TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM TT-HUẾ
KHOA NGOẠI NGỮ - TIN HỌC
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu đề xuất biện pháp đề tài : ‘‘Thực trạng và
biện pháp sử dụng phương tiện dạy học để nâng cao chất
lượng dạy và học môn Tiếng Anh khối 8, trường THCS
Nguyễn Hoàng, thành phố Huế.’’
Giảng viên hướng dẫn : TS.Trương Thị Nhàn
Sinh viên thực hiện : Lê Thị Thu Thủy
Lớp : K Sư Phạm Tiếng Anh
Mã số sinh viên : 13336010622
Email : [email protected]
Huế, 2012
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do bản thân thực hiện tại
Trường CĐSP TT Huế và Trường THCS Nguyễn Hoàng trong thời gian từ
tháng 2 năm 2012 đến tháng 3 năm 2012.
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã tuân thủ nghiêm túc các quy
định. Các thông tin, số liệu trong đề tài là thực tế, khách quan, trung thực,
không có sự gian lận. Nếu có gì sai trái, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Huế, ngày 27 tháng 04 năm 2012
Sinh viên thực hiện
Lê Thị Thu Thủy
MỤC LỤC
trong khoa học giáo dục..............................................................................
3.2. Bài học rút ra từ nghiên cứu học phần và nghiên cứu tiểu luận.......
3.2.1. Nghiên cứu học phần....................................................................
3.2.1. Nghiên cứu tiểu luận...................................................................
Tài liệu tham khảo
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
Dạy học là một hoạt động đặc trưng của nhà trường, là con đường quan
trọng để giáo dục thế hệ trẻ trở thành những công dân tốt của đất nước.
Nghiên cứu quá trình dạy học là nghiên cứu bản chất, các nhân tố tham gia,
lôgíc và quy luật vận động phát triển quá trình dạy học, trong đó có việc
nghiên cứu giải pháp sử dụng hiệu quả phượng tiện dạy học để nâng cao
chất lượng học Tiếng Anh.Trong xu thế hội nhập toàn cầu và giao lưu văn
hoá giữa các nước trên thế giới như hiện nay, nhu cầu học Tiếng Anh là rất
cao. Được xem là ngôn ngữ quốc tế, Tiếng Anh phổ biến và đóng vai trò
quan trọng trong quá trình giao tiếp của nhân dân nhiều nước trên thế giới.
Tiếng Anh là phương tiện để cho chúng ta trao đổi, học hỏi kinh nghiệm,
tiếp cận với nền học thuật của nhân loại và những nguồn thông tin hữu ích
trong mọi lĩnh vực, cầu nối giữa đất nước ta với đất nước bạn. Từ vị trí và
tầm quan trọng đó, môn Tiếng Anh được Bộ giáo dục đưa vào giảng dạy ở
các trường học như là một bộ môn bắt buộc bên cạnh Toán và Văn, đồng
thời đưa ra chương trình dạy thí điểm môn Tiếng Anh từ lớp 3 được bắt đầu
thực hiện ở một số trường. Mặc dù Tiếng Anh có tầm quan trọng là vậy
nhưng có một thực trạng đáng buồn chung hiện nay là học sinh học tiếng
Anh xong vẫn không thể vận dụng để giao tiếp trong cuộc sống hằng ngày,
đặc biệt là giao tiếp với người nước ngoài. Các em học sinh ở trường THCS
Nguyễn Hoàng cũng không tránh khỏi vấn đề này, nhiều em mặc dù nắm
ngữ pháp rất vững, biết nhiều từ vựng nhưng vẫn không thể giao tiếp được
và 8/1, 8/2 ở trường THCS Nguyễn Hoàng. Qua quá trình quan sát và giảng
dạy tôi nhận thấy rằng, bên cạnh những giáo viên và học sinh thường xuyên
sử dụng phương tiện dạy học thì vẫn còn không ít giáo viên và học sinh
hiếm khi sử dụng phương tiện dạy học để nâng cao chất lương dạy và học
môn Tiếng Anh. Một số tiết học nhàm chán, kém hấp dẫn, sinh động do
thiếu hình ảnh, vật thể minh hoạ.Với những lí do trên và đồng thời là một
giáo viên Tiếng Anh trong tương lai để góp phần nâng cao chất lượng dạy
và học môn Tiếng Anh. Tôi đã tiến hành nghiên cứu đè xuất biện pháp đề
tài: “Thực trạng và biện pháp sử dụng phương tiện dạy học để nâng cao chất
lượng dạy và học môn Tiếng Anh khối 8, trường THCS Nguyễn Hoàng,
thành phố Huế ’’
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Vận dụng những kiến thức và kỹ năng nghiên cứu khoa học sau
khi hoàn thành học phần nghiên cứu khoa học vào nghiên cứu vào nghiên
cứu một đề tài khoa học giáo dục, góp phần làm sáng tỏ các vấn đề về
nghiên cứu khoa học nói chung và giải pháp sử dụng phương tiện dạy học
hiệu quả để nâng cao chất lượng dạy và học môn Tiếng Anh ở khối lớp 8
trường THCS Nguyễn Hoàng.
