PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Một xã hội muốn phồn vinh, một đất nước muốn hưng thịnh không có con
đường nào khác là phải quan tâm, đầu tư phát triển giáo dục. Bởi có thể nói,
giáo dục là tiền đề của mọi tiền đề phát triển. Trong công cuộc đổi mới của đất
nước, giáo dục của nước ta đang có những chuyển biến mạnh mẽ, nhất là việc
đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy giáo dục quốc phòng – an ninh
(GDQP – AN) cho học sinh, sinh viên là nhiệm vụ hết sức quan trọng, có ý
nghĩa chiến lược của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Ngày 28 tháng 4 năm 1981,
Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra chỉ thị 107 – CT/TW về “tăng cường công
tác giáo dục quốc phòng toàn dân, chuẩn bị cho thế hệ trẻ sẵn sàng làm nhiệm
vụ bảo vệ Tổ quốc”. Nghị quyết Trung ương 3 (khóa III) đã chỉ rõ “phải tăng
cường công tác GDQP cho toàn dân, trước hết là đối với cán bộ các cấp, các
ngành của Đảng và Nhà nước, thế hệ trẻ học sinh, sinh viên”.
GDQP - AN được Đảng và Nhà nước xác định là môn học chính khóa
trong hệ thống các trường trung học phổ thông (THPT), trung học chuyên
nghiệp, cao đẳng, đại học, có tác động tích cực tới mục tiêu đào tạo toàn diện
của nhà trường. Thông qua GDQP - AN đã bồi dưỡng thế hệ trẻ học sinh, sinh
viên lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần cảnh giác cách mạng, sống có lý tưởng,
bản lĩnh và ý chí. Học GDQP - AN học sinh, sinh viên được thiết lập những kiến
thức quân sự cần thiết làm cơ sở cho việc bảo đảm sẵn sàng chiến đấu và phục
vụ chiến đấu, xây dựng ý thức trách nhiệm của tuổi trẻ, sẵn sàng ra nhập quân
đội để thực hiện nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc hoặc tham gia hoạt động bảo vệ trật tự
trị an, bảo vệ nhà trường và bảo vệ địa phương.
Ngành GD & ĐT hôm nay đang tập trung vào việc đổi mới giáo dục. Đổi
mới giáo dục trước hết là đổi mới về nội dung và đổi mới về phương pháp dạy
học ở tất cả các cấp học và bậc học, các môn học, nhất là bậc cao đẳng chuyên
1
nghiệp. Theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo ở sinh viên, lấy
Để nâng cao chất lượng môn GDQP - AN có nhiều biện pháp, nhưng đối
với nội dung thực hành môn GDQP - AN để nâng cao kỹ thuật thực hành cho
học sinh phải trải qua một quá trình rèn luyện. Điều này đòi hỏi giảng viên và
học sinh viên phải đổi mới tổ chức và phương pháp dạy và học phù hợp, có vậy
mới đạt được kết quả cao.
Nâng cao chất lượng kỹ thuật thực hành môn GDQP - AN qua đó vận dụng
vào giảng dạy kỹ thuật sử dụng lựu đạn cho sinh viên khối Trung cấp K48 là
một hướng nghiên cứu, phát triển rất quan trọng, đi sâu nghiên cứu nội dung với
mục đích tìm ra những biện pháp khắc phục yếu điểm còn tồn tại khi học và
thực hành kỹ thuật sử dụng lựu đạn để vận dụng vào dạy và học đối với sinh
viên trường Cao đẳng Sơn La.
Qua việc điều tra, tìm hiểu thực tế dạy và học môn học GDQP - AN của
giáo viên và học sinh còn có những bất cập trong việc nhận thức về kỹ thuật
thực hành cũng như việc nắm bắt kiến thức của sinh viên. Chính vì vậy, chúng
tôi xin mạnh dạn đi sâu vào nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp rèn luyện kỹ
thuật ném lựu đạn của sinh viên khối Trung cấp K48 trƣờng Cao đẳng Sơn
La”.
II. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1. Mục đích:
Trên cơ sở nghiên cứu về cơ sở nghiên cứu lý luận và cơ sở thực tiễn của
việc tổ chức luyện tập các nội dung thực hành trong môn học GDQP - AN,
nghiên cứu nội dung chương trình GDQP - AN ở bậc trung cấp, đưa ra một số
biện pháp để rèn luyện kỹ thuật thực hành sử dụng lựu đạn, đồng thời tìm ra
hướng dạy và học một cách hiệu quả nhất.
2. Giả thiết khoa học
Kết quả nghiên cứu sẽ là các yếu tố quan trọng nhằm nâng cao kỹ thuật
thực hành sử dụng lựu đạn của sinh viên khối TC K48, là cơ sở lý luận cho việc
3
dụng lựu đạn ở các trường CĐSP hiện nay, nhằm thu nhập các thông tin nghiên
cứu về các đối tượng được nghiên cứu, tùy theo lĩnh vực trong thời gian thực tập
sư phạm của bản thân. Trong quá trình điều tra thực trạng, ngoài việc quan sát
thực tế giảng dạy và học tập giáo dục quốc phòng, chúng tôi đã tiến hành phỏng
vấn, phát phiếu điều tra cho học sinh để xác định chất lượng cũng như sự hứng
thú, tinh thần tự giác luyện tập của học sinh khi học các nội dung kỹ thuật ném
lựu đạn.
3.3. Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu
Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu được sử dụng rộng rãi với mục
đích nhằm tham khảo các tài liệu khoa học, các văn kiện của Đảng, Nhà nước, Bộ
GD – ĐT về định hướng phát triển công tác GDQP - AN thông qua đó rèn luyện
tính tổ chức kỷ luật cho học sinh. Từ phân tích tiếp thu và sử dụng các thông tin
khoa học liên quan cần thiết, tổng hợp lại những vấn đề cơ bản có tính định hướng
cần thiết. Với vấn đề này, sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu có
liên quan với vấn đề nâng cao chất lượng GD – ĐT.
3.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Các vấn đề nghiên cứu chỉ có thông qua thực tiễn kiểm chứng bằng thực
nghiệm sư phạm mới đủ độ tin cậy để giải quyết xác định vấn đề có cơ sở khoa
học hay không. Chúng tôi tiến hành xác định một số phương pháp học thực hành
để áp dụng cho sinh viên Trung cấp K48 trường Cao đẳng Sơn La đang học để
đánh giá kết quả.
5
5.6. Phương pháp toán học thống kê
Phương pháp này được sử dụng trong việc phân tích và xử lí các số liệu
thu thập được trong quá trình nghiên cứu của đề tài. Trong quá trình phân tích
và xử lý số liệu đề tài sử dụng các tham số đặc trưng sau:
- Số trung bình cộng:
.100%
- So sánh 2 số trung bình quan sát: (t tính)
t
xa xb
c2
na
c2
(với n < 30)
nb
- Công thức tính hệ số tương quan r
- Công thức tính nhịp độ tăng trưởng
6
W
v2 v1
.100%
0,5. v1 v2
8
NỘI DUNG CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN DẠY - HỌC THỰC HÀNH
MÔN HỌC GDQP - AN NÓI CHUNG VÀ KỸ THUẬT NÉM LỰU ĐẠN
NÓI RIÊNG
1.1. Cơ sở lý luận dạy – học thực hành môn GDQP - AN
1.1.1. Vị trí của môn GDQP - AN trong đào tạo giáo dục quốc gia
GDQP - AN cho học sinh, sinh viên là môn học chính khóa theo luật định,
là nhiệm vụ chiến lược của Đảng, Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN).
GDQP - AN là một nội dung quan trọng trong mục tiêu đào tạo toàn diện
con người mới, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH,
HĐH) đất nước. GDQP - AN không phải là công việc chuẩn bị nhân lực cho
chiến tranh mà chủ yếu là trang bị tư duy, kiến thức cơ bản nhất về quốc phòng
cho sinh viên, giúp sinh viên có nhận thức và hiểu biết trong công việc kết hợp
kinh tế với quốc phòng, an ninh và đối ngoại.
GDQP - AN cho học sinh, sinh viên là nhiệm vụ không thể thiếu trong quá
trình đào tạo, xây dựng con người mới của Đảng. Thông qua nhận thức về nội dung
môn học và thực tế thông qua quá trình học tập GDQP - AN đã giúp cho học sinh
nhận thức đầy đủ về nghĩa vụ, trách nhiệm của mình đối với Tổ quốc, hiểu về lịch
sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta hàng ngàn năm qua.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng, phục vụ sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc. Đảng, Nhà nước ta chủ chương đổi mới, nâng cao chất lượng
công tác GDQP - AN toàn dân đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới. Nghị định số
15/2001/NĐ – CP ngày 1/5/2001 của Chính phủ. Trong đó quy định phạm vi
điều chỉnh vị trí, tính chất, mục tiêu, yêu cầu, nguyên lý GDQP - AN, nội dung,
10
công việc được tiến hành thường xuyên, liên tục trong giáo dục đào tạo nhằm
nâng cao chất lượng hiệu quả môn học. Điều 5, Luật giáo dục nước Cộng hòa
XHCN Việt Nam đã đặt ra yêu cầu về nội dung và phương pháp giáo dục:
“Phương pháp giáo dục phải phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động sáng
tạo của người học, bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực
hành, lòng say mê và ý thức vươn lên”.
Chúng ta đều biết, phương pháp dạy học là tổng hợp các cách thức hoạt
động của người dạy và người học. Hay nói cách khác, đó là sự thống nhất giữa
cách dạy, cách học của giảng viên và sinh viên.
Đổi mới phương pháp dạy và học không phải là tạo một phương pháp mới
hoàn toàn khác với phương pháp cũ, để loại trừ phương pháp cũ mà thực chất là
phát huy những nhân tố tích cực của phương pháp cũ đồng thời tạo ra phương
pháp mới tiến bộ hơn, ưu việt hơn, đem lại kết quả cao hơn.
Đổi mới phương pháp giảng dạy trên cơ sở bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm và
kỹ năng sử dụng các phương tiện giảng dạy cho đội ngũ giảng viên GDQP - AN là
nhiệm vụ quan trọng có tính chất quyết định đến chất lượng đào tạo.
Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII Luật giáo dục đặt ra cho ngành giáo dục
một nhiệm vụ quan trọng là: “ Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo,
khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người
học, tiến bước áp dụng các phương pháp hiện đại vào quá trình dạy học đảm bảo
điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh”.
Đối với GDQP - AN, mục đích đổi mới phương pháp dạy và học là để
nâng cao chất lượng môn học, góp phần vào thực hiện mục tiêu toàn diện trong
nhà trường, tạo điều kiện cho thế hệ trẻ có điều kiện tu dưỡng phẩm chất đạo
đức và rèn luyện năng lực thực tế để sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc.
theo mẫu, nghiên cứu từng cử động của động tác. Ở giai đoạn này các động tác
phức tạp thường được tách thành các thao tác, chi tiết để sinh viên luyện tập
từng phần sau đó mới hoàn chỉnh động tác.
Giai đoạn này các động tác diễn ra còn chậm, có nhiều sai sót, phối hợp
động tác còn khó khăn lúng túng, động tác thực hiện của sinh viên có thể lúc đầu
nhớ sai, làm sai những chỗ nào chưa hiểu mạnh dạn hỏi để giảng viên giải đáp
qua đó nắm chắc nội dung.
Yêu cầu sinh viên tập luyện tỉ mỉ từng cử động, động tác, chưa yêu cầu cao
về tốc độ. Giảng viên, cán bộ chỉ huy, tiểu đội trưởng, tổ trưởng phải thường xuyên
theo dõi, kịp thời phát hiện, uốn nắn những sai lệch, tránh lặp đi lặp lại những động
tác sai khó sửa. Khi tập luyện cần tổ chức cho mọi người quan sát lẫn nhau để giúp
đỡ nhau sửa sai, đạt kết quả cao trong tập luyện.
Giai đoạn 2: Phối hợp các cử động thành các động tác liên hoàn, sự phối
hợp của các động tác được nhịp nhàng, ăn khớp. Giai đoạn này được kết thúc
bằng việc thực hiện chính xác toàn bộ động tác có sự điều khiển của ý thức
trong các điều kiện thay đổi.
Giai đoạn 3: Ở giai đoạn này sinh viên đã thực hiện được động tác đúng,
nhanh chóng, chuẩn xác, cho phép tăng dần nhịp độ luyện tập thực hành động
tác hình thành kỹ năng thực hành.Vận dụng linh hoạt tình huống và thực tế trên
thao trường, bãi tập.
1.2. Cơ sở thực tiễn về dạy - học môn học GDQP - AN
1.2.1. Quan điểm của người lãnh đạo các trường cao đẳng chuyên
nghiệp
Hiện nay ở một số trường Cao đẳng lãnh đạo nhà trường đã nhận thức
được tầm quan trọng của môn học GDQP - AN trong hệ thống giáo dục quốc
gia. Vì vậy Ban giám hiệu nhà trường hết sức quan tâm đến việc giảng dạy và
13
học tập trung đầu khóa, giữa kỳ của đa số các trường như là bước đệm của năm
học đang diễn ra khá phổ biến, tình trạng học tập trung vào đầu năm học diễn ra
nhằm “thanh toán chương trình” làm cho các em nhận thức chưa đầy đủ về vai
trò, tầm quan trọng của môn học. Từ đó dẫn đến thái độ giản đơn trong học tập,
thậm trí các em còn cho rằng đây là môn học phụ không cần đầu tư công sức để
học tập, không rèn luyện vì vậy không tích lũy được kỹ thuật thực hành môn
học. Điều này cho thấy công tác tổ chức dạy – học môn GDQP - AN của các
trường còn chưa thống nhất.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều nghị
quyết, chỉ thị, văn bản pháp quy chỉ đạo công tác tổ chức GDQP - AN cho các
đối tượng như: Nghị định 116/2007/NĐ - CP ngày 10/7/2007 của Chính phủ về
GDQP - AN. Chỉ thị số 420/CT ngày 30/2/1994 về GDQP và đào tạo sĩ quan dự
bị. Quyết định số 79, 80, 81/QĐ - Bộ GD - ĐT ngày 24/12/2007 của Bộ trưởng
Bộ giáo dục và đào tạo… Các văn bản này đã xác định nội dung chương trình,
chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận tham gia GDQP - AN tương đối chặt chẽ.
15
Chƣơng 2
THỰC TRẠNG DẠY - HỌC THỰC HÀNH KỸ THUẬT NÉM LỰU ĐẠN
2.1. Đối với sinh viên
Dùng phương pháp đàm thoại, điều tra, phát phiếu phỏng vấn để đánh giá thực
trạng học thực hành ném lựu đạn của sinh viên khối trung cấp K48 trường Cao
đẳng Sơn La.
Chúng tôi phát phiếu phỏng vấn cho sinh viên khối trung cấp trường Cao
Đẳng Sơn La.
- Để đánh giá về mặt nhận thức chúng tôi đưa ra câu hỏi sau:
Câu 1: Theo em trong môn học GDQP – AN, việc hình thành kỹ thuật
thực hành ném lựu đạn cho học sinh có cần thiết hay không?
2
TC HCVT K48
700
335=47,86%
85=12,14%
280=40%
Từ kết quả trên nhận thấy tỷ lệ đa số các em học sinh đều cho rằng việc
hình thành kỹ năng thực hành là rất cần thiết. Điều này chứng tỏ các em học
16
sinh đã có nhận thức đúng đắn về vai trò của kỹ năng thực hành trong khi thực
hiện động tác.
- Nhưng thực chất học sinh có tự giác hình thành cho mình kỹ thuật thực
hành một cách thường xuyên hay không.
Để trả lời câu hỏi này chúng tôi điều tra bằng câu hỏi:
Câu 2: Trong quá trình học thực hành ném lựu đạn, em có thƣờng
xuyên tập luyện để hình thành kỹ thuật thực hành động tác hay không?
