I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài:
Trong chương trình dạy Tiếng Việt ở cấp Tiểu học việc hình thành và
phát triển các kỹ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) là rất quan
trọng để học tập, giao tiếp trong các môi trường xung quanh và các hoạt
động ở từng lứa tuổi. Vì thế việc dạy học Tiếng Việt góp phần rèn luyện học
sinh các kỹ năng để hiểu và tư duy đồng thời cần cung cấp cho các em
những kiến thức cơ bản về tiếng việt và những hiểu biết về môi trường tự
nhiên, xã hội và con người, những kiến thức về văn học của nước ta và nước
ngoài. Chính vì thế các em sẽ cảm nhận được cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ
tiếng Việt và hiểu được một phần về cuộc sống ở quanh ta, do đó các em
thêm yêu quê hương, đất nước. Vì vậy việc học Tiếng Việt là rất quan trọng
nhất.
Trong môn Tiếng Việt có nhiều phân môn như: Tập đọc, kể chuyện,
chính tả, tập làm văn và luyện từ và câu. Nhưng phân môn Luyện từ và câu
là một trong những phân môn có tầm quan trọng vì nó là nhân tố cho việc sử
dụng các đơn vị ngôn ngữ để tạo thành lời nói, để thực hiện chức năng giao
tiếp trong cuộc sống. Phân môn luyện từ và câu ở Tiểu học không trực tiếp
rèn những kỹ năng nghe, nói, đọc, viết mà muốn thực hiện điều đó thì học
sinh phải có những hiểu biết về nghĩa của từ và câu. Từ và câu là một trong
hai đơn vị có vai trò quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ, nó là đơn vị nhỏ
nhất để thực hiện chức năng giao tiếp. Đồng thời vai trò của từ và câu trong
hệ thống ngôn ngữ quy định chiếm vị trí cần thiết cho việc dạy học chương
trình Tiếng Việt ở bậc Tiểu học.
Để đạt được mục đích giúp cho học sinh hiểu và nắm được những
kiến thức đơn giản về từ và câu thì cần bồi dưỡng cho học sinh thói quen
dùng từ đúng, chính xác, nói viết thành câu, có ý thức sử dụng đúng tiếng
việt khi giao tiếp. Việc học từ và câu sẽ tạo cho học sinh giàu vốn từ ngữ,
biết kết hợp từ, biết dùng từ để đặt câu. Điều đó giúp các em nắm vững tiếng
học, sách giáo viên, tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy các môn học ở lớp 4 và
đặc biệt là tải liệu hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng các môn
học ở Tiểu học).
Phương pháp điều tra, dự giờ: Là Phó Hiệu trưởng, chúng tôi thường
xuyên dự giờ thăm lớp để đóng góp xây dựng cho giáo viên về tổ chức hình
thức và phương pháp dạy học đem lại hiệu quả cho tiết dạy.
Là giáo viên chúng tôi thường xuyên dự giờ các đồng nghiệp trong
trường, ở trường bạn, dự giờ đầy đủ các tiết chuyên đề do Phòng, cụm,
trường tổ chức để học hỏi thêm kinh nghiệm mà có biện pháp dạy học sinh
tốt hơn.
Phương pháp quan sát: Giáo viên phải quan sát, theo dõi cách hiểu
nghĩa từ, cách dùng từ đặt câu của từng em để sửa chữa kịp thời. Ngoài ra
còn sử dụng phương pháp vấn đáp, phương pháp giải quyết vấn đề, phương
pháp rèn luyện theo mẫu.
6. Giả thuyết khoa học:
Trong quá trình giảng dạy, nếu áp dụng tốt các phương pháp, hình
thức tổ chức dạy học theo kế hoạch đề tài thì chất lượng học tập của học sinh
nói chung đặc biệt là phân môn Luyện từ và câu nói riêng sẽ đạt được mục
tiêu giáo dục theo chuẩn kiến thức, kỹ năng do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy
định.
Điều cần thiết Phó Hiệu trưởng phải triển khai đầy đủ các văn bản chỉ
đạo, thường xuyên bổ sung các tài liệu nghiên cứu và trang thiết bị sao cho
phù hợp với xu hướng phát triển nâng cao. Từ đó giúp giáo viên cập nhật đủ
thông tin và thực hiện giảng dạy có hiệu quả.