- Nghiên cứu thực trạng sử dụng phương tiện dạy học và đề xuất một
số kiến nghị nhằm tăng cường sử dụng phương tiện dạy học để nâng cao
chất lượng dạy và học môn Tiếng Anh khối lớp 8, trường THCS Nguyễn
Hoàng, thành phố Huế
1.3. Khách thể nghiên cứu : Học sinh khối 8 trường THCS Nguyễn Hoàng,
thành phố Huế.
1.4. Đối tượng nghiên cứu : Lôgic nội dung phần biện pháp về đề tài
nghiên cứu khoa học
1.5. Phạm vi nghiên cứu : Những vấn đề lý luận và thực tiễn về cách trình
bày phần biện pháp của công trình nghiên cứu, áp dụng cho việc nghiên cứu
liệu, tính toán số liệu.
1.8.Tiến trình nghiên cứu
Thời gian
13/02 – 17/02/2012
Nội dung công việc
Tìm tên đề tài.
Sản phẩm
Tên đề tài: Giải pháp
sử dụng phương tiện
dạy học hiệu quả để
nâng cao chất lượng
dạy và học môn Tiếng
Anh ở khối lớp 8
trường THCS Nguyễn
Hoàng, thành phố Huế.
20/02 - 24/02/2012
Viết lí do chọn đề tài.
27/02 - 02/03/2012
Lập đề cương chi tiết.
05/03 - 17/03/2012
Tìm nội dung phần cơ sở
luật vận động của thế giới để ứng dụng chúng vào sản xuất và đời
sống xã hội.
• Nghiên cứu khoa học : Về bản chất, nghiên cứu khoa học là một hoạt
động sáng tạo của các nhà khoa học nhằm nhận thức thế giới, tạo ra hệ
thống tri thức có giái trị để sử dụng vào cải tạo thế giới.Chủ thể của
nghiên cứu khoa học là các nhà khoa học với những phẩm chất trí tuệ
và tài năng đặc biệt, được đào tạo chu đáo. Qúa trình nghiên cứu được
thực hiện trong một cơ quan nghiên cứu với một tập thể có tiềm lực
mạnh, được tổ chức chặt chẽ, có chương trình chiến lược hoạt động.
ục đích của nghiên cứu khoa học là tìm tòi, khám phá bản chất và các
quy luật vận động của thế giới, tạo ra thông tin mới nhằm ứng dụng
chúng vào sản xuất vật chất hay tạo ra những giá trị tinh thần, không
chỉ là nhận thức thế giới mà còn cải tạo thế giới, khoa học đích thực
luôn vì cuộc sống của con người
2.1.2. Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục : là phương pháp nhận
thức thế giới bao gồm những quan điểm tiếp cận, những quy trình, các thao
tác cụ thể để tác động vào đối tượng để làm bộc lộ bản chất của đối tượng.