A. Thường xuyên luyện tập
B. Không thường xuyên luyện tập
C. Chỉ tập khi sắp kiểm tra
Kết quả thu được như sau:
Tổng
100=14,29%
236=33,71% 364=52%
Từ kết quả trên chúng ta thấy đa số các em nhận thức được việc hình
thành kỹ năng thực hành là rất cần thiết nhưng các em lại không thường xuyên
luyện tập.
- Để đánh giá, nắm bắt phương pháp tự học thực hành môn học GDQP AN của học sinh chúng tôi đưa ra câu hỏi:
17
Câu 3: Em thƣờng học nội dung thực hành ném lựu đạn theo phƣơng
pháp nào?
A. Nhìn thầy, cô làm động tác mẫu và làm theo.
B. Làm chậm từng cử động, sau đó làm toàn bộ động tác.
C. Luyện tập theo sự hướng dẫn của thầy cô.
Kết quả thu được như sau:
TT
Tên lớp
Tổng số
Kết quả
phiếu
A (%)
hỏi:
Câu 4: Em cho biết động tác đứng ném lựu đạn có mấy cử động?
A. 2 cử động
B. 3 cử động
C. 4 cử động
Kết quả thu được như sau:
18
Tên lớp
TT
Kết quả
Tổng số
phiếu
1 TC điện K48
700
2 TC HCVT K48
700
A (%)
B (%)
giảng dạy thực hành. Tổ chức duy trì luyện tập, kiểm tra, theo dõi uốn nắn và
sửa tập không thường xuyên. Phương pháp giảng dạy nội dung thực hành, giáo
viên làm mẫu một lần, sau đó tổ chức cho sinh viên tập theo một cách máy móc.
Do vậy sinh viên không hiểu được bản chất của động tác để hình thành kỹ thuật
thực hành cho riêng mình.
Do số lượng giảng viên giảng dạy môn GDQP - AN còn thiếu, khi dạy –
học nội dung GDQP - AN giảng viên thường ghép lớp học với số lượng
sinh viên quá đông, một giáo viên đảm nhiệm 4 đến 6 lớp (Mỗi lớp 45
đến 50 sinh viên) dẫn đến quản lý lớp học, giảng dạy không tránh khỏi những
thiếu sót.
Chúng ta có thể dễ dàng nhìn thấy thực tế ở các trường CĐ chuyên
nghiệp khi học điều lệnh đội ngũ, cả khối trung cấp hoặc cao đẳng chỉ bố trí 1
đến 2 giảng viên phụ trách giảng dạy, do học tập trung nên mỗi giảng viên phải
đảm nhiệm tổ chức quản lý 4 đến 5 lớp học. Do đó sinh viên khó quan sát động
tác mẫu của giảng viên, ngược lại giảng viên khó phát hiện ra những động tác
sai của sinh viên. Dẫn đến chất lượng luyện tập thực hành yếu cho nên kỹ thuật
thực hành của các em còn hạn chế.
2.3. Điều kiện cơ sở vật chất đảm bảo cho dạy - học thực hành môn
GDQP - AN
2.3.1. Thao trường, bãi tập
Trong thực tế hiện nay một số trường có sân tập rộng, bảo đảm đủ điều
kiện cho việc tổ chức học tập của sinh viên có nhiều thuận lợi. Giảng viên có thể
cho cả lớp tập luyện theo kế hoạch bài giảng trên địa hình sân để hình thành kỹ
thuật động tác, mà không xảy ra hiện tượng người học, người nghỉ chỉ vì không
đủ diện tích của bãi tập để học. Xong bên cạnh đó còn rất nhiều thao trường, bãi
tập của các trường chưa đảm bảo với nội dung học thực hành, chưa đúng, chưa đủ
kích thước, cả khối học trên một bãi tập với nhiều nội dung thực hành khác nhau,
kỹ thuật sử dụng lựu đạn. Sinh viên tập trung theo dõi bài giảng, có hứng thú
trong học tập, tích cực, tự giác tập luyện và thực hiện tốt các nội dung cơ bản
trong bài.
Trong quá trình giảng dạy sau khi giáo viên đưa ra một số câu hỏi kiểm
tra nhận thức và thực hành động tác của sinh viên thì nhận thấy các em trả lời
các câu hỏi chính xác, các động tác thực hành chuẩn xác. Chứng tỏ các em đã
hiểu và nắm rõ nội dung của bài, biết ứng dụng lý thuyết và thực hành.
Cụ thể trong kỹ thuật sử dụng lựu đạn:
+ Sinh viên đã biết vận dụng và thực hiện các kỹ thuật động tác cơ bản
trong thực hành ném lựu đạn.
+ Sinh viên đã có nhận thức nhanh và đúng đắn các kỹ thuật thực hành.
- Quá trình học tập:
22
+ Đối với giảng viên giảng dạy: Trong quá trình giảng dạy người giáo
viên đã làm tốt công tác chuẩn bị như: Soạn giáo án, thục luyện giáo án,chuẩn bị
vật chất giảng dạy. Muốn đạt được kết quả cao trong giảng dạy thì đây là một
yếu tố không thể thiếu trong quá trình giảng dạy.
Mặt khác, trong quá trình giảng dạy giảng viên đã phân loại từng đối tượng
học song để có công tác tổ chức và phương pháp giảng dạy thích hợp như: Phương
pháp thuyết trình, diễn giải. Trong khi làm mẫu động tác thì chính xác. Đây là một
yếu tố quan trọng giúp học sinh tiếp thu nhanh chóng, thuận lợi cho việc tổ chức
luyện tập, nhất là việc hình thành kỹ thuật thực hành.
+ Đối với người học: Trong khi giảng dạy giảng viên đã dùng biện pháp
chia nhỏ, xoay vòng đổi tập, học mới ôn cũ. Trên cơ sở đó đánh giá từng đối
tượng học tập, từ đó phân loại sinh viên để giảng dạy giúp cho các em tiếp thu
được các kiến thức cơ bản nhất và nâng cao được khả năng vận dụng tư thế động
tác ném lựu đạn trên thao trường.
cho thuần thục, theo dõi thời gian và rút kinh nghiệm sau mỗi lần giảng thử.
Về giáo án: Giảng viên cần thông qua giáo án trước cấp trên hoặc tổ bộ
môn. Nội dung thông qua do cấp trên quy định có thể là thông qua toàn bộ bài
hay thông qua một hoặc hai nội dung giảng dạy. Đặc biệt phải thông qua phần
nội dung trọng tâm và phần hướng dẫn tổ chức tập luyện cho người học. Kết
thúc buổi thông qua, người được thông qua phải nắm chắc ý kiến kết luận của
cấp trên để bổ sung hoàn chỉnh bài giảng của mình.
3.2.2.3. Chuẩn bị vật chất giảng dạy, bồi dưỡng người phục vụ làm mẫu
- Chuẩn bị vật chất.
24
- Bồi dưỡng người phục vụ làm mẫu:
Giáo viên bồi dưỡng người phục vụ về kỹ thuật động tác, nội dung, yêu
cầu, tổ chức và phương pháp buổi tập sắp tới.
Người phụ trách là người đắc lực giúp giảng viên thực hiện giảng dạy
thành công khi lớp được chia thành nhiều tổ học tập. Ngoài việc bồi dưỡng nội
dung người phục vụ, người phụ trách còn phải nắm được thứ tự tập luyện, đội
hình tập, vị trí chỉ huy, vị trí của từng nhóm, cách luân phiên tập luyện.
3.2.3. Thực hành giảng dạy bài kỹ thuật sử dụng lựu đạn
3.2.3.1. Thủ tục giảng dạy:
- Kiểm tra thao trường (bãi tập) trước khi giảng dạy;
- Kiểm tra quân số;
- Kiểm tra trang bị vật chất;
- Phổ biến nội dung về thao trường (bãi tập);
- Kiểm tra bài cũ;
- Nêu tên bài: Kỹ thuật sử dụng lựu đạn.
3.2.3.2. Thực hành giảng dạy
* Phổ biến nội dung yêu cầu tiết học.