới hình thức như: VKS trực tiếp tham gia vào hoạt động khám
hoạt động thực nghiệm cần thiết [38, Điều 153].
- Kiểm sát việc đối chất, nhận dạng
Đối chất, nhận dạng là một trong các hoạt động điều tra của CQĐT
được áp dụng trong trường hợp có sự mâu thuẫn trong lời khai của hai hay
nhiều người hoặc trường hợp cần thiết để nhận dạng người, đồ vật, vật chứng,
tài liệu nhằm mục đích xác định tính đúng đắn, tính có thực của sự kiện, sự
vật hoặc tình tiết có liên quan tới vụ án hình sự. Kiểm sát việc đối chất, nhận
dạng nhằm đảm bảo để CQĐT khi tiến hành các biện pháp này phải thực hiện
16
đầy đủ các nội dung được quy định tại Điều 138, Điều 139 BLTTHS 2003.
Mặc dù thực tế khi giải quyết án hình sự, đối chất, nhận dạng ít được áp dụng
do tính phức tạp của nó nên khi CQĐT thực hiện các hoạt động điều tra này
đòi hỏi phải được kiểm sát chặt chẽ và cụ thể, đảm bảo các nguyên tắc, trình
tự, thủ tục được thực hiện nghiêm chỉnh theo quy định của pháp luật.
- Kiểm sát việc hỏi cung bị can
Thông qua hoạt động này VKS có trách nhiệm bảo đảm cho hoạt động
hỏi cung bị can của CQĐT được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật,
qua đó làm sáng tỏ sự thật của vụ án hình sự. Kiểm sát việc hỏi cung bị can có
ý nghĩa rất lớn trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, đảm bảo nguyên tắc
pháp chế trong khi tiến hành TTHS, quyền và lợi ích hợp pháp của bị can
được tôn trọng, được thực hiện đầy đủ. Đảm bảo lời khai của bị can trở thành
chứng cứ có giá trị chứng minh trong vụ án. Trên cơ sở đó để VKS nắm được
những tình tiết, tài liệu của vụ án thông qua lời khai của bị can.
Trong mọi trường hợp khi tiến hành kiểm sát việc hỏi cung bị can,
VKS có trách nhiệm đảm bảo các yêu cầu, nguyên tắc trong quá trình hỏi
cung bị can theo đúng quy định tại Điều 131, Điều 132 BLTTHS 2003. Nếu
cần thiết KSV có thể chủ động trao đổi, thống nhất với Điều tra viên về kế