Nghiên cứu khoa học còn phải sử dụng những công cụ đặc biệt, có tiêu
chuẩn kỹ thuật đặc biệt trong định tính và định lượng để thí nghiệm, thực
nghiệm, thực nghiệm...đo lường và kiểm định sản phẩm sáng tạo. Sản phẩm
của nghiên cứu khoa học là hệ thống thông tin mới về thế giới và những
những giải pháp cải tạo thế giới. Cho nên có thể nói khoa học luôn hướng tới
cái mới. Nhiều ý tưởng khoa học độc đáo đã đi trước thời đại và có giá trị
dẫn dắt sự phát triển của thực tiễn. Gía trị của khoa học được quyết định bởi
tính thông tin, tính ứng dụng và sự đáp ứng nhu cầu của cuộc sống. Thông
tin khoa học có tính khách quan, có độ tin cậy, có thể kiểm tra được bằng
các phương pháp khác nhau.
• Logic tiến trình nghiên cứu khoa học : Hiệu quả của nghiên cứu khoa
bản luận văn, bao gồm những vấn đề chung; các kết quả nghiên cứu;
kết luận; phần phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo
• Phần tổng quan của một công trình khoa học bao gồm : lý do chọn đề
tài hay tính cấp thiết của đề tài; mục đích nghiên cứu; khách thể và đối
tượng nghiên cứu; các nhiệm vụ nghiên cứu; giới hạn đề tài; những
luận điểm bảo vệ; những đóng góp mới cũng như ý nghĩa lý luận và
thực tiễn của luận án; cơ sở phương pháp luận và các phương pháp
nghiên cứu mà luận văn, luận án sử dụng.
2.2. Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Hoạt động thực tập tại trường
2.2.1.a. Vài nét về trường
Trường THCS Nguyễn Hoàng được thành lập từ năm 1989-1990 trên
cơ sở tách khối cấp 2 ra từ trường phổ thông cơ sở Xuân Long và nhập khối
cấp 2 của trường phổ thông cơ sở Hương Long lúc đó trường có tên gọi là
Trường THCS Kim Long. Đến năm học 2004-2005 trường THCS Kim Long
được tách thành 2 trường : Trường THCS Kim Long thuộc xã Kim Long và
Trường THCS Hương Long thuộc xã Hương Long thành phố Huế. Đến
tháng 12/2005 Trường THCS Kim Long được đổi tên là Trường THCS
Nguyễn Hoàng cho đến hôm nay. Trường THCS Nguyễn Hoàng là một đơn
vị cơ sở giáo dục bậc trung học thuộc loại hình công lập nằm trong hệ thống
giáo dục quốc dân. Từ ngày được thành lập cho đến nay, trường được
UBND Tỉnh công nhận là đơn vị tiên tiến xuất sắc 3 năm liền: 2000-2001,
2001-2002, 2002-2003. Được Sở GD&ĐT TTHuế tặng giấy khen là đơn vị
tiên tiến cấp ngành ( 2004-2005)
Năm 2003 được UBND Tỉnh tặng bằng khen công nhận đơn vị đạt chuẩn
văn hóa giai đoạn 2000-2003. Đến năm 2008 được UBND Thành phố Huế
công nhận đơn vị đạt chuẩn văn hóa lần II ( giai đoạn 2008-2013). Năm học
2004-2005 Thư viện Trường được Sở GD&ĐT Thừa Thiên Huế cấp giấy
chứng nhận Thư viện đạt chuẩn. Từ năm học 2004-2005 đến năm học 20082009 được Sở GD&ĐT Thừa Thiên Huế công nhận là Thư viện tiên tiến.
Ngày 10/01/2006 Trường được UBND TT Huế công nhận là đơn vị đạt
GD-ĐT, của đảng ủy, chính quyền địa phương, sự phối hợp đồng bộ của các
ban ngành đoàn thể và quý phụ huynh học sinh , sự hỗ trợ tích cực của các
cơ quan, xí nghiệp, nhà máy đóng trên địa bàn để cùng chăm lo cho sự
nghiệp giáo dục địa phương.
