CHUYÊN ĐỀ MÔN TẬP LÀM VĂN
ĐỀ TÀI:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI
PHƯƠNG PHÁP DẠY
MÔN TẬP LÀM VĂN MIÊU TẢ Ở LỚP 4
Năm học 2015 - 2016
I.
ĐẶT VẤN ĐỀ :
- Như chúng ta đã biết, hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt:
nghe, nói, đọc, viết để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi, thông
qua việc dạy và học Tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy.
- Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về
xã hội, tự nhiên, con người, về văn hóa, văn học Việt Nam và nước ngoài.
- Học Tiếng Việt, học sinh được trang bị những kiến thức cơ bản và tối thiểu cần thiết giúp các
em hòa nhập với cộng đồng và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội. Cùng với môn
Toán và một số môn khác, những kiến thức của môn Tiếng Việt sẽ là những hành trang trên
bước đường đưa các em đi khám phá, tìm hiểu, nghiên cứu thế giới xung quanh và kho tàng tri
thức vô tận của loài người. Trong đó phân môn Tập làm văn là phân môn thực hành, tổng hợp
của tất cả các phân môn thuộc môn Tiếng Việt (tập đọc, luyện từ và câu, chính tả, kể chuyện).
Chính vì thế, việc dạy và học Tập làm văn là vấn đề luôn cần có sự đổi mới. Không thể cứ áp
dụng mãi phương pháp học hôm qua vào hôm nay và mai sau.
- Đổi mới việc dạy cũng thế, trong việc thừa kế cái cũ, cái vốn có đòi hỏi phải là một sự sáng
tạo. Với các phân môn khác của Tiếng Việt trong việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy
học chỉ rõ quy trình các bước lên lớp rất cụ thể rõ ràng. Còn với phân môn Tập làm văn, các
nhà nghiên cứu chỉ đưa ra quy trình chung nhất cho mỗi loại bài, chủ yếu vẫn là sự sáng tạo
2. Chương trình Tập làm văn lớp 4:
Gồm 68 tiết, trong đó văn miêu tả chiếm 38 tiết gồm các mảng kiến thức sau:
- Thế nào là miêu tả?
- Quan sát để miêu tả cho sinh động.
- Trình tự miêu tả (từ bao quát đến cụ thể, từ xa đến gần, từ ngoài vào trong, …)
- Cấu tạo đoạn văn, bài văn miêu tả (Người, cảnh, đồ vật, con vật, cây cối)
Các kiến thức trên được cụ thể hóa thành hai loại bài. Đó là, loại bài hình thành kiến thức và
loại bài luyện tập thực hành.
3. Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học văn miêu tả lớp 4.
3.1- Người giáo viên phải nắm chắc đặc điểm tâm lý của học sinh để từ đó tìm ra hướng
đi đúng, tìm ra những phương pháp phù hợp khi lên lớp:
Chúng ta đã biết, tâm lý chung của học sinh Tiểu học là luôn muốn khám phá, tìm hiểu những
điều mới mẻ. Từ đó hình thành và rèn luyện cho các em quan sát, cách tư duy về đối tượng
miêu tả một cách bao quát, toàn diện và cụ thể tức là quan sát sự vật hiện tượng về nhiều khía
cạnh, nhiều góc độ khác nhau, từ đó các em có cách cảm, cách nghĩa sâu sắc khi miêu tả.
Ở tuổi học sinh Tiểu học từ hình thức đến tâm hồn, mọi cái mới chỉ là sự bắt đầu của một quá
trình. Do đó những tri thức để các em tiếp thu được phải được sắp xếp theo một trình tự nhất
định. Trí tưởng tượng càng phong phú bao nhiêu thì việc làm văn miêu tả sẽ càng thuận lợi
bấy nhiêu.
Văn miêu tả là loại văn thuộc phong cách nghệ thuật đòi hỏi viết bài phải giàu cảm xúc, tạo
nên cái "hồn" chất văn của bài làm. Muốn vậy giáo viên phải luôn luôn nuôi dưỡng ở các em
tâm hồn trong sáng, cái nhìn hồn nhiên, một tấm lòng dễ xúc động và luôn hướng tới cái thiện.