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận:
Nghe, nói, đọc, viết là nhiệm vụ rất quan trọng của phân môn Luyện
tính cộng, trừ, nhân, chia là đủ. Một số khác lại cho rằng: Các em chỉ cần
học giỏi Toán, Anh văn, Tin học là đủ chứ không cần quan tâm đến việc đọc
để hiểu, để viết được một câu văn, đoạn văn hay.
Tuy nhiên, mục tiêu của Ngành Giáo dục là phát triển con người một
cách toàn diện về nhân cách lẫn trí tuệ, hình thành ở học sinh kỹ năng sử
dụng tiếng Việt bao gồm: Nghe, nói, đọc, viết để học tập và giao tiếp trong
môi trường hoạt động của từng lứa tuổi của các em. Vì vậy phân môn Luyện
từ và câu là một phân môn quan trọng quyết định đến sự hình thành và phát
triển nhân cách con người.
2. Cơ sở thực tiễn:
a. Thực tiễn vấn đề nghiên cứu:
Thuận lợi:
Thực tế lớp 4B, đa số học sinh đều trang bị đầy đủ dụng cụ học tập.
Bản thân các em nói to, rõ ràng. Ngoài ra, giáo viên đã tiếp cận được
phương pháp dạy học theo quan điểm đổi mới của Ngành, bám sát chuẩn
kiến thức kỹ năng các môn học, bám sát nội dung chương trình giảm tải các
môn học do Bộ quy định.
Khó khăn:
Trong quá trình học thì trình độ học tập của các em không đồng đều,
cũng còn một số em chưa chú ý nghe thầy, cô giảng bài, còn thụ động. Các
em ngại nói, ngại trình bày nhận xét đánh giá bạn mình hoặc trả lời câu hỏi.
Các em chưa mạnh dạn, tự tin trước tập thể. Về phía gia đình chưa quan tâm
đúng mức. Từ đó các em học phân môn Luyện từ và câu còn hạn chế, chưa
đáp ứng với mục tiêu đề ra.
Ngoài ra, các em học chưa tốt phân môn Luyện từ và câu là do một
số nguyên nhân sau:
Về mở rộng vốn từ: Đa số học sinh chưa hiểu nghĩa của các từ ngữ
Tiếng Việt.
Cho nên chúng tôi chọn đề tài “Kinh nghiệm giúp học sinh lớp 4B
học tốt phân môn Luyện từ và câu”.
3. Nội dung vấn đề:
A. Vấn đề đặt ra:
Trong thực tế giảng dạy và dự giờ nhiều năm chúng tôi nhận thấy còn
nhiều học sinh học chưa tốt phân môn Luyện từ và câu do các em chưa hiểu
nghĩa của từ, cấu tạo từ, vốn từ của các em chưa nhiều, không diễn đạt một
cách trôi chảy những cảm nhận của mình, câu văn các em chưa đạt yêu cầu.
Từ đó, chúng tôi phải làm thế nào để các em học tốt hơn mà giờ học không
buồn chán, tẻ nhạt. Đó mới chính là một vấn đề quan trọng.
Biện pháp khắc phục tình trạng học sinh học chưa tốt ở phân môn
Luyện từ và câu, thực chất là xây dựng quá trình giảng dạy giáo dục như thế
nào để loại bỏ các yếu tố, các điều kiện mà học sinh giảm khả năng học tập.
Để làm được việc này, chúng tôi đã tìm hiểu kĩ học sinh ngay từ đầu năm
học và lên kế hoạch bồi dưỡng, rèn luyện cho các em, tạo điều kiện cho các
em học tốt.
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng thường xuyên liên lạc với gia đình vì gia
đình là một phần của xã hội, là một môi trường giáo dục có nhiều nét đặc
trưng, một loại trường học không có gì thay thế được. Từ đó có biện pháp
thích hợp để giúp các em học tốt. Điều quan trọng nhất của giáo viên là phải
tìm hiểu tâm tư của các em, đặc biệt là quá trình tư duy của các em. Đối với
học sinh Tiểu học, thầy cô là người quan trọng nhất. Do vậy, vai trò của giáo
viên trở nên khó khăn hơn và mang ý nghĩa quyết định hiệu quả trong việc
hình thành và phát triển thói quen, kỹ năng nghe, nói, đọc, viết đúng văn bản
Tiếng Việt của học sinh.
Ngoài việc nghiên cứu, tìm tòi đưa ra những biện pháp để hướng dẫn
học sinh học tốt, giáo viên còn phải biết kết hợp nhuần nhuyễn các phương
Nhân tài
Nhân từ
….