- Tình hình KTXH, phong trào xã hội hóa giáo dục của địa phương
tiếp tục phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao góp phần
đua sự nghiệp GD ổn định và vững chắc.
- Nhà trường đã có được sự kế thừa nhũng thành quả đạt được của
năm học trước, đội ngũ GV ổn định, có trình độ tâm huyết với nghề nghiệp
và có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy, các tổ chức đoàn thể thực sự vững
mạnh.
• Khó khăn:
- Một số hạng mục xây dựng để đạt chuẩn quốc gia chưa được hoàn
thiện
- Tuy cơ sở vật chất tương đối đầy đủ nhưng trang thiết bị bên trong
vẫn còn thiếu.
- Khuôn viên trường, cây xanh chưa được đẹp mắt, sân chơi xây dựng
manh mún, gồ ghề, chưa được bài bản.
- Một bộ phận không nhỏ học sinh yếu, gia đình ít quan tâm, bị các
đối tượng hư hỏng thanh thiếu niên ngoài trường lôi kéo.
- Trình độ dân trí của phụ huynh còn thấp, điều kiện kinh tế và hoàn
cảnh gia đình còn nhiều vấn đề bất cập.
• Về học sinh khối 8 trường THCS Nguyễn Hoàng trong việc học
tập môn Tiếng Anh : Phần lớn các em ở khối lớp 8 là các học sinh đã
có một nền tảng cơ bản về ngữ pháp, từ vựng và các kĩ năng sử dụng
Tiếng Anh cơ bản. Tuy nhiên trong quá trình giảng dạy tại hai lớp 8/1
và 8/2, tôi nhận thấy có một sự chênh lệch trình độ khá lớn giữa hai
lớp này. Lớp 8/1 thì đa số các em đều có kiến thức vững chắc và khá
các đồ dùng giảng dạy và học tập trực quan như:tranh ảnh, băng đĩa,
máy catset,…và các tài liệu để cung cấp những tri thức cơ bản cho
giáo viên và học sinh như sách giáo khoa, sách tham khảo.
• Ý nghĩa của phương tiện dạy học:
Đối với học sinh : Phương tiện dạy học là “hình ảnh kép” của
phương pháp dạy học do đó việc vận dụng các phương pháp
dạy học không thể tách rời việc sử dụng phương tiện dạy học.
Phương tiện dạy học được sử dụng không những cung cấp cho
học sinh những kiến thức bền vững, chính xác mà còn giúp cho
học sinh kiểm tra lại tính đúng đắn của các kiến thức lí thuyết,
làm giảm mức độ tính trừu tượng trong việc tư duy các bài học,
làm cho lí thuyết và thực tiển xích lại gần nhau hơn và cũng là
biện pháp nhằm rèn luyện cho học sinh thói quen và nhu cầu
thường xuyên vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề
trong thực tiển, thực hiện tốt nguyên lí giáo dục: học đi đôi với
hành, lí thuyết gắn liền với thực tiển.
Đối với giáo viên : Thực tế đã chứng minh rằng trong mọi
trường hợp, quá trình nhận thức của con người đều bắt nguồn từ
thực tiễn, từ những hiện tượng trực quan mà con người đã quan
sát được. V.I.Lênin đã chỉ rằng: Từ trực quan sinh động đến tư
duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn. Đó là con
đường của sự nhận thức chân lí, của sự nhận thức hiện thực
khách quan. Trong dạy học, các phương tiện dạy học thay thế
cho những sự vật hiện tượng trong thực tiễn mà giáo viên và
học sinh không thể tiếp cận được. Chúng giúp cho giáo viên
phát huy được tấc cả các giác quan của học sinh trong quá trình
truyền thụ tri thức để giúp cho học sinh có thể dễ dàng lĩnh hội,
nắm bắt tri thức và phát triển tư duy.
Đối với phương pháp dạy họ c: Theo quan điểm cấu trúc hệ
thống thì phương pháp dạy học là một thành tố quan trọng trong
kiến thức đã học thông qua học phần ‘’Nghiên cứu khoa học ‘’ để nghiên
cứu biện pháp của đề tài.
