tiểu luận cao học Chiến lược truyền thông làng văn hóa các dân tộc việt nam - Pdf 34

Chiến lược truyền thông Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam

I. Thông tin tổng quan và phân tích tình hình
1. Tổng quan
Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam là một công trình được khởi công xây
dựng năm 2003 tọa lạc tại Đồng Mô (Ngải Sơn, thị xã Sơn Tây, Hà Nội) cách
trung tâm Hà Nội chừng 40km về phía Tây. Công trình được xây dựng trên diện
tích 1.544 ha, trong đó có 605 ha mặt đất và 939 ha mặt nước.
Đây là một tổng thể kiến trúc rộng và độc đáo về 54 dân tộc trên toàn đất
nước với quy hoạch 7 khu: Khu các làng dân tộc Việt Nam; Khu Trung tâm văn
hóa và vui chơi giải trí; Khu dịch vụ du lịch tổng hợp; Khu Di sản văn hóa thế
giới; Khu công viên bến thuyền; Khu cây xanh mặt nước hồ Đồng Mô; Khu
quản lý điều hành, văn phòng.

Bản quy hoạch Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam
2. Phân tích tình hình
2.1. Mặt lợi thế

1


Chiến lược truyền thông Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam

Giữa thủ đô Hà Nội, các điểm tham quan, du lịch cũng như tìm hiểu về văn
hóa của các dân tộc trên đất nước ta còn rất ít. Địa điểm quen thuộc nhất với
người dân có lẽ là Bảo tàng dân tộc học, nhưng với diện tích khoảng 4,4 ha
khuôn viên, bảo tàng Dân tộc học cung cấp cho người tham quan một vài hạng
mục công trình và trưng bày về một vài nét văn hóa tiêu biểu của các dân tộc
Việt Nam và dân tộc trong khu vực, chủ yếu là khu vực Đông Nam Á.
Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam là một quần thể kiến trúc được xây dựng
trên một quy mô lớn, hội tụ gần như đầy đủ tất cả 54 dân tộc và các dân tộc

Không chỉ mang đến những nét văn hóa đặc sắc một cách cụ thể của mỗi
dân tộc, Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam còn là nơi hội tụ gần như đầy đủ
các dân tộc trên toàn quốc, cùng với các dân tộc khác trên thế giới, ví dụ như 5
tỉnh khu vực Tây Nguyên là một cụm gồm 18 làng tương ứng với 18 tộc người
tiêu biểu như: Bahnar, Jrai, Mnông, Êđê...Gia Lai vinh dự có 2 tộc người thiểu
3


Chiến lược truyền thông Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam

số là Bahnar và Jrai góp mặt, góp phần hoàn thiện bức tranh sống động của 54
dân tộc với các vùng miền khác nhau trên toàn quốc.

Tháp Chàm tại Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam

Trong các làng, những nét tiêu biểu về văn hóa, kiến trúc được phục dựng
một cách công phu và đồ sộ, tái hiện một cách rõ nét nhất với khách tham quan
như khu nhà Rông, khu nhà Mồ của dân tộc vùng Tây Nguyên, khu tháp Chàm
người Chăm…Bên cạnh việc tập trung vào nét văn hóa của các dân tộc, làng
văn hóa các dân tộc còn chú trọng trong việc phát triển, cung cấp các dịch vụ
thiết yếu cho du khách tham quan với việc quy hoạch và phát triển đồng bộ khu
văn hóa, vui chơi giải trí được đầu tư xây dựng trên diện tích gần 100 ha, sẽ
cung cấp dịch vụ một cách tốt nhất cho khách tham quan.
Từ đó có thể thấy Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam là nơi hội tụ nét văn
hóa dân tộc Việt Nam giữa lòng thủ đô, là một điểm đến du lịch hấp dẫn không

4


Chiến lược truyền thông Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam


hiện tại Làng văn hóa vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, việc thông tin tới
người dân còn hạn chế, chính vì vậy vẫn có không ít người dân biết đến địa
điểm hấp dẫn này.Chiến lược Pr sẽ thông qua các phương tiện truyền thông đại
chúng, các tổ chức và cá nhân khác đưa thông tin, hình ảnh về Làng đến với
công chúng.
Bên cạnh là nơi bảo tồn gìn giữ các giá trị văn hóa dân tộc, Làng văn hóa
các dân tộc Việt Nam còn là một địa điểm du lịch hấp dẫn. Chính vì vậy chiến
lược Pr xây dựng nhằm mục tiêu thu hút các công ty, hãng du lịch, cho họ thấy
tiềm năng hấp dẫn của địa điểm du lịch này, từ đó khiến các công ty du lịch có
thể xây dựng các tour du lịch với điểm đến là Làng văn hóa, góp phần quảng
bá hơn nữa tới người dân, biến làng văn hóa trở thành một trong những địa
điểm du lịch hấp dẫn không chỉ với người dân trong nước và còn cả với du
khách quốc tế, những người muốn khám phá, tìm hiểu về nét văn hóa các dân
tộc Việt Nam. Từ đó góp phần tăng doanh thu và lợi nhuận trong việc khai thác
các tiềm năng du lịch tại Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam.
III. Chiến lược truyền thông
1. Đối tượng
Đối tượng mục tiêu của chiến lược này là các công ty du lịch. Như đã nói ở trên,
mục tiêu của cả chiến lược chính là quảng bá hình ảnh của Làng văn hóa các dân tộc
Việt Nam đến rộng rãi cộng đồng, từ đó thu hút khách đến tham quan Làng. Các công
ty du lịch chính là một kênh để khách du lịch biết về Làng văn hóa, và cũng chính các
công ty du lịch thiết kế các tour cho khách đến Làng. Không phải 100% khách đến với
Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam nói riêng, các điểm du lịch khác nói chung đều
xuất phát từ những công ty du lịch. Tuy nhiên, phần lớn khách du lịch đến với điểm

6


Chiến lược truyền thông Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam

Chiến lược truyền thông Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam

điểm du lịch này. Và lời nói của họ thực sự có sức nặng. Đối tượng tiềm năng này phụ
thuộc một phần vào các công ty du lịch.
Đối tượng trung gian chính là các cơ quan báo chí. Với ngành PR, báo chí luôn
luôn là kênh truyền tải thông tin hữu hiệu nhất. Mối quan hệ với báo chí là mối quan
hệ không thể thiếu trong lĩnh vực quảng bá thương hiệu, tạo dựng dư luận, thông tin
đến khách hàng với hiệu quả cao mà chi phí lại thấp. Vì thế cần cung cấp thông tin
đầy đủ đến báo chí thông qua thông cáo báo chí, giữ mối quan hệ tốt đẹp với báo chí
để đạt được mục tiêu PR tốt nhất. Tuy nhiên, nếu tiếp cận với giới báo chí thông qua
thông cáo báo chí thì chưa đủ mà phải tận dụng các mối quan hệ quen biết từ trước, tổ
chức gặp mặt để tăng thêm mức độ thân thiết.
Với mỗi đối tượng cần có những cách tiếp cận riêng, không đánh đồng tất cả đều
giống nhau. Như thế không mang lại hiệu quả cáo và kém chuyên nghiệp. Đối tượng
mục tiêu – các công ty du lịch là đối tượng cần quan tâm nhiều nhất vì họ có tác động
lớn nhất tới sự thành bại của chiến lược này. Bên cạnh đó cũng không thể không tận
dụng các đối tượng còn lại để sự lan tỏa hình ảnh của Làng văn hóa các dân tộc Việt
Nam trở nên rộng lớn nhất.
2. Phương tiện truyền thông
Chiến dịch truyền thông này sử dụng phương tiện truyền thông là báo chí: báo in,
báo mạng và truyền hình. Thông qua mối quan hệ với báo chí cũng như thông tin đến
báo chí để có được một số bài đăng trên báo in, báo mạng (chủ yếu nhằm vào báo
mạng) và tin trên các kênh truyền hình về du lịch. Trên các kênh truyền hình có độ
phủ sóng rộng rãi thì chiếu clip quảng bá.
Để có thể có tin về Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam trên kênh du lịch, chúng ta
cần tạo ra sự kiện. Đó là tổ chức lễ hội (chi tiết về lễ hội này ở phần Các sự kiện). Sắp
tới đây khi hoàn thiện xong tất cả các hạng mục, Làng sẽ tổ chức đón cư dân của một
8




Khách mời: Đại diện công ty du lịch và cơ quan báo chí (Có danh sách kèm theo).
Nội dung:
Trước hết, thông báo về việc chính thức mở cửa đón khách của Làng.
Thứ hai, thông báo về Ngày hội sắp được tổ chức tại Làng văn hóa các dân tộc
Việt Nam (bao gồm thời gian, địa điểm tổ chức, các hoạt động…).
Lịch trình cụ thể: Ngày 4/1/2012
8h: Xe đón khách mời tại Trần Duy Hưng.
9h: Đến Làng văn hóa các dân tộc.
9h 15 – 10h: Gặp gỡ, trò chuyện giữa đại diện của Làng văn hóa với các khách mời
tại khu nhà điều hành.
10h – 11h: Xe đưa khách mời đi tham quan làng với sự hướng dẫn của đại diện
Làng văn hóa.
11h15 – 12h: Ăn trưa.
12h – 13h: Thời gian tự do. Các khách mời có thể đi thăm thú trong Làng theo ý
muốn.
13h: Xe khởi hành chở khách mời trở về trung tâm Hà Nội (Trần Duy Hưng).
Quà tặng: Tiền mặt 500.000 VNĐ/người.
3.2. Ngày hội
- Chủ đề: “Du xuân- S- Việt Nam”
Mục đích, ý nghĩa

10


Chiến lược truyền thông Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam

- Chương trình nằm trong chuỗi hoạt động truyền thông cho Làng Văn hóa du
lịch các dân tộc Việt Nam.
- Sau Tết Nguyên Đán là thời điểm lý tưởng vì người dân vẫn ở trong không khí lễ

Thời gian: 17h cùng ngày
- Địa điểm: Quảng trường Tây Nguyên
- Khách mời: Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Bộ, ngành, địa phương, các đoàn các dân
tộc tham gia, các đại sứ, Tổ chức quốc tế, các đoàn ngoại giao, đại diện lãnh đạo
các Sở VHTTDL.
* Trình diễn trang phục dân tộc, giao lưu văn nghệ giữa các dân tộc
- Thời gian: Buổi sáng từ 8h30 đến 11h, buổi chiều từ 13h đến 17h
- Địa điểm: Quảng trường Tây Nguyên
- Nội dung:
Vể trình diễn trang phục dân tộc, mỗi dân tộc sẽ trình diễn những trang phục
truyền thống của dân tộc mình. Tiêu chí đưa ra là trang phục trình diễn phải là của
dân tộc trong sinh hoạt hằng ngày, đám cưới, lễ hội truyền thống, đi kèm đồ trang
sức (như vòng cổ, vòng chân, tay, hoa tai...) theo đúng truyền thống, không được
cách tân, lai tạp. Kèm theo là những bước đi, điệu nhạc, tiếng khèn đặc trưng với
những lời giới thiệu quảng bá đời sống sinh hoạt văn hóa tinh thần của dân tộc đó.
Về các tiết mục trình diễn nghệ thuật dân gian, sẽ có những giai điệu âm
nhạc mừng năm mới như: cầu an, cầu mùa của các tộc người Raglai, Dao Lô gang,
Na Miẻo và Tày, điệu múa sư tử của người Nùng,…Ngoài ra, còn bao gồm các tiết
mục đặc sắc khác như cồng chiêng Tây Nguyên, và điệu múa của người Raglai hay
điệu múa sạp của người Thái, dân ca Quan họ Bắc Ninh,…
* Trò chơi dân gian, trưng bày làng nghề

12


Chiến lược truyền thông Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam

- Thời gian: Buổi sáng từ 8h30 đến 11h, buổi chiều từ 13h đến 17h
- Địa điểm: Khu cổng A
- Nội dung:

2.1. Xác định nhiệm vụ công việc:
Phần giới thiệu tham quan
- Chuẩn bị catalogue giới thiệu về làng văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam
- Chuẩn bị cho buổi gặp mặt, giới thiệu về làng và về chương trình lễ hội đầu
xuân săp diễn ra
- Chuẩn bị xe đưa đón đại diện các công ty du lịch và cơ quan báo chí đến các
điểm tham quan
- Công tác hậu cần: ăn uống và quà biếu
Phần lễ hội
- Chuẩn bị các màn hình lớn, nhỏ để chiếu hình ảnh, clip giới thiệu về làng
văn hóa- du lịch các dân tộc Việt Nam như một hình thức tự quảng cáo( như
QC Bà Nà Hill ở đầu Cầu Giấy)
- Chuẩn bị các thiệt bị chiếu Phim tư liệu về các nét sinh hoạt văn hóa truyền
thống, các lễ hội đặc sắc, tiêu biểu cho từng dân tộc, bố trí trong các khu nhà
của mỗi dân tộc. Mục đích là để khách tham quan có thể khám phá nhiều
hơn về văn hóa các dân tộc (như trong bảo tàng dân tộc học và một số bảo
tàng khác…)
- Tìm các nguồn phim tư liệu về văn hóa, lễ hội, sinh hoạt của các dân tộc ở
viện phim tài liệu, viện văn hóa, các đài truyền hình, các bảo tàng khác…để
chiếu trong các khu nhà ucar từng dân tộc
- Thiết kế sân khấu và phân chia khu vực phù hợp với từng nội dung lễ hội.
Đảm bảo các khu vực diễn ra lễ hội không ở quá xa nhau và thuận tiện cho
khách tham quan có thể tham dự đầy đủ các phần. Tận dụng các sân khấu
hay khu trình diễn đã được xây dựng trước.
- Mời các nghệ nhân về ẩm thực, văn nghệ…tham gia chương trình
- Tổng duyệt các phần mang tính chất trình diễn; chuẩn bị chu đáo về trang
phục, âm thanh, ánh sáng…
14



 Ban tổ chức lễ hội: thiết kế các sân khấu, nội dung của hoạt động lễ hội
chính vào các buổi sáng, chiếu.

15


Chiến lược truyền thông Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam

 Ban hậu cần: lo hậu cần cho toàn bộ ekip tổ chức sự kiện và khách
mời…- 15 người
 Ban bảo vệ: đảm bảo cho hoạt động của lễ hội diễn ra an toàn, có trật tự,
lành mạnh…- 200 người

V. PHƯƠNG THỨC ĐÁNH GIÁ
Tiêu chí đánh giá dựa trên các mục tiêu đã đề ra.
1. Tần xuất xuất hiện và chất lượng quảng bá trên các phương tiện truyền
thông đại chúng
- Tần suất clip quảng cáo xuất hiện trên truyền hình cũng như phát trên các màn
hình lớn nơi công cộng có đúng, đủ số lượng đề ra? Chất lượng như thế nào? Phản
hồi của khán giả ra sao?
- Tần suất xuất hiện trên báo (báo in và báo mạng): Có bao nhiêu bài ? Giọng điệu
của các bài báo này (tích cực hay tiêu cực). Những tờ báo nào đã đưa tin? Đưa tin
ở mục nào, trang nào? Công chúng của họ là ai? Các bài báo viết về làng văn hóa –
du lịch như là nội dung chính hay chỉ là thêm thắt, viết cho có?
2. Sự quan tâm, mức độ tìm kiếm và hiểu biết của công chúng
- Có bao nhiêu lượt gõ trên google với từ khóa “Làng văn hóa – du lịch các dân tộc
Việt Nam” (sử dụng phần mềm Google Keyword Tool)? Có bao nhiêu kết quả
hiển thị chính xác khi gõ cụm từ này?

16

50

2

Lễ hội

500

3

Clip hình ảnh giới thiệu

30

4

Tài liệu (sách ảnh,…) + thư mời

20

5

Trailer phát trên truyền hình + Bài 150

6

viết trên báo in, báo mạng
Chi phí phát sinh

10

của núi rừng, không ít người ngỡ ngàng tiếc nuối.
Theo thống kê của Viện phát triển bền vững vùng Tây Nguyên, hiện nay chỉ
còn 7 dân tộc ở khu vực Bắc Tây Nguyên và miền núi Nam Trung Bộ (Cơtu, Bana,
Xơđăng, Giẻ Triêng, Brâu, Rơ Măm và Gia Rai) còn nhà Rông. Ít ỏi nhưng cũng
mừng là vẫn còn để mà bảo tồn. Nhưng thay vì được chiêm ngưỡng những ngôi
nhà truyền thống thì người ta lắc đầu xót xa khi nhìn thấy nhà Rông được phục
dựng bằng gạch, xi măng, cốt thép, mái tôn…
Cùng chung số phận như nhà rông, nhà sàn của các dân tộc khác cũng đang
biến dạng nhanh chóng. Nhà sàn tranh tre nứa lá vắng bóng dần, thay vào đó là
những ngôi nhà lai căng được xây nên bởi các vật liệu hiện đại.

19


Chiến lược truyền thông Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam

Nhà sàn bạc tỷ này là của dân tộc nào?

Tượng nhà Mồ - một giá trị văn hóa độc đáo của đồng bào các dân tộc Tây
cũng đang sắp biến mất bởi chúng được đẽo kỹ quá. Không tì vết, và không cả
những nét trầm tư, mộc mạc gợi triết lý nhân sinh về ý niệm sinh thành của những
bức tượng truyền thống.
Những kiến trúc lai căng, những mảnh ghép méo mó. Nhà thay đổi, văn hóa
mai một. Các chàng trai Mông biết thổi khèn ít dần. Thanh niên Tây Nguyên có
người chưa biết đến hát, kể trường ca, sử thi . Và các thiếu nữ Thái không biết có
còn hiểu được ý nghĩa nhân sinh cao đẹp của hàng cúc bạc hình bướm trên áo
“cỏm” (áo mặc ngoài bó sát người của con gái Thái)
…tìm lại nơi xứ Đoài mây trắng
Băn khoăn, lo lắng trước sự mai một của các giá trị cổ truyền, nhiều người
không khỏi phấn khởi trước sự hiện diện của làng văn hóa du lịch các dân tộc Việt

“Ngược lên” miền Tây Bắc với dân tộc Thái, điều đặc biệt là mặc dù được
dựng nên từ các loại cây gỗ và cây có dóng, lợp bằng cỏ tranh hay ván thông,
nhưng nhà sàn người Thái không hề dùng đến một mẩu sắt nhỏ. Tất cả là các hệ
thống dây chằng buộc, thắt khá công phu và tinh xảo bằng lạt tre, giàn mây hoặc
vỏ những cây chuyên dùng trong rừng.
Một điều thú vị là ban quản lý làng liên tục đón đồng bào các dân tộc về sinh
hoạt và trình diễn văn hóa tại ngôi nhà truyền thống của họ. Đến với làng văn hóa
du lịch các dân tộc Việt Nam, người ta còn được hòa mình trong cuộc sống sinh
hoạt của người dân các dân tộc. Được giã gạo, tẻ ngô cùng những người phụ nữ
dân tộc Chơ Ro, hay được lắng nghe giọng ca khỏe khoắn của những chàng trai, cô
gái đến từ núi rừng Tây Nguyên trong tiếng đàn T’rưng là những trải nghiệm lạ
lẫm và lôi cuốn.
Có thể một ngày nào đó, người ta sẽ truyền nhau câu “ Tối nhớ xứ Đoài mây
trắng lắm!”. Không phải là nỗi nhớ thao thức, khôn nguôi về quê hương trong
những ngày loạn lạc vì chiến tranh như trong “Đôi mắt người Sơn Tây” của Quang
Dũng mà bởi nơi ấy lưu giữ những mảnh hồn làng của 54 dân tộc anh em trên dải
đất hình chữ S này.

22


Chiến lược truyền thông Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam

Sinh viên: Lương Thị Bảo Trâm

KHÔNG GIAN VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM
GIỮA LÒNG THỦ ĐÔ.

Mô hình làng văn hóa – du lịch các dân tộc Việt Nam




Chiến lược truyền thông Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam

Sinh viên: Phạm Thị Thanh Hương

Làng văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam- không chỉ là văn
hóa
Làng VHDLCDTVN- nơi tái hiện tinh hóa văn hóa Việt
Không chỉ là một công trình lớn được khai trương đúng dịp diễn ra sự kiện mang
tính cột mốc đối với dân tộc Việt Nam- 1000 năm Thăng Long- Hà Nội, làng văn
hóa du lịch các dân tộc Việt Nam (Làng VHDLCDTVN) còn là nơi tái hiện tinh
hoa văn hóa độc đáo của 54 dân tộc trên đất nước ta.

Làng VHDLCDTVN- nơi tái hiện tinh hóa văn hóa Việt

Dự án Làng VHDLCDTVN được khởi công xây dựng năm 2003, trên diện tích
1544 ha (trong đó bao gồm 605ha mặt đất và 939ha mặt nước) thuộc Đồng Mô, thị
xã Sơn tây, Ba Vì, Hà Nội. Làng VHDLCDTVN gồm 6 khu chức năng: Khu làng
các dân tộc Việt Nam; khu trung tâm văn hóa và vui chơi, giải trí; khu di sản văn

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status