….
Thi đua giữa hai đội, đội nào xếp nhanh và đúng thì sẽ thắng.
Phần giới thiệu bài, dẫn dắt vào bài cũng là nghệ thuật. Lời vào bài
chỉ cần ngắn gọn, vừa đủ, không xa xôi dài dòng để học sinh cảm thấy hấp
dẫn, muốn nghe cô giảng.
b. Hướng dẫn học sinh phân tích ngữ liệu:
Việc phân tích ngữ liệu giúp học sinh nắm vững yêu cầu của bài tập
và thực hành tốt nhằm rút ra kiến thức. Giáo viên cần cho học sinh đọc thầm,
trình bày yêu cầu của bài tập, giải thích thêm cho học sinh nắm rõ yêu cầu
bài tập. Tổ chức cho học sinh làm bài tập bằng nhiều hình thức như: Cá
nhân, nhóm. Sau đó báo cáo kết quả, cả lớp cùng tham gia trao đổi, nhận xét,
học sinh tự rút ra kết luận. Giáo viên chỉ khẳng định kết luận đúng hoặc bổ
sung. Trao đổi, sửa lỗi cho học sinh hoặc tổ chức cho học sinh đóng góp ý
và đánh giá cho nhau trong quá trình làm bài. Giáo viên không nhất thiết
phải giải nghĩa từ mà gợi ý cho học sinh liên tưởng, so sánh để tìm nghĩa từ.
Với những từ ngữ trừu tượng, ít gần gũi học sinh, giáo viên cần đưa vào
hoàn cảnh cụ thể để học sinh hiểu nghĩa. Cuối cùng giáo viên chốt lại ý kiến
của học sinh.
Ví dụ: Khi dạy bài: “Tính từ” (tuần 11), ở phần nhận xét sau khi cho
học sinh đọc kĩ, thảo luận theo cặp tìm các từ chỉ tính tình, tư chất, hình
dáng, kích thước và đặc điểm của sự vật, rồi trình bày trước lớp. Học sinh
nhật xét giáo viên sẽ chốt lại: Các từ nêu trên là tính từ. Vậy tính từ là gì?
Học sinh trả lời - giáo viên kết luận và ghi bảng (Tính từ là những từ miêu tả
đặc điểm hoặc tính chất của sự vật, hoạt động, trạng thái…)
* Tiếng cấu tạo nên từ (tiếng thường có ba bộ phận: âm đầu, vần và
thanh, có tiếng có thể không có âm đầu nhưng bắt buộc phải có vần và
thanh).
* Từ đơn: là từ có một tiếng.
Ví dụ: Mẹ, cô, nhiều, năm…
* Từ ghép: là từ có hai hay nhiều tiếng có nghĩa ghép lại với nhau.
Ví dụ: Giúp đỡ, học hành, ghi nhớ…
* Từ láy: là phối hợp những tiếng có âm đầu hay vần (hoặc cả âm đầu
và vần) giống nhau.
Ví dụ: Săn sóc, khéo léo, luôn luôn…
Ngoài ra giáo viên cần phân tích cho các em hiều về từ ghép có nghĩa
tổng hợp, có nghĩa phân loại, từ ghép và láy, học sinh phải căn cứ trên nghĩa
của từ. Vì vậy, để giúp học sinh nhận ra hệ thống từ, nhận xét về mặt cấu
tạo.
Ví dụ: Khi dạy bài: “Luyện tập về từ ghép, từ láy” (tuần 4 trang 38
SGK)
Giáo viên hướng dẫn học sinh phân loại từ “bánh trái” (chỉ chung cho
các loại bánh) nên là từ ghép có nghĩa tổng hợp.
Giáo viên đặt câu hỏi: Hãy kể tên một số loại bánh mà em biết? (bánh
tét, bánh mì, bánh cam, bánh tráng…). Vậy các loại bánh vừa nêu là chỉ
riêng cho một loại bánh nên là từ ghép phân loại.
đ. Dạy về từ loại.
* Danh từ: là từ chỉ sự vật, hiện tượng.