• Lý do chọn đề tài : Nhận thức rõ tầm quan trọng của việc học tập bộ
môn Tiếng Anh trong thời đại ngày nay, tôi đã tiến hành tìm hiểu và
nghiên cứu về các biện pháp nâng cao hiệu quả môn Tiếng Anh. Đồng
thời, qua khoảng thời gian sáu tuần thực tập tại trường THCS Nguyễn
Hoàng, tôi nhận thấy việc sử dụng phương tiện dạy học của các giáo
viên chưa thường xuyên, các em ít có cơ hội tiếp xúc thường xuyên để
trau dồi kĩ năng. Với vai trò là một giáo viên Tiếng Anh tương lai, tôi
băn khoăn và cảm thấy mình phải có trách nhiệm nghiên cứu các niện
pháp giúp nâng cao hiệu quả sử dụng môn Tiếng Anh của các em.
• Mục đích nghiên cứu : Tìm hiểu thực trạng và tìm ra biện pháp tốt
nhất để nâng cao hiệu quả sử dụng phương tiện dạy học trong bộ môn
Tiếng Anh ở khối 8, trường THCS Nguyễn Hoàng, thành phố Huế.
• Khách thể và đối tượng nghiên cứu : Khách thể nghiên cứu là học sinh
và giáo viên trường THCS Nguyễn Hoàng ( khối 6 ). Đối tượng
nghiên cứu là thực trạng và biện pháp sử dụng phương tiện dạy học để
nâng cao chất lượng dạy và học môn Tiếng Anh khối 8, trường THCS
Nguyễn Hoàng, thành phố Huế.’’
• Giả thuyết khoa học : Nếu như biết được thực trạng và tìm ra các biện
pháp tối ưu sử dụng phương tiện dạy học để nâng cao chất lượng học
môn Tiếng Anh thì chất lượng dạy học Tiếng Anh của thầy và trò
Nguyễn Hoàng sẽ tốt hơn.
3. Kết luận
3.1. Kết quả và ý nghĩa của việc vận dụng nghiên cứu đè xuất biện pháp
đè tài trong khoa học giáo dục
3.1.1. Kết quả của việc vận dụng nghiên cứu đè xuất biện pháp đề tài
trong khoa học giáo dục
…và các tài liệu để cung cấp những tri thức cơ bản cho giáo
viên và học sinh như sách giáo khoa, sách tham khảo.
1.3 . Ý nghĩa của phương tiện dạy học:
+ Đối với học sinh:
- Phương tiện dạy học là “hình ảnh kép” của phương pháp
dạy học do đó việc vận dụng các phương pháp dạy học không
thể tách rời việc sử dụng phương tiện dạy học. Phương tiện dạy
học được sử dụng không những cung cấp cho học sinh những
kiến thức bền vững, chính xác mà còn giúp cho học sinh kiểm
tra lại tính đúng đắn của các kiến thức lí thuyết, làm giảm mức
độ tính trừu tượng trong việc tư duy các bài học, làm cho lí
thuyết và thực tiển xích lại gần nhau hơn và cũng là biện pháp
nhằm rèn luyện cho học sinh thói quen và nhu cầu thường
xuyên vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề trong thực
tiển, thực hiện tốt nguyên lí giáo dục: học đi đôi với hành, lí
thuyết gắn liền với thực tiển. Thêm vào đó, phương tiện dạy
học được xem là điểm tựa cho hoạt động trí tuệ, góp phần nâng
cao năng lực tư duy của các em. Khi thực hiện các nhiệm vụ do
giáo viên yêu cầu trên cơ sở quan sát, phân tích các phuơng tiện
dạy học, và đặc biệt khi đứng trước các vật thật hay các hình
ảnh thì sẽ kích thích được sự hoạt đông của học sinh, giúp cho
học sinh học tập hứng thú hơn, tăng cường sức chú ý đối với
các đối tượng nghiên cứu, dễ dàng tiến hành quá trình phân
tích, tổng hợp các hiện tượng để rút ra các kết luận đúng đắn,
