BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
VÕ VIỆT XUÂN
NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC, HÀNH VI
VỀ DỰ PHÒNG TẬT KHÚC XẠ CỦA
HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
QUẬN THỐT NỐT
NĂM 2012
LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA CẤP I
CẦN THƠ, 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
VÕ VIỆT XUÂN
NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC, HÀNH VI
VỀ DỰ PHÒNG TẬT KHÚC XẠ CỦA
HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
QUẬN THỐT NỐT
Tổ chức phi chính phủ quốc tế
TƯ
Trung ương
TKX
Tật khúc xạ
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thong
Tp.HCM
Thành phố Hồ Chí Minh
TTT
Thuỷ tinh thể
TV
Tivi
1.3. Các phương pháp điều chỉnh ................................................................ 8
1.4. Phòng tránh tật khúc xạ và chăm sóc mắt ............................................. 8
1.5. Tổng quan tình hình tật khúc xạ ........................................................... 9
1.5.1. Tình hình tật khúc xạ trên thế giới..................................................... 9
1.5.2. Tình hình tật khúc xạ tại Việt Nam.................................................. 11
1.6. Các nghiên cứu về tật khúc xạ............................................................ 14
1.6.1. Các nghiên cứu về tật khúc xạ trên thế giới.................................. 14
1.6.2. Các nghiên cứu về tật khúc xạ ở Việt Nam .................................. 21
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.............. 29
2.1. Đối tượng nghiên cứu......................................................................... 29
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu .................................................................. 29
2.1.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ................................................ 29
2.1.3. Tiêu chuẩn chọn vào .................................................................... 29
2.2. Phương pháp nghiên cứu.................................................................... 29
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu ..................................................................... 29
2.2.2. Cỡ mẫu ........................................................................................ 29
2.2.3. Phương pháp chọn mẫu................................................................ 30
iii
2.3. Xử lý và phân tích số liệu................................................................... 34
2.4. Đạo đức trong nghiên cứu .................................................................. 35
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ...................................................... 36
3.1. Đặc tính mẫu nghiên cứu.................................................................... 36
3.1.1. Đặc tính chung............................................................................. 36
3.1.2. Tình hình mắc tật khúc xạ............................................................ 38
3.2. Kiến thức về các yếu tố nguy cơ chính của tật khúc xạ....................... 43
3.2.1. Biết về các yếu tố nguy cơ chính của tật khúc xạ ......................... 43
3.2.2. Các nguồn thông tin cung cấp kiến thức về phòng ngừa tật khúc xạ
Bảng 3.9. Thời điểm bị tật khúc xạ............................................................... 41
Bảng 3.10. Số năm trẻ bị tật khúc xạ ............................................................ 42
Bảng 3.11. Gia đình có người bị tật khúc xạ................................................. 42
Bảng 3.12. Biết về nguyên nhân của tật khúc xạ........................................... 43
Bảng 3.13. Các nguồn thông tin cung cấp .................................................... 44
Bảng 3.14. Tỷ lệ học sinh được cha mẹ nhắc nhở phòng ngừa tật khúc xạ ... 44
Bảng 3.15. Kiến thức về tật khúc xạ có thể phòng ngừa .............................. 45
Bảng 3.16. Thái độ về lo sợ sẽ bị tật khúc xạ............................................... 45
Bảng 3.17. Tâm lý của học sinh khi đã mắc tật khúc xạ ............................... 46
Bảng 3.18. Đọc sách báo nơi thiếu ánh sáng................................................. 46
Bảng 3.19. Nằm hay quỳ để đọc sách, viết bài ............................................. 47
Bảng 3.20. Có chú ý giữ khoảng cách giữa mắt và sách vở không quá gần khi
đọc ............................................................................................................... 47
Bảng 3.21. Có chú ý giữ khoảng cách giữa mắt và tivi, màn hình vi tính khi
xem .............................................................................................................. 48
v
Bảng 3.22. Thời gian đọc sách, truyện, sử dụng máy vi tính liên tục không
nghỉ .............................................................................................................. 48
Bảng 3.23. Học sinh bị mắc tật khúc xạ phải đeo kính những lúc nào .......... 49
Bảng 3.24. Học sinh đã bị mắc tật khúc xạ mới khám mắt < 1 năm.............. 49
Bảng 3.25. Mối liên quan giữa tật cận thị với các đặc tính của mẫu ............. 51
Bảng 3.26. Mối liên quan giữa thực hành dự phòng với tật khúc xạ ............. 52
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
khúc xạ ở các bậc học tăng khoảng 2 lần. Cá biệt ở các trường chuyên, lớp
chọn tỷ lệ học sinh bị cận thị xấp xỉ 60%. Ở các địa phương khác, tỷ lệ học
sinh bị cận thị cũng rất cao. Nghiên cứu của BV Mắt Tp. HCM năm 2006 cho
thấy, tỷ lệ mắc tật khúc xạ của học sinh thành phố là 38,8%. Nghiên cứu của
Đại học Y Thái Nguyên năm 2007 cho thấy tỷ lệ mắc là 11,52%. Năm 2008,
BV Mắt TƯ đã điều tra về tật khúc xạ ở học sinh phổ thông ở 3 tỉnh Hà Tĩnh,
Hải Phòng, Đà Nẵng cho thấy, tỷ lệ mắc ở học sinh là 26,4%. Trong đó, tiểu
học là 18,67%, THCS là 23,47%, THPT là 32,68%, tỷ lệ tật khúc xạ ở học
sinh thành thị là 26,9%, nông thôn là 14,4% [12].