3.2- Cần giúp học sinh hiểu rõ những đặc điểm cơ bản của văn miêu tả ngay từ tiết đầu
tiên của thể loại bài này.
Văn miêu tả mang tính chất thông báo thẩm mỹ, dù miêu tả bất kỳ đối tượng nào, dù có bám
sát thực tế đến đâu thì miêu tả cũng không bao giờ là sự sao chép, chụp ảnh lại những sự vật
hiện tượng một cách máy móc mà là kết quả của sự nhận xét, tưởng tượng, đánh giá hết sức
phong phú. Đó là sự miêu tả thể hiện được cái riêng biệt của mỗi người.
Nhà văn Phạm Hổ cho rằng: "Cái riêng, cái mới trong văn miêu tả phải gắn với cái chân thật".
Văn miêu tả không hạn chế sự tưởng tượng, không ngăn cản sự sáng tạo của ngườu viết nhưng
- Lúc chú ngồi, hai chân sau xếp lại, hai chân trước chống lên, đăm chiêu nhìn và nghe
ngóng, cái đuôi mềm mại, phe phẩy như làm duyên.
- Cái đuôi dài trắng điểm đen phe phất thướt tha cùng với tấm thân thon dài mềm mại,
uyển chuyển trông thật đáng yêu.
Như vậy cùng là miêu tả về cái đuôi của chú mèo nhưng những câu văn sử dụng biện pháp so
sánh, nhân hóa, có dùng những từ gợi tả, gợi cảm như các câu trên thì hiệu quả khác hẳn, ta
thấy miêu tả như vậy vừa sinh động, tinh tế vừa rất tình cảm và sẽ cuốn hút người đọc, người
nghe.
3.4- Tập làm văn và phân môn thực hành, tổng hợp tất cả những phân môn thuộc môn
Tiếng Việt, vì vậy muốn dạy tốt tập làm văn cần dạy tốt phân môn LTVC:
Ví dụ: Khi học về câu kể Ai là gì? học sinh hiểu tác dụng, cấu tạo của kiểu câu này, biết nhận
ra nó trong đoạn văn và từ đó học sinh biết đặt câu kể Ai là gì ? để giới thiệu hoặc nêu nhận
định về một con người, một vật:
Chích bông là con chim rất đáng yêu.
Hoa đào, hoa mai là bạn của mùa xuân.
Sầu riêng là loại trái quý của miền Nam.
4
- Nội dung của bài văn có hấp dẫn, có lôi cuốn được người đọc hay không một phần phụ thuộc
vào hình thức biểu hiện bên ngoài của nó, đó chính là chữ viết. Vì vậy muốn có bài văn hấp
dẫn thì giáo viên chú ý rèn kỹ năng viết cho học sinh trong các giờ chính tả. Chính tả giúp học
sinh viết đúng, viết nhanh, viết đẹp và trình bày rõ ràng, sạch sẽ.
- Nếu như tập đọc rèn kỹ năng cảm thụ cho học sinh, chính tả rèn kỹ năng viết cho học sinh thì
phân môn kể chuyện rèn kỹ năng nói hay cách nói khác là kỹ năng sản sinh văn bản dưới dạng
nói của học sinh. Kể chuyện vừa bồi dưỡng tình cảm, giúp học sinh biết quý trọng người tốt,
phê phán cái xấu, vừa giúp học sinh học tập cách miêu tả, cách diễn đạt trong mỗi câu chuyện.
Tóm lại các phân môn của Tiếng Việt tuy mỗi phân môn có nội dung riêng, phương pháp riêng
nhưng chúng không hoàn toàn độc lập với nhau mà luôn bổ sung cho nhau, kiến thức của phân
môn này hỗ trợ cho việc học những phân môn khác. Với phân môn Tập làm văn là phân môn
rận nào cả. Không biết mẹ dạy con Rô từ bao giờ mà nó biết đi vệ sinh vào một chỗ
phía sau nhà. Nó rất ý tứ. Mỗi khi có khách đến chơi nhà nó nằm im trên tấm đệm, đôi
tai vểnh lên nghe bố mẹ và khách nói chuyện. Khách đứng dậy ra về, con Rô cũng theo
bố mẹ đi ra cửa như để tiễn chân khách…
Các đoạn văn đưa ra cũng không nên quá dài hay quá ngắn vì nếu dài quá học sinh sẽ khó tiếp
thu, ngắn quá sẽ không đảm bảo nội dung. Đặc biệt đoạn văn phải được diễn đạt mạch lạc
đúng cấu trúc ngữ pháp, lời văn giản dị, câu văn giàu hình ảnh và phải mang tính mẫu mực cả
về nội dung và hình thức.
- Khi đưa ra các đoạn văn mẫu cần phải phân tích, đánh giá để học sinh thấy được cái hay, cái
đẹp trong từng đoạn văn, giúp học sinh nhận rõ nội dung miêu tả, sự khác biệt trong miêu tả và
nét đặc sắc trong hành văn.
Ví dụ: Đọc cho học sinh nghe đoạn văn "Những cánh bướm trên bờ sông" : "Ngoài giờ
học, chúng tôi tha thẩn ở bờ sông bắt bướm. Chao ôi, những con bướm đủ màu sắc, đủ
hình dáng. Con xanh biếc pha đen như nhung, bay nhanh loang loáng. Con vàng sẫm
nhiều hình mặt nguyệt, ven cánh có răng cưa, lượn lờ đờ như trôi trong nắng. Con
bướm quạ to bằng hai bàn tay người lớn, mầu nâu xỉn, có hình đôi mắt tròn, vẻ dữ tợn.
Bướm trắng bay theo đàn líu ríu như hoa nắng. Loại bướm nhỏ đen kịt, là là theo chiều
gió hệt như tàn than của những đám đốt hương…"
6
Phân tích: Đoạn văn ngắn gọn nhưng đã miêu tả khá sinh động vô số loài bướm. Hình
ảnh những chú bướm hiện lên qua con mắt của mấy cậu học trò vốn say mê với thiên
nhiên. Một từ tha thẩn miêu tả các cậu ra bờ sông bắt bướm, một từ chao ôi diễn tả
cảm xúc mạnh mẽ trong lòng các cậu đến bật thành tiếng kêu chứng tỏ sự kinh ngạc và
lòng say mê của các cậu học trò đến tột độ, tạo nền cho bài miêu tả, tạo nền cho hình
ảnh những cánh bướm xuất hiện. Liên tiếp sau đó, mỗi câu văn được tác giả dùng để
nói tới một con bướm. Mỗi con bướm lại tả bằng các tính từ, các hình ảnh so sánh gợi
tả vẻ đẹp đầy hấp dẫn: Đen như nhung, loang loáng, vàng sẫm, lượn lờ đờ như trôi
trong nắng, líu ríu như hoa nắng…Tác giả đã khéo chọn những hình ảnh mới mẻ, độc
đáng có trong thực hành viết văn và trong cả giao tiếp hàng ngày.
8- Chuẩn bị chu đáo kế hoạch bài học góp phần làm nên 50% sự thành công trong dạy
học:
Trong bất kỳ hoạt động nào việc chuẩn bị cũng hết sức quan trọng, chuẩn bị cũng chính là kế
hoạch cho công việc mình định làm, đó là việc làm đầu tiên, tất yếu của mỗi hoạt động. Soạn
bài là việc làm đầu tiên, tất yếu của người giáo viên, Bài soạn chính là bản kế hoạch của giờ
lên lớp, ngày nay được gọi là kế hoạch bài học.
7
Để có được kế hoạch bài học cụ thể, rõ ràng có chất lượng, có tác dụng thiết thực, đem lại hiệu
quả cao, người giáo viên phải huy động tối đa tất cả năng lực, phẩm chất của mình như năng
lực hiểu biết và chế biến tài liệu, năng lực hiểu học sinh, năng lực ngôn ngữ…lòng yêu nghề,
niềm tin sự nhiệt tình và lòng đam mê nghề nghiệp. Giáo án có chất lượng phải chuyển hoá
được những kiến thức của sách vở đến với học sinh một cách nhẹ nhàng, tự nhiên tức là giáo
án được thực hiện hoá qua bài giảng trên lớp chứ không thể là giấy vô tri, vô giác chỉ để giám
hiệu ký duyệt cho "đủ thủ tục"
Mỗi giáo viên cần nhận xét sâu sắc tầm quan trọng của việc chuẩn bị kế hoạch bài học trước
khi lên lớp, kế hoạch ấy có thể được ghi chép lại cẩn thận trong giáo án, cũng có thể là tự suy
nghĩ sắp xếp trong trí óc miễn là nó phải được thực hiện một cách nghiêm túc và hết sức tự
giác. Có kế hoạch bài giảng chu đáo tức là giáo viên đã chuẩn bị tốt mọi nội dung thực hiện
trên lớp, từ tiết lý thuyết đến các tiết thực hành xây dựng đoạn văn và tiết trả bài, từ phần kiểm
tra bài cũ đến phần củng cố bài học. Như vậy giáo viên có thể thực hiện được bảy biện pháp
trên một cách dễ dàng và chất lượng dạy học chắc chắn sẽ được nâng cao.
Qua nghiên cứu thực tế tôi có thể mạnh dạn đưa ra các giai đoạn của việc soạn giáo án một bài
cụ thể như sau:
Giai đoạn 1: Xác định mục tiêu bài học
Giai đoạn 2: Chuẩn bị đồ dùng, phương tiện dạy học
Giai đoạn 3: Lựa chọn phương pháp dạy học
Giai đoạn 4: Thiết kế các hoạt động dạy học
mới cho giáo viên có được những giờ dạy văn miêu tả mới mẻ, hiệu quả cao. Nếu không có
những sáng tạo mới trong dạy tập làm văn nhất là văn miêu tả thì giờ dạy văn miêu tả chỉ là sự
kiệt kê các chi tiết của đối tượng miêu tả, giờ học sẽ gượng ép, gò bó, thiếu tâm hồn văn học.
III. KẾT LUẬN:
Trước những yêu cầu đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo, thực hiện đổi mới chương trình
sách giáo khoa nhằm đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực trong công cuộc đổi mới đất nước
trong giai đoạn hiện nay. Việc nâng cao chất lượng dạy học là một trong những yêu cầu trọng
tâm của chiến lược phát triển giáo dục hiện nay. Một trong những yếu tố quyết định đến chất
lượng giáo dục đó là đội ngũ giáo viên, để đáp ứng nhu cầu đổi mới giáo dục, giáo viên phải
không ngừng học hỏi, sáng tạo trong giảng dạy, đem hết khả năng và niềm đam mê, lòng nhiệt
tình cho công tác thì mới có được những kết quả như mong muốn.
Không phải ai sinh ra cũng mang sẵn trong mình một tâm hồn văn chương mà khả năng ấy
phải được bồi đáp dần qua năm tháng, qua trang sách và những bài giảng hàng ngày của thày
cô. Muốn có được khả năng ấy của mỗi học sinh thì chính mỗi giáo viên phải định hướng, gợi
mở cho các em phương pháp học tập như những cây non được ươm trồng cần bàn tay con
người chăm sóc, vun xới thì nó sẽ trở nên tươi tốt. Với học sinh lớp 4, các em không thể vừa
bắt tay vào viết văn đã có được những dòng văn hay mà là kết quả của một quá trình rèn luyện
liên tục, bền bỉ, dẻo dai. Với tinh thần đó, việc rèn kỹ năng làm văn vừa để nhằm mục đích
nâng cao năng lực viết văn vừa nhằm nâng cao ý thức tự rèn luyện của học sinh.
Trên đây là chuyên đề “Một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy môn Tập làm văn miêu tả
ở lớp 4” của tổ khối 4. Rất mong được sự góp ý của các đồng nghiệp để hoàn thiện hơn về nội
dung.
Xin chân thành cảm ơn!
9