đặc biệt là tư duy của học sinh luôn luôn được đặt trước những
tình huống mới buộc học sinh phải suy nghĩ, tìm tòi và phát
triển trí sáng tạo. Ngoài ra, việc sử dụng phương tiện dạy học
còn cho phép gia tăng khối lượng công tác tự lập của học sinh
+ Đối với phương pháp dạy học:
- Theo quan điểm cấu trúc hệ thống thì phương pháp dạy
học là một thành tố quan trọng trong quá trình dạy học, nó
cùng với các nhân tố khác: mục đích, nhiệm vụ, nội dung dạy
học, hoạt đông của giáo viên, học sinh tạo thành một thể hoàn
chỉnh và có quan hệ biện chứng thúc đẩy quá trình day học đạt
tới mục đích nhất định. Thêm vào đó,phương pháp dạy học có
nhiều đổi mới, phương tiện dạy học không chỉ mang tính minh
hoạ, là công cụ hỗ trợ đắc lực cho phương pháp dạy học mà nó
còn quyết định vào việc lựa chọn phương pháp dạy. Vì vậy
việc vận dụng và tiến hành các phương pháp dạy học là không
thể tách rời việc sử dụng các phương tiện dạy học.
1.4. Các loại phương tiện dạy học:
Phương tiện dạy học hết sức đa dạng. Thành phần của các
loại phương tiện dạy học phụ thuộc vào trình độ phát triển
khoa học kĩ thuật. Trong nhà trường chúng ta trước đây thường
được trang bị những phương tiện ít có tính kĩ thuật, đúng hơn
là ít phải dùng điện năng nên nên được gọi là đồ dùng dạy học,
rõ hơn nữa là đồ dùng dạy học trực quan hay phương tiện dạy
học trực quan. 30 năm gần đây, do sự tiến bộ của khoa học- kĩ
thuật, đã xuất hiện những phương tiện dạy học có tính kĩ thuật
cao. Để phân biệt những phương tiện dạy học trực quan nêu
trên, người ta dùng thuật ngữ phương tiện kĩ thuật dạy học.
Thực ra, những phương tiện kĩ thuật dạy học như những
phương tiện nghe - nhìn cũng có tính trực quan, cũng là đồ
dùng dạy học. Vì vậy cách phân loại đó chỉ có tính chất hoàn
toàn quy ước tương đối mà thôi. Đồ dùng dạy học trực quan
bao gôm: mẫu vật, hình mẫu, mô hình, phương tiện đồ hoạ,
hoàn như tăng huyết áp, tim mạch đập nhanh, hay nhức đầu,
chóng mặt, mệt mõi khi làm việc.
- Tuyến nội tiết bắt đầu hoạt động mạnh, đặc biệt là tuyến giáp
trạng, thường dẫn đến sự rối loạn của hoạt động thần kinh. Vì
vây mà trẻ em ở lứa tuổi này dễ xúc động, dễ bực tức, nỗi
khùng, dẫn đến có những phản ứng mạnh mẽ, gay gắt và những
cơn xúc động.
- Hệ thần kinh của học sinh THCS chưa đạt độ vững vàng nên
chưa có khả năng chịu đựng những kích thích mạnh, đơn diệu
và kéo dài.
- Đáng chú ý là ở lứa tuổi học sinh THCS còn là thời kì phát
dục của con người. Đó là hiện tượng bình thường diễn ra theo
quy luật sinh học và chịu ảnh hưởng của môi trường tự nhiên và
môi trường xã hội, nhưng đối với trẻ em lần đầu tiên xuất hiện
hiện tượng này thì lại là vấn đề cần có sự chuẩn bị và cần được
sự chỉ dẫn giúp đỡ của người lớn, đặc biệt là đối với cấc em gái.
* Đặc điểm của hoạt động học:
- Hoạt động học của học sinh THCS được hiểu là hoạt động tự
giác nhằm lĩnh hội kiến thức, hình thành kĩ năng và thái độ
tương ứng, tạo lập những nhân cách đang hình thành, đang phát
triển.