Qua đó, cho thấy tỷ lệ học sinh nhất là các em ở lứa tuổi trung học cơ
sở mắc tật khúc xạ cao, có nơi đến 78% (theo nghiên cứu ở trường THCS
Amsterdam). Tỷ lệ chung học sinh mắc tật khúc xạ là 40% [27].
Vì vậy, chúng tôi đặt câu hỏi tỷ lệ thực tế mắc tật khúc xạ của học sinh
THCS tại quận Thốt Nốt như thế nào? Và các yếu tố nào liên quan đến kiến
thức của học sinh về tật khúc xạ? Và chưa có một nghiên cứu nào về mức độ
hiểu biết của học sinh đối với tật khúc xạ tại quận Thốt Nốt.
Do đó, tôi chọn vấn đề sức khoẻ của địa phương: “Nghiên cứu kiến
thức, hành vi về dự phòng tật khúc xạ của học sinh trung học cơ sở quận
Thốt Nốt” nhằm các mục tiêu:
1. Xác định tỷ lệ học sinh trung học cơ sở bị tật khúc xạ tại quận Thốt
Nốt;
2. Khảo sát kiến thức, thái độ, hành vi và một số yếu tố liên quan về dự
phòng tật khúc xạ ở học sinh trung học cơ sở quận Thốt Nốt .
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
thị nặng sẽ có nguy cơ mắc nhiều biến chứng như vẩn đục dịch kính (mắt nhìn
thấy nhiều vật lơ lửng như ruồi bay trước mắt) hoặc bong võng mạc gây mù.
Do vậy, người bị cận thị cần đi khám bác sỹ mắt định kỳ để theo dõi các thay
đổi ở võng mạc mắt cận. Nếu đã bị bong võng mạc, cần phải được điều trị càng
sớm càng tốt bằng phẫu thuật ở các trung tâm nhãn khoa lớn trong nước.
Để chỉnh tật cận thị, ta có thể dùng kính phân kỳ (kính --) hoặc phẫu
thuật trên giác mạc. Để phòng cận thị mắc phải, cần chú ý không đọc sách
hoặc làm việc bằng mắt ở khoảng cách gần (chơi máy tính , xem ti vi…) liên
tục quá lâu, quá nhiều ngày. Tốt nhất cứ sau 1 giờ đọc sách hoặc làm việc với
máy tính, cần nghỉ ngơi 5-10 phút bằng cách làm các việc khác không cần
dùng mắt ở khoảng cách gần, hoặc xoa nhẹ lên mắt qua da mi nhiều lần. Cần
đảm bảo đủ ánh sáng cho các cháu ở bàn học (có đèn bàn) và ánh sáng trên
lớp học (bảng cần có đèn chiếu sáng, bảng phải bôi đen viết phấn trắng hoặc
bảng trắng viết bút dạ xanh, đen). Tư thế khi ngồi học (ngồi thẳng lưng, ngay
ngắn, không cúi sát xuống bàn) cũng cần được các bậc phụ huynh học sinh và
các thầy cô giáo chú ý để nhắc nhở các cháu luôn thực hiện đúng.
1.1.2.2. Viễn thị
Mắt viễn thị là mắt có trục trước sau ngắn hơn bình thường hoặc có lực
khuất triết quá yếu, do đó các tia sáng sau khi bị khuất triết sẽ hội tụ ở sau
võng mạc, vì vậy ảnh hiện trên võng mạc bị mờ không rõ nét. Mắt viễn thị
không thể nhìn rõ các vật ở gần như khi ta đọc sách chẳng hạn. Để cố gắng
nhìn rõ vật, mắt viễn thị luôn phải điều tiết để đưa ảnh rơi trên võng mạc. do
điìeu tiết liên tục, mắt viễn thị bị mệt mỏi, đau đầu , nhức mát và hay chảy
nước mắt.
6
Giống như cận thị, viễn thị thường do di truyền. Trẻ mới đẻ và trẻ em
nhỏ tuổi thường có xu hướng bị viễn thị nhẹ. Khi trẻ lớn lên, con mắt cũng
- Loạn thị thuận (theo quy tắc) : khi trục khuất triết mạnh hơn là trục
đứng 900.
- Loạn thị nghịch (không quy tắc) : khi trục khuất triết mạnh hơn là trục
ngang 1800.
- Loạn thị chéo: khi trục khuất triết mạnh hơn là trục chéo từ 450 đến
1350.
Tuỳ theo tính chất , loạn thị có thể chia thành loạn thị đơn thuần (viễn
hoặc cận), loạn thị kép (viễn hoặc cận) hoặc loạn thị hỗn hợp (khi 1 trục là
cận, còn trục kia lại là viễn)
Để chỉnh tật loạn thị, ta dùng kính trụ để đưa ảnh về hội tụ trên võng
mạc theo từng trục bị loạn.
1.1.2.4. Lệch khúc xạ
Lệch khúc xạ là hiện tượng có sự khác nhau về khúc xạ giữa hai mắt,
có thể là một mắt cận còn mắt kia viễn hoặc cả hai mắt cùng cận hay cùng
viễn nhưng khác nhau về mức độ. Đôi khi là một mắt chính thị còn mắt kia là
cận thị đơn thuần, viễn thị đơn thuần hay cận loạn hoặc là viễn loạn.
1.2. Nguyên nhân và biểu hiện của tật khúc xạ
Có 2 nhóm nguyên nhân chính gây TKX là bẩm sinh và mắc phải.
Nguyên nhân bẩm sinh thường do yếu tố di truyền, yếu tố gia đình và giống
người. Nguyên nhân mắc phải thường do quá trình học tập, làm việc và các
thói quen không hợp lý như: Tư thế ngồi sai, điều kiện ánh sáng, bàn ghế
không phù hợp, thói quen đọc sách, chơi điện tử, xem TV, sử dụng vi tính
không hợp lý,…
Biểu hiện chủ yếu của tật khúc xạ là nhìn mờ. Cận thị thì giảm thị lực
khi nhìn xa, viễn thị và loạn thị thì cả nhìn xa và gần đều mờ. Ngoài ra còn có
8
các triệu chứng khác như mỏi mắt, nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn, viết chữ
hai chân khép để trên nền nhà, đầu cúi 10 – 15 độ. Cần bố trí chiều cao bàn
ghế phù hợp để khoảng cách từ mắt đến sách vở là 25cm với cấp tiểu học,
30cm với cấp THCS và 35cm với học sinh THPT.
Chữ viết trên bảng và trong tập vở phải rõ nét, không viết mực đỏ, mực
xanh lá cây, không đọc sách in chữ quá nhỏ, in trên giấy vàng, giấy đen.
Phải có chế độ học tập và vui chơi ngoài trời hợp lý để mắt được nghỉ
ngơi và điều tiết giữa nhìn gần và xa. Khi học cứ 1 giờ phải nghỉ 10 – 15
phút. Khi xem TV, chơi điện tử không quá 60 phút mỗi lần, không ngồi quá
gần sẽ ảnh hưởng tới mắt.
1.5. Tổng quan tình hình tật khúc xạ
1.5.1. Tình hình tật khúc xạ trên thế giới
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, hiện nay có khoảng 2,3 tỷ người trên thế
giới có tật khúc xạ, trong đó chỉ 1,8 tỷ người trong số này được chỉnh kính.
Số còn lại, khoảng 153 triệu người đang bị mù hoặc loà do tật khúc xạ, chủ
yếu sống ở các nước đang phát triển (1/3 ở châu Phi) và nhiều trẻ em cũng
không được chỉnh kính [3].
Châu Á là nơi có tỷ lệ mắc tật khúc xạ cao nhất thế giới và có xu hướng
gia tăng trong những năm gần đây. Ước tính riêng ở Trung Quốc có đến 300
triệu người có tật khúc xạ [3].
Tỷ trọng gây mù do tật khúc xạ rất khác nhau ở các nước, cao tới 8,2%
ở Hàn Quốc, 14% ở Đài Loan, 12,1% ở Hồng Kông, 22,4% ở Phi-lip-pin,
nhưng lại thấp chỉ 1- 4% như ở Việt Nam, Thái Lan, Indonesia, Malaysia [3].
Mới đây, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Tổ chức Quốc tế về Phòng
chống mù lòa (IAPB) đã nhất trí xác định tật khúc xạ chưa được chỉnh kính đã
và đang là một nguyên nhân đáng kể gây mù và là nguyên nhân chủ yếu gây
giảm thị lực. Do đó, vấn đề tật khúc xạ chưa được chỉnh kính đã được nghiên
cứu xem xét nghiêm túc để đưa vào chương trình Phòng chống mù lòa nhằm
10
11
1.5.2. Tình hình tật khúc xạ tại Việt Nam
Tại Việt Nam, nhu cầu sử dụng thị lực nhìn gần trong học tập và sinh
hoạt trong cuộc sống hiện đại ngày càng tăng cao nên tỷ lệ tật khúc xạ cũng
có chiều hướng tăng theo. Một số nghiên cứu tại Ninh Bình (1997), Nam
Định (1998), TPHCM (2003), Hà Nội (2008) cho thấy tỷ lệ tật khúc xạ ở học
sinh các cấp học ở nông thôn khoảng từ 8,0 đến 15,1%, ở thành phố khoảng
25 – 35%.
Bảng 1.1: Phân loại về tật khúc xạ của Tổ chức Y tế thế giới [1]
Phân loại
Nhẹ
Vừa
Nặng
Tật khúc xạ
Cận thị
≤- 0,75D
- 1,00D đến - 2,75D
> -3,00D
Viễn thị
≤ +2,75D
+3,0D đến + 4,75D
> +5,00D
Loạn thị
≤ 0,75D
1,00D đến 2,75D
> +/- 3,00D
Thái độ xử trí Không cần kính
Đeo kính
Đeo kính
1-14 tuổi và phát hiện ra 13.558 trẻ mắc tật khúc xạ cần được chỉnh kính,
chiếm 35,5%. Quá trình khám cho thấy, hơn 30% các em bị cận, 32% bị lệch
khúc xạ và các loại tật khác. Chỉ có khoảng 20% các em bị tật khúc xạ do yếu
tố di truyền, còn hơn 80% là do lối sống tuỳ tiện, khiến mắt làm việc quá tải
như: Chơi game, xem ti vi nhiều và không đúng cự ly, học tập nhiều, hiệu số
bàn ghế và ánh sáng không chuẩn,…[13]
Theo nghiên cứu năm 2006 tại Trường THCS Amsterdam, có tới 78%
học sinh bị tật khúc xạ và đa phần các em đều không được đeo kính để điều
chỉnh. Các em học càng nhiều càng dễ bị cận [13].
Theo hội thảo “Mắt sáng học đường” do báo điện tử Giáo dục Việt
Nam tổ chức vào sáng nay (24 – 12), tại Hà Nội báo cáo có 70% học sinh
phát hiện mắc các bệnh về mắt, trong đó có 53% học sinh bị mắc cận thị, 17%
học sinh bị loạn thị và tình trạng cận thị có chiều hướng gia tăng. Nguyên
nhân là do học tập căng thẳng, sự tiếp cận các phương tiện thông tin đại
chúng chưa đúng cách như sử dụng internet và truyện tranh,…
13
Lê Thị Thanh Xuyên và cộng sự bệnh viện Mắt TP.HCM thực hiện
được công bố tại buổi tổng kết hoạt động chương trình Mắt học đường ngày
4/9 có 40% học sinh bị tật khúc xạ học đường. Theo khảo sát này, tỷ lệ cận thị
gia tăng theo cấp học, vùng trung tâm thành phố có tỷ lệ cận thị cao hơn so
với các vùng cận trung tâm, vùng ven và ngoại thành. Tỷ lệ tật khúc xạ nói
chung trong học sinh là 39,36%, tăng đến mức báo động so với khảo sát năm
2002 (25,3%), trong đó cận thị là 38,88% (năm 2002 là 17,2%). Khảo sát
cũng cho thấy chỉ có 16,6% học sinh có kiến thức tốt về tật khúc xạ, 64,4% có
kiến thức trung bình và 13,3% yếu kiến thức. Thái độ, hành vi của học sinh về
tật khúc xạ cũng còn thấp. Trong số các em bị tật khúc xạ, có 67,16% số em
đeo kính, trong đó 74% các em có thị lực với kính trên 6/10 [27].
các trung tâm lớn, có uy tín để được khám, phát hiện đúng loại tật khúc xạ và
cấp đơn kính đúng số [7].
1.6. Các nghiên cứu về tật khúc xạ
1.6.1. Các nghiên cứu về tật khúc xạ trên thế giới
Matthew Wensor và cộng sự (1999) qua nghiên cứu ở tiểu bang
Victoria, Úc cho thấy: Tỷ lệ cận thị giảm từ 24% ở những người tuổi từ 40-49
xuống còn 12% ở những người độ tuổi 70-79, và sau đó tăng lên 17% ở
những người lớn tuổi hơn 80 tuổi. Cận thị có mối liên quan có ý nghĩa với
trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi sinh, và độ mờ đục hạt nhân [45].
Pik Pin Goh và cộng sự (2004) qua nghiên cứu tật khúc xạ ở trẻ em của
quận Gombak, Malaysia cho thấy: Vấn đề giảm thị lực ở mắt, thì nguyên
nhân do tật khúc xạ chiếm 87%, giảm thị lực 2,0%, nguyên nhân khác 0,6%,
nguyên nhân không giải thích được là 10,4%, chủ yếu nghi nghờ là giảm thị
lực. Cận thị (hình cầu tương đương ít nhất – 0,50 diop ở cả 2 mắt) tìm thấy ở
9,8% trẻ em 7 tuổi và tăng lên 34,4% ở trẻ em 15 tuổi. Cận thị có liên quan
với giới tính nữ, tuổi, trình độ học vấn của cha mẹ, dân tộc ở Trung Quốc.
15
Loạn thị (0,75 diop) tìm thấy ở 15,7% trẻ em. Qua đó kết luận, thị giác suy
giảm trong tuổi đi học ở trẻ em ở quận Gombak là yếu tố gây ra cận thị, ới tỷ
lệ đặc biệt cao ở trẻ em là dân tộc Trung Quốc. Giáo dục sức khỏe maắt à
khám sàng lọc có thể giúp giải quyết tình trạng tật khúc xạ [33].
Theo nghiên cứu tỷ lệ bệnh mắt của nhóm nghiên cứu (2004) qua
nghiên cứu “Tỷ lệ lỗi khúc xạ của người lớn ở Hoa Kỳ, Tây Âu và Úc” cho
thấy: 1/3 số người từ 40 tuổi trở lên ở Hoa Kỳ và Tây Âu bị ảnh hưởng bởi tật
khúc xạ, và tỷ lệ là 1/5 cho cùng nhóm đối tượng này ở Úc [34].
S-M Saw và cộng sự (2004) qua nghiên cứu tật khúc xạ ở trẻ nhỏ với
việc hút thuốc của cha mẹ cho thấy: Có 434 người cha (33,3%) và 23 bà mẹ
0,001). Rút ra kết luận, kết quả cho thấy rằng sự phổ biến và tiến triển của cận
thị ở trẻ em Hồng Kông cao hơn nhiều so với những báo cáo trước đây ở các
nước phương Tây. Kinh tế xã hội tác động lâu dài của những phát hiện này
bảo đảm nghiên cứu sâu hơn [32].
Seang-Mei Saw và cộng sự (2005) qua nghiên cứu tỷ lệ mắc bệnh và
tiến triển của cận thị của trẻ em ở Singapore cho thấy: tỷ lệ tích lũy của 3 năm
là 47,7% (CI 95%: 42,2 – 53,3), 38,4% (CI 95%: 31,4 – 45,4), và 32,4% (CI
95%: 21,8 – 43,1) tương ứng với trẻ 7, 8 và 9 tuổi. Ở Trung Quốc tỷ lệ tích
lũy 3 năm là (49,5% so với 27,2%), và so sánh trẻ 7 tuổi và trẻ 9 tuổi lúc ban
đầu (47,7% so với 32,4%), tuy nhiên mối quan hệ sau này có ý nghĩa sau khi
điều chỉnh giới tính, chủng tộc, số lượng đọc sách (sách/tuần), và cha mẹ cận
thị (p = 0,057). Trẻ em với độ dài lớn hơn trục, độ sâu khoang thủy tinh thể,
và ống kính mỏng hơn dễ bị sự phát triển của cận thị, sau khi kiểm soát tuổi,
giới tính, chủng tộc, đọc sách, và cha mẹ cận thị. 3 năm có nghĩa là tỷ lệ cận
thị tiến triển tích lũy là – ,40 D (CI 95%: – 2,57 đến – 2,22) ở trẻ em 7 tuổi bị
cận thị, – 1,97 (CI 95%: – 2,16 đến – 1,78) ở trẻ em 8 tuổi, và – 1,71 (CI
95%: – 1,98 đến –1,44) ở trẻ em 9 tuổi. Từ đó rút ra kết luận, cả hai tỷ lệ mắc
và tỷ lệ tiến triển của cận thị ở trẻ em Singapore là cao [43].
17
Aaron M. Castanon Holguin và cộng sự (2006) qua nghiên cứu với đối
tượng là trẻ em 5 đến 18 tuổi người Mêhicô cho thấy: Tuân thủ sử dụng thấu
kính có thể là rất thấp, ngay cả khi kính được cung cấp miễn phí, đặc biệt ở
lứa lớn tuổi, trẻ em thành thị và những người ở trong quần thể có tỷ lệ mắc tật
cận thị cao nhất.Khi chương trình sàng lọc tật khúc xạ ngày càng trở nên phổ
biến trên toàn thế giới, chiến lược mới là điều cần thiết để cải thiện sự tuân
thủ nếu nguồn lực của chương trình là tối đa [35].
Ishfaq Ahmed và cộng sự (2008) qua nghiên cứu tỷ lệ mắc cận thị ở
mặc dù chấp nhận là 50%, thậm chí ở trẻ em với thị lực kém. Sự chấp nhận có
thể được cải thiện bằng cách giảm giá, giáo dục cho thấy rằng kính sẽ không
làm tổn hại đến mắt, và tập trung can thiệp cha mẹ [38].
Jeffrey J. Walline và cộng sự (2008) qua nghiên cứu thử nghiệm ngẫu
nhiên ảnh hưởng của kính áp tròng mềm với sự tiến triển cận thị ở trẻ em, cho
thấy: Có một sự tương tác có ý nghĩa thống kê được giữa thời gian và điều trị
cho sự tiến triển cận thị (p = 0,002); tỷ lệ trung bình của sự thay đổi là 0,06
D/năm. Sau 3 năm, điều chỉnh sự khác biệt giữa những người đeo kính áp
tròng và những người đeo kính không có ý nghĩa thống kê. Không có sự khác
biệt giữa hai nhóm điều trị đối với thay đổi trong chiều dài trục (ANCOVA, p
= 0,37) hoặc thay đổi độ cong giác mạc (ANCOVA, p = 0,72). Rút ra kết
luận, những dữ liệu này cung cấp bảo đảm với các học viên chăm sóc mắt có
liên quan với hiện tượng hao mòn thấu kính "gia tăng cận thị" ở trẻ en. Không
gây ra một sự gia tăng chiều dài trục, độ cong giác mạc, cận thị so với mặc
ống kính cảnh lâm sàng có liên quan [44].
Jenny M. Ip và cộng sự (2008) với nghiên cứu ở trẻ em ở Úc cho thấy:
Mặc dù cận thị không liên quan đáng kể với thời gian trong công việc gần sau
khi điều chỉnh các yếu tố khác, có những hiệp hội có ý nghĩa độc lập với
khoảng cách đọc và đọc sách chặt chẽ liên tục. Các hiệp hội này có thể chỉ ra