Đối với danh từ chỉ sự vật nếu không thể biểu thị một sự vật đơn giản
như: bàn, ghế, áo, người,…mà biểu thị các sự vật thành tổng thể như: nước,
mưa, quần áo,… thì không thể kết hợp với số lượng. Giáo viên có thể cung
cấp cho học sinh một số danh từ thường gặp như:
Danh từ chỉ loại đi với vật thể: cái, con, quả, người,…(người thợ, cây
mà thể hiện bằng tâm trạng như: vui, buồn,... nên khó nhận thấy. Vì vậy giáo
viên có thể nêu một số ví dụ dẫn chứng để các em nắm rõ hơn.
Giáo viên nên giới thiệu thêm một số động từ chỉ trạng thái thường
dùng thể hiện ý nghĩa về sự cần thiết: cần, nên, phải,… Từ chỉ khả năng
như: có thể, không thể,… Từ thể hiện ý chí, ý định, dám,… Từ thể hiện sự
mong muốn: mong ước, ước mơ,… Từ thể hiện ý nghĩ hay nhận xét: nghĩ,
tưởng, xem, cho,…( ví dụ: Tôi cho rằng hoa hồng đẹp nhất).
* Tính từ: là những từ miêu tả đặc điểm hoặc tính chất của sự vật,
hoạt động, trạng thái.
Giáo viên cho học sinh nắm rõ ghi nhớ để nhận dạng tính từ trong
câu, nhưng khi tìm tính từ chỉ mức độ các em chưa thể hiện được nên khi
dạy các em cần chú ý đến cách thể hiện mức độ, tính chất của sự vật.
Ví dụ: Bài tập 1, sách Tiếng việt 4 tập 1 trang 124.
Tìm những từ ngữ biểu thị mức độ của đặc điểm, tính chất được in
nghiên trong đoạn văn sau:
Hoa cà phê thơm đậm và ngọt nên mùi hương thường theo gió bay đi
rất xa. Nhà thơ Xuân Diệu chỉ một lần đến đây ngắm nhìn vẻ đẹp của cà phê
đã phải thốt lên:
Hoa cà phê thơm lắm em ơi
Hoa cùng một điệu với hoa nhài
Trong ngà trắng ngọc, xinh và sáng
Như miệng em cười đâu đây thôi….
Đây là bài tập để rèn luyện về tính từ và bài này hơi trừu tượng với
học sinh cho các em phân tích đề bài trước vì yêu cầu của bài không quen
thuộc với học sinh. Tìm những từ biểu thị mức độ của đặc điểm tính chất của
các từ in nghiên cụ thể: Hoa cà phê thơm như thế nào? (thơm đậm và ngọt)
nên mùi hương bay đi rất xa. Lần lượt học sinh tìm (trả lời cá nhân theo
Cái bàn nhà em rất đẹp. (chủ ngữ là cái bàn “là gì”).
Bộ phận thứ hai là vị ngữ trả lời cho câu hỏi Làm gì?
Các cụ già nhặt cỏ, đốt lá. (vị ngữ: nhặt cỏ, đốt lá).
2. Câu kể Ai thế nào? Cũng có hai bộ phận. Bộ phận thứ nhất là chủ
ngữ nhưng chủ ngữ trả lời cho câu hỏi Ai (các gì, con gì?). Vị ngữ trả lời
cho câu hỏi thế nào?
Ví dụ: Bên đường, cây cối /xanh um.
CN
VN
3. Câu kể Ai là gì? Chủ ngữ trả lời Ai (cái gì, con gì?). Vị ngữ trả lời
cho câu hỏi là gì (là ai, là con gì?)
Ví dụ: Sầu riêng /là loại trái quý của miền Nam.
CN
VN
Trong 3 kiểu câu trên thì phần đông các em thường nhằm lẫn kiểu
câu Ai làm gì và câu Ai là gì?
Ví dụ: Bài tập 2, trang 58 sách Tiếng Việt 4. Dùng câu kể Ai là gì?
để giới thiệu về từng người trong ảnh chụp gia đình em.
Có một số em viết thế này: “Mình muốn giới thiệu với các bạn từng
thành viên trong bức ảnh gia đình dễ thương này. Đây là bố mình. Bố mình
làm kĩ sư chế tạo máy móc. Trước đây mẹ làm thợ may, còn bây giờ mẹ là
đầu bếp. Bên trái bức tranh là anh trai mình là thủy thủ nhí. Còn mình là Út
nhất trong gia đình”.
Khi học sinh đặt câu chưa đúng giáo viên cần nhắc lại kiểu câu Ai là
gì? cho các em nắm và chỉ lại lỗi sai để các em sửa chữa cho đúng như:
“Mình muốn giới thiệu với các bạn từng thành viên trong bức ảnh gia đình
Nếu các em viết lại là: Ôi, tại sao con mèo này bắt chuột giỏi quá!
Thì câu này không phải là câu cảm nữa, mà đó là câu hỏi nhằm giải thích
“Vì sao con mèo này giỏi”, nên giáo viên diễn giải cho học sinh nắm rõ hơn.
Phương pháp giảng dạy:
1. Phương pháp vấn đáp: là phương pháp dạy học không trực tiếp
đưa ra những kiến thức đã hoàn chỉnh mà hướng dẫn cho học sinh tư duy
từng bước để các em tìm ra kiến thức mới phải học.
Phương pháp này gợi mở vấn đáp nhằm tăng cường kĩ năng suy nghĩ
sáng tạo. Trong quá trình lĩnh hội tri thức và xác định mức độ hiểu bài cũng
như kinh nghiệm đã có của học sinh, giúp các em hình thành khả năng tự lực
tìm tòi kiến thức. Qua đó học sinh nghi nhớ tốt hơn.
Ví dụ: Bài tập 2: Bài Mở rộng vốn từ: Ước mơ, sách Tiếng việt 1
trang 87.
Tìm thêm những từ cùng nghĩa với từ ước mơ. Ở đây các em đã được
giáo viên hướng dẫn gợi mở nên học sinh có thể tìm như: mơ tưởng, mơ
mộng, ước muốn, ước ao…
Tóm lại: phương pháp vấn đáp được sử dụng trong tất cả các tiết học
và phát huy được tính chủ động, sáng tạo của học sinh.
2. Phương pháp giải quyết vấn đề: là giáo viên đưa ra những tình
huống gợi vấn đề điều khiến học sinh phát hiện vấn đề hoạt động tự giác chủ
động, sáng tạo để giải quyết vấn đề thông qua sáng tạo tri thức rèn luyện kỹ
năng. Khi sử dụng phương pháp này, giáo viên cần chuẩn bị trước câu hỏi
sao cho phù hợp với mục đích các đối tượng học sinh, giáo viên cần chuẩn
bị tốt ý kiến để giải quyết vấn đề mà học sinh đưa ra.
Ví dụ: Khi dạy bài Mở rộng vốn từ “Đồ chơi - Trò chơi” giáo viên
đưa ra một số thành ngữ - tục ngữ sau “Chơi với lửa”; “Ở chọn nơi, chơi
chọn bạn” để khuyên bạn.
Để giúp các em khai thác có hiệu quả nội dung bài học, luyện tập
cách giao tiếp, thảo luận theo cặp, nhóm là hình thức học tập rất có hiệu quả.
Khi thảo luận các em được nói, nghe bạn nói, nhận xét vì thế tập cho các em
tự tin, mạnh dạn trong học tập. Việc dạy học theo nhóm là đề cao vai trò tự
hợp tác trách nhiệm cá nhân với tập thể. Đồng thời dạy học theo nhóm rèn
luyện cho học sinh những kĩ năng: Biết lắng nghe lựa chọn, tiếp nhận ý kiến
của người khác để bổ sung vào sự hiểu biết của mình và biết trình bày ý kiến
của mình cho bạn nghe và biết được công tác tổ chức, điều khiển.
Tóm lại, hoạt động nhóm giúp cho học sinh có hứng thú học tập và
giúp cho các em học sôi động hơn. Từ đó tăng hiệu quả giờ học, còn phương
pháp thực hành thì giúp các em biết vận dụng kiến thức vào thực tế và củng
cố kiến thức cho các em. Tạo hứng thú cho các em bằng phương pháp nêu
gương, thi đua giữa các cá nhân, giữa các nhóm, tổ thông qua các trò chơi
học tập…
Sách giáo khoa là phương tiện học tập nên bất kì lúc nào học sinh
cũng làm việc với sách giáo khoa. Đọc mục nhận xét, làm bài tập, dùng bút
chì gạch chân những từ ngữ quan trọng, quan sát hình vẽ trong sách giáo
khoa, đọc ghi nhớ,… Ngoài ra, còn sử dụng trang ảnh, vật thật và các
phương tiện dạy học khác đúng lúc.
Tổ chức trò chơi học tập cho học sinh.
Nhằm nâng cao chất lượng của phân môn Luyện từ và câu, chúng tôi
đã sử dụng một số trò chơi trong mỗi tiết dạy. Nhờ vậy mà các em tích cực
tham gia hoạt động học tập một cách tích cực, những em chậm chạp cũng
thấy năng động hơn. Những em có tính tự ti cũng hòa nhập cùng các bạn.
Chúng tôi nhận thấy việc tổ chức trò chơi không những giúp các en năng
động, sáng tạo mà còn giúp các em biết yêu thương giúp đỡ lẫn nhau, cùng
nhau tiến bộ. Các em hứng thú tham gia vào các hoạt động học tập một một
cách tích cực. Có như vậy thì các em mới nắm vững được kiến thức của từng
sinh. Cả nhóm thảo luận trong 2 phút. Sau đó giáo viên mời 2 nhóm ngẫu
nhiên lên thi đua tiếp sức. Mỗi bạn trong nhóm chọn 1 tấm thẻ có ghi tên:
Các em lần lượt nối tiếp nhau đính tấm thẻ vào chỗ cần điền trên
bảng phụ, nhóm nào chọn đúng và đính trong thời gian sớm nhất là thắng
cuộc.
4. Kết quả so sánh:
Trong quá trình thực hiện đề tài để giảng dạy phân môn Luyện từ và
câu đến nay, chúng tôi nhận thấy học sinh lớp 4B có hiểu bài và hứng thú
học tập một cách tích cực. Đồng thời rèn cho học sinh một số kỹ năng sống
cơ bản. Một số em chưa hiểu bài và rất thụ động học tập dần dần cũng tích
cực tham gia hoạt động trở nên mạnh dạn hơn, tự tin hơn. Tỉ lệ học sinh nắm
được nội dung tăng lên rõ rệt.
Kết quả so sánh chất lượng dạy phân môn Luyện từ và câu lớp 4B
năm học 2014 - 2015 đến nay như sau:
Năm học 2014- 2015: Lớp 4B: 26 học sinh
TSHS
Thời
26
26
Đầu năm
HKI
Hoàn thành
TS
Xác định đúng mục tiêu, kiến thức, kỹ năng của từng bài.
Lựa chọn và vận dụng các phương pháp dạy học phù hợp, một số
hình thức tổ chức, kết hợp với một số trò chơi để làm giảm bớt sự căng
thẳng cho học sinh trong một tiết học và tránh sự nhàm chán cho học sinh,
làm không khí lớp học thoải mái. Tùy vào mục tiêu của từng bài tập mà lựa
chọc cách giảng dạy cho phù hợp, thì nhất định sẽ mang lại hiệu quả.
Giáo viên phải thật sự gần gũi, quan tâm nhiều đến các em nhất là
những em phát triển chậm. Động viên tinh thần học tập của các em.
Giáo viên phải có lòng say mê nghề nghiệp, tìm tòi và sáng tạo
trong dạy học, luôn luôn tự học, bồi dưỡng và nâng cao nhận thức, tham gia
dự giờ, trao đổi kinh nghiệm với các bạn đồng nghiệp để tích lũy thêm kinh
nghiệm.
2. Hướng phổ biến, áp dụng đề tài:
Trên đây là một số kinh nghiệm của chúng tôi trong việc giúp các em
học tốt phân môn Luyện từ và câu. Qua đó giúp chúng tôi nhìn đúng hơn về
vấn đề nâng cao chất lượng dạy học. Đồng thời phổ biết đề tài này giao lưu
với các trường bạn, trong toàn huyện nhằm mục đích phát huy những mặt
đạt được và khắc phục những mặt hạn chế để trau đổi thêm kinh nghiệm
trong việc giảng dạy và học tốt phân môn Luyện từ và câu lớp 4B.
Vì điều kiện thời gian thực hiện đề tài có hạn, năng lực chúng tôi
cũng hạn chế nên quá trình nghiên cứu và thực hiện không tránh khỏi những
thiếu sót. Những phương pháp trên mới áp dụng ở trường thấy có hiệu quả.
Cho nên giải pháp này có thể phổ biến cho các trường trong huyện hoặc có
thể các trường trong toàn tỉnh cùng thực hiện.
3. Hướng nghiên cứu tiếp của đề tài:
Từ kết quả đạt được của đề tài, chúng tôi áp dụng những giải pháp
của đề tài và trao đổi kinh nghiệm với các đồng nghiệp của trường cũng như
ở đơn vị bạn để phát huy những mặt đạt được và sẽ đưa ra biện pháp khắc