- Hoạt động học đối với học sinh THCS tuy không giữ vai trò
chủ đạo nhưng vẫn là hoạt động chiếm nhiều thời gian và giữ
vai trò chính trong việc tạo lập nền học vấn cơ bản, tối thiểu của
thế hệ trẻ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
- Hoạt động học của học sinh THCS diễn ra theo phương thức
học đi đôi với hành.
* Đặc điểm nhận thức:
chưa thấy được tầm quan trọng của phương tiện dạy học. Đặc biệt, các
em chưa thật hứng thú, tích cực đối với môn Tiếng Anh.
* Đối với giáo viên:
- Các phương tiện dạy học còn quá ít. Phương tiện dạy học so với
yêu cầu đổi mới giáo dục còn quá thấp. Những năm gần đây, thiết bị dạy
học đã được tăng lên nhưng vần chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo
dục đặc ra:
+ Tranh ảnh minh hoạ chỉ có ở trong sách giáo khoa.
+ Máy catset chỉ có 2 cái, TV, đèn chiếu mỗi thứ chỉ có một cái do
đó đối với những giờ dạy trùng nhau thì phương tiện dạy học không đáp
ứng được.
+ Chỉ có một phòng công nghệ thông tin, không có phòng nghe
nhìn đối với bộ môn Tiếng Anh..
+ Không có băng hình, băng tiếng chất lượng kém.
+ Giáo viên sử dụng chưa thường xuyên, vẫn còn dạy chay và
chưa phát huy hết các phương tiện dạy học sẵn có
+ Giáo viên chưa thành thạo trong việc sử dụng đèn chiếu.
- Để phát huy tính tích cực của học sịnh thì hầu hết các giáo viên đã
tự làm và sử dụng bảng phụ .
- Để thấy được thực trạng sử dụng phương tiện dạy học của học sinh
khối lớp 8, tôi đã tiến hành điều tra 58 học sinh ở lớp 8/1 và 8/2 với các câu
hỏi liên quan đến việc sử dụng phương tiện dạy học:
- Đầu tiên để xem các em học sinh có cách đánh giá như thế nào về
tầm quan trọng của phương tiện dạy học, tôi đã đưa câu hỏi: “Em thấy
phương tiện dạy học có vai trò như thế nào?” và thu được kết quả:
Đáp án
A
B
phương tiện dạy học có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cac chất lượng
dạy học môn Tiêng Anh, nó là những nguồn thông tri thức quan trọng, nó là
phương tiện chứa đựng và chuyển tải thông tin tới học sinh.
- Thứ hai, để xem giáo viên có các đánh gía như thế nào về tầm quan
trọng của phương tiện dạy học, tôi đã dùng phiếu trưng cầu ý kiến các giáo
viên vàn thu được kết quả là 100% giáo viên cho rằng phương tiện dạy học
là rất quan trọng.
Với việc đánh giá đúng tầm quan trọng của phương tiện dạy học thì kết
quả học tập của môn Tiếng Anh được thể hiện trong bảng sau:
Kết quả học tập phân môn Tập đọc học kì I năm học 2010-2011
Xếp loại
Giỏi
Khá
Trung bình
Yếu
Kém
Tổng
Số lượng
6
14
25
13
0
58
Tỉ lệ (%)
10,3
24,1
43,2
58
Số lượng
21
30
6
1
Tỉ lệ (%)
36,3
52,7
11,3
1,7
100
Qua bảng số liệu trên ta thấy phần lớn học sinh đều rất thích học phân
môn Tiếng Anh. Trong 58 em học sinh thì chỉ có 6 em xem môn học đó là
bình thương, 1 em không thích học tiếng anh. Đây là một điều kiện thuận
lợi giúp các em cải tiến chất lượng học Tiêng Anh.
Phần lớn các em đều hứng thú với việc học phân môn này nhưng để
kiểm chứng xem thái độ của các em trong giờ học môn này như thế nào thì
tôi đã đưa ra câu hỏi: “Trong giờ Tiếng Anh em có hay phát biểu không?” và
đã thu được kết quả như sau:
Đáp án
A
B
C
D
Tổng
tôi đã đưa ra câu hỏi: “Ở nhà, em có dành nhiều thời gian để sử dụng
phương tiện dạy học vào việc tự học môn Tiếng Anh không?” và thu được
kết quả sau:
Đáp án
A
B
C
D
Tổng
Mức độ đánh giá
Nhiều
Thỉnh thoảng
Không
Ý kiến khác
Số lượng
28
22
8
0
58
Tỉ lệ (%)
48,3
37,9
13,8
0
100
Tỉ lệ (%)
10,3
24,1
43,2
22,4
0
100
Măc dù cả giáo viên và học sinh đều đánh giá rất cao về tầm quan trọng
của phương tiện dạy học nhưng từ số liệu trên ta thấy tỉ lệ học sinh có học
lực giỏi và khá của phân môn này chiếm tỉ lệ còn rất thấp (giỏi chỉ chiếm
10,3%, khá chỉ chiếm 24,1% . học sinh có học lực trung bình và yếu chiểm tỉ
lên khá cao(trung bình chiếm đến 43,2%, yếu chiếm đến 22,4%). Đây là một
điều đáng lo ngại vì so với mặt bằng chung của các môn học thì môn Tiếng
Anh có kết quả thấp. Do đó cần phải có biện pháp giúp các em có kết quả
cao hơn.
Ngày nay với việc đổi mới phương pháp dạy học, cùng với nhiều phương
tiện trực quan thì việc tạo hứng thú cho các em học sinh được thực hiện
tương đối có hiệu quả. Để đánh giá được hứng thú của việc học phân môn
này tôi đã đặt ra câu hỏi: “Em có thích học phân môn Tiếng Anh không?” và
thu được kết quả như sau:
Đáp án
A
B
C
D
Tổng
Mức độ đánh giá
C
D
Tổng
Mức độ đánh giá
Thưòng xuyên
Thỉnh thoảng
Không
Ý kiến khác
58
Số lượng
31
24
3
0
Tỉ lệ (%)
53,4
41,4
5,2
0
100
Dựa vào số liệu trên ta thấy có nhiều học sinh rất tích cực phát biểu xây
dựng bài với 31 em (chiếm 53,7%) thường xuyên phát biểu.Bên cạnh đó
cũng có 3 em( chiếm 5,2%) không bao giờ phát biểu, số còn lại chỉ thỉnh
thoảng mới phát biểu.Như vậy, ý thức học tập tích cực của các em trong giờ
học chưa được phát huy hết hiệu quả. Do đó cần có biện pháp nâng cao tính
0
100
Từ số liệu trên ta thấy số học sinh dành nhiều thời gian để sử dụng phương
tiện dạy hoc để tự học ở nhà vẫn chưa nhiều.Trong số 58 em thì có đến 22
em (chiếm 37,9%) chỉ thỉnh thoảng sử dụng phương tiện dạy học để tự học ở
nhà và đặc biệt là có 8 em( chiếm 13,8%) không sử dụng phương tiện dạy
học để tự học ở nhà học. Điều này sẽ gây trở ngại lớn đối với việc giáo dục ý
thức tự học của các em.Vì vậy gia đình cần dành nhiều thời gian để quan
tâm đến việc học của các em nhiều hơn.
2.4 Giải pháp sử dụng phương tiện dạy học hiệu quả
2.4a Đối với giáo viên:
* Giải pháp trước mắt:
- Bồi dưỡng giáo viên về kĩ năng sử dụng phương tiện dạy
học như đèn chiếu, đầu máy, soạn giáo án điện tử,….
- Xây dựng phòng nghe nhìn.
- Nhà trường phải thường xuyên giám sát, kiểm tra đánh giá
việc dạy học theo đúng chương trình, kế hoạch, và nội dung của
sách giáo khoa mới.
- Nhà trường phải quán triệt, đôn đốc và thường xuyên kiểm
tra việc làm và sử dụng đồ dùng dạy học.
* Giải pháp đồng bộ, lâu dài: