1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TRUYÊN TRUYỀN
LIÊN KẾT SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH
GIỮA CÁC ĐÀI PHÁT THANH - TRUYỀN HÌNH
KHU VỰC TÂY NAM BỘ HIỆN NAY
(Khảo sát từ tháng 01/2014 đến tháng 01/2015)
Ngành
: Báo chí học
Mã số
: 60320101
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học:TS.
2
CẦN THƠ - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Toàn bộ nội dung trong luận văn “Liên kết sản xuất chương trình
truyền hình giữa các Đài Phát thanh - Truyền hình khu vực Tây Nam bộ
Trang
1
MỞ ĐẦU
Chương 1:MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ HOẠT
ĐỘNG LIÊN KẾT SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN
HÌNH
1.1. Một số khái niệm
1.2. Vai trò của hoạt động liên kết sản xuất chương trình truyền hình
1.3. Các dạng thức liên kết sản xuất chương trình truyền hình
1.4. Tiêu chí đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động liên kết sản
xuất chương trình truyền hình
1.5. Khái lược hoạt động liên kết sản xuất chương trình truyền hình ở
Việt Nam hiện nay
12
12
18
21
30
34
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG LIÊN KẾT SẢN XUẤT CHƯƠNG
TRÌNH TRUYỀN HÌNH GIỮA CÁC ĐÀI PHÁT THANH TRUYỀN HÌNH KHU VỰC TÂY NAM BỘ HIỆN NAY
2.1. Sự phát triển của các Đài Phát thanh - Truyền hình khu vực Tây Nam bộ
2.2. Khảo sát thực trạng liên kết sản xuất chương trình truyền hình
giữa các Đài Phát thanh - Truyền hình khu vực Tây Nam bộ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
107
110
116
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ATV
:
Đài Phát thanh - Truyền hình An Giang
BTC
:
Ban tổ chức
BTV
:
Đài Phát thanh - Truyền hình Bạc Liêu
CT “…”
:
Đài Phát thanh - Truyền hình Đồng Tháp
THKG
:
Đài Phát thanh - Truyền hình Kiên Giang
THTPCT
:
Đài Phát thanh - Truyền hình Thành phố Cần Thơ
THVL
:
Đài Phát thanh - Truyền hình Vĩnh Long
THVN
:
Truyền hình Việt Nam
TP
:
6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xu hướng xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình đã và đang
được xem như một trào lưu mới, một làn gió mới thổi mát dịu đời sống báo
chí truyền thông nói chung và truyền hình nói riêng. Có thể thấy chưa bao giờ
mà nhịp đập cũng như không khí sinh hoạt của lĩnh vực truyền hình lại rộn
ràng đến như vậy. Hầu như mọi dạng và thể loại đều có bóng dáng của xu
hướng xã hội hóa: từ các chương trình giải trí (phim, trò chơi truyền hình, ca
nhạc,…), thậm chí có cả vấn đề xã hội hóasản xuất các chương trình tin tức,
thời sự,…
Thời gian qua, một trong những hình thức được cụ thể hóa từ xu hướng
xã hội hóatruyền hình đã xuất hiện, đó là “liên kết sản xuấtchương trình
truyền hình”. Thực tiễn cho thấy, việc liên kết sản xuấtCTTH đã góp phần
làm cho môi trường và diện mạo của hoạt động truyền hình trở nên phong
phú, đa dạng. Bên cạnh đó, quá trình này cũng góp phần nâng cao chất lượng
các sản phẩm truyền hình, giúp phương thức hoạt động dần chuyên nghiệp
hơn. Từ những ích lợi đó, mà ngày nay người ta chú trọng vấn đề liên kết sản
xuất trong lĩnh vực truyền hình nhiều hơn, nghiêm túc hơn.
Nhiều chương trình được sản xuất theo hình thức liên kết đã ra đời và
nhanh chóng chiếm được sự mến mộ của đông đảo công chúng. Cụ thể như
các CT: “Chuyện nhỏ” (HTV7), “Chiếc nón kỳ diệu”, “Đường lên đỉnh
Olympia”, “Viet Nam Idol” (VTV3),... Đặc biệt, còn có những CT như:
“Vượt lên chính mình” (HTV), “Chuyến xe may mắn” (THVL),... là một
trong những chương trình được liên kết sản xuất đã vượt qua hẳn yếu tố
“quảng cáo thương hiệu” mang tính nhân văn sâu sắc, chiếm được cảm tình
lớn ở công chúng, nhất là những người dân nghèo trên nhiều miền đất nước.
Đây được xem là một trong những dấu ấn mà hoạt động liên kết sản xuất đã
truyền hình giờ đây không chỉ do một Đài truyền hình sản xuất mà nó còn
liên quan tới rất nhiều Đài khác ở rất nhiều khâu, nhiều yếu tố. Khi đó,
8
hàng loạt vấn đề đặt ra cũng cần tới sự bàn bạc, thống nhất và chung tay
giải quyết. Như: việc lựa chọn và thống nhất nội dung, đề tài; phương tiện
kỹ thuật; vấn đề nhân sự, năng lực trình độ, kỹ năng của đội ngũ sản xuất;
vấn đề quảng cáo, tài trợ, tài chính,...
Do vậy mà không ít chương trình vẫn còn tình trạng: chương trình được
tổ chức một cách hoành tráng; có khách mời là nghệ sĩ, ca sĩ nổi tiếng; người
dẫn chương trình trẻ trung, duyên dáng,... nhưng chương trình cũng chưa thật
sự hấp dẫn bởi chưa có nhiều sáng tạo; mà chương trình vẫn còn mang tính
chất chắp nối, trùng lặp cấu trúc, khách mời,...
Hay ở khâu sản xuất, không ít chương trình liên kết quá lạm dụng công
nghệ, kỹ xảo sân khấu, truyền hình vào hoạt động biểu diễn, làm giảm tính
chân thực của chương trình,... Cùng với đó, không ít các Đài tham gia hoạt
động liên kết sản xuấtchương trình chưa thật sâu sát, chưa quan tâm tới việc
tổng kết, rút kinh nghiệm cũng như chưa nghiên cứu nhu cầu và thị hiếu công
chúng,... Vì vậy chất lượng, hiệu quả một số chương trình liên kết chưa cao.
Trước thực tiễn này, việc cần phải có ngay những công trình tập trung
vào nghiên cứu nhằm chỉ ra thực trạng hoạt động liên kết sản xuất, ưu nhược
điểm từ đó tìm ra nguyên nhân những hạn chế nói trên, đồng thời đưa ra
những giải pháp phù hợp nhằm thúc đẩy quá trình liên kết sản xuấtCTTH ở
khu vực Tây Nam bộ là cần thiết. Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài “Liên kết
sản xuấtchương trình truyền hình giữa các Đài Phát thanh -Truyền hình khu
vực Tây Nam bộ hiện nay”làm công trình nghiên cứu tốt nghiệp khóa đào tạo
Thạc sỹ Báo chí của mình với mong muốn giải đáp phần nào những câu hỏi
và những vấn đề đặt ra ở trên.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
vấn đề liên kết sản xuấtCTTH giữa các Đài truyền hình với các đối tác bên ngoài mới
chỉ được luận án gợi mở, chưa được lý giải, phân tích một cách cặn kẽ.
+ “Truyền hình Việt Nam trong tiến trình toàn cầu hoá thông tin”, Nguyễn
Thị Tuyết, Khoá luận tốt nghiệp Đại học - Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà
Nội, 2007.
10
Khoá luậnchủ yếu tập trung phân tích vai trò, trách nhiệm của truyền hình
Việt Nam với việc thông tin tuyên truyền trong bối cảnh toàn cầu hoá. Toàn cầu
hoá vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với xã hội nói chung, đối với các phương
tiện truyền thông nói riêng. Để hội nhập, cạnh tranh được với truyền hình của
các nước phát triển, những người làm truyền hình phải không ngừng nâng cao
chất lượng chương trình, mở rộng diện phát sóng. Khoá luận khẳng định, để làm
được điều này, một trong những giải pháp cần làm là phải đẩy nhanh xã hội hóa
truyền hình. Toàn bộ khoá luận 69 trang, nhưng chỉ có một trang đề cập đến vấn
đề xã hội hóa. Điều này chưa thể phân tích một cách cặn kẽ về xã hội hóa - một
vấn đề lớn và nóng trong lĩnh vực truyền hình hiện nay.
- Nhóm 2: những tài liệu nghiên cứu nghiên về vấn đề liên kết, xã hội
hóa sản xuất chương trình truyền hình thực trạng và những giải pháp ở một
Đài truyền hình cụ thể. Có một số công trình tiêu biểu như sau:
+ “Hoạt động xã hội hoá sản xuất chương trình của Đài Truyền hình
thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và định hướng phát triển”, Dương
Thanh Tùng, Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Báo chí Trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013.
Luận văn cung cấp thêm góc nhìn mới về định hướng cho hoạt động xã
hội hóa sản xuất CTTH. Một số luận điểm được nêu, bước đầu đã xác định
được mục đích, tiêu chí, yêu cầu của xã hội hóa sản xuất CTTH. Trong đó,
đặc biệt là việc xác định năng lực sản xuất theo từng tiêu chí, nhiệm vụ cụ thể
trong lộ trình và quy trình hợp tác sản xuất. Song, các nội dung được đề cập
sản xuất CTTH ở quy mô lớn hơn thì hoàn toàn chưa được đề cập đến.
-Nhóm 3:Những bài viết ngắn về một khía cạnh của hoạt động liên kết
sản xuấtchương trình truyền hình đã được đăng trên các báo, website. Có
một số bài viết tiêu biểu như sau:
+ “Xu hướng xã hội hóa truyền hình ở Việt Nam hiện nay”, tác giả
Đinh Thị Xuân Hòa, Khoa Phát thanh - Truyền hình Học viện Báo chí và
Truyên truyền, đăng trên trang Hội nhà báo Việt Nam, ngày 5/12/2011.
12
+ “Xã hội hoá truyền hình: Chưa được như mong đợi”, tác giả Lan Anh,
đăng trên TuanVietnam.net (thuộc báo Vietnamnet điện tử), ngày 31/12/2013.
+“Sản xuất chương trình truyền hình trả tiền: Doanh nghiệp ngoại đang lấn
sân”, Huyền Thanh, đăng trên Báo Công an nhân dân điện tử, ngày 18/9/2014.
+ “Liên kết sản xuấtchương trình truyền hình: Khuyến khích nhưng quản lý
chặt”, Cúc Phương, đăng trên báo Diễn đàn doanh nghiệp điện tử, ngày 21/8/2010.
+ “Xã hội hóa truyền hình: Nên đưa vào Luật Báo chí”, được đăng trên
trang luatdaiviet.vn.
+ “Thực trạng sản xuất các chương trình truyền hình cho thiếu nhi hiện
nay”, Nhạc sỹ Thế Long- Trung tâm THVN tại Cần Thơ, đăng trên trang
lhthtq.vtv.vn.
+ “Khi các kênh truyền hình được xã hội hóa”, Songmoi.vn, được đăng
trên Baomoi.com, đăng ngày 13/02/2013,…
Do tính chất và phạm vi của bài báo đó, nên nhìn chung vấn đề liên kết
sản xuấtCTTH ở Việt Nam có được đề cập đến. Tuy nhiên, vấn đề này mới chỉ
được đề cập ở những khía cạnh rất nhỏ trong vô vàn những vấn đề, những bất
cập đã và đang tồn tại trong hoạt động liên kết sản xuấtCTTH.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu kể trên bước đầu đã đề cập đến một
số khía cạnh của vấn đề liên kết sản xuất truyền hình: ý nghĩa của hoạt động liên
kết sản xuất, vai trò của các đối tác liên kết,… Tuy nhiên, các công trình kể trên
là: Những khái niệm; vai trò hoạt động liên kết sản xuấtCTTH;các dạng thức
liên kết; tiêu chí đánh giá chất lượng, hiệu quả của hoạt động liên kết; và khái
lược hoạt động liên kết sản xuấtCTTH để có cái nhìn tổng quan về hoạt động
liên kết sản xuấtCTTH ở Việt Nam hiện nay.
Hai là: Trên thực tế nghiên cứu, khảo sát thực tiễn luận văn sẽ đưa ra
những nhận định, luận chứng, đồng thời chỉ ra những nguyên nhân hạn chế
của vấn đề liên kết sản xuấtCTTH giữa các ĐàiPTTH hình thuộc khu vực Tây
Nam bộ qua các chương trình khảo sát nằm trong giới hạn đề tài.
14
Ba là: Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình liên kết sản
xuấtCTTH, đồng thời giúp nâng cao chất lượng các CTTH theo phương thức
liên kết sản xuất giữa các Đài PTTH khu vực Tây Nam bộ.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề liên kết sản xuấtCTTH giữa
các Đài PTTH thuộc khu vực Tây Nam bộ.
4.2. Đối tượng khảo sát
(1) Các chương trình được liên kết sản xuất giữa các Đài PTTH thuộc khu
vực Tây Nam bộ. Cụ thể luận văn tập trung khảo sát 03 chương trình: CT“Giai
điệu Phương Nam”, CT“Biên giới khúc tình ca”, CT“Vang mãi lời ca”.
(2) Các nhà lãnh đạo, quản lý của các Đài truyền hình tham gia hoạt động
liên kết sản xuấtchương trình; các nhà báo, ban biên tập chương trình; một số cá
nhân, tổ chức bên ngoài Đài có tham gia liên liên kết sản xuấtchương trình.
(3) Khán giả truyền hình - những người chịu tác động trực tiếp từ các
sản phẩm truyền hình được liên kết sản xuất.
Bên cạnh đó, đề tài cũng có sử dụng thêm các số liệu của các công
trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài được công bố trước đó.
4.3. Phạm vi khảo sát, nghiên cứu
Phương pháp này nhằm khảo sát thực trạng tiếp nhận về các CTTH
được liên kết sản xuất giữa các Đài PTTH thuộc khu vực Tây Nam bộ. Tác
giả phát phiếu trưng cầu ý kiến ngẫu nhiên cho 600 người tại khu vực thuộc
phạm vi và giới hạn nghiên cứu (6 tỉnh thành). Tuy nhiên, để có cơ sở đánh
giá chính xác nhất, đề tài chỉ sử dụng 500 phiếu tiềm năng - những khán giả
có xem các CTTH trong giới hạn của đề tài.
- Phương pháp thống kê
Phương pháp này được sử dụng nhằm xác định tần số xuất hiện, mức độ phát
triển, chất lượng, hiệu quả những CTTH được liên kết sản xuất giữa các Đài PTTH
thuộc khu vực Tây Nam bộ. Phương pháp này yêu cầu tác giả phải lưu giữ, xem lại các
chương trình đã được liên kết sản xuất, thời gian khảo sát từ tháng 01/2014 đến 01/2015.
- Phương pháp mô hình hóa
16
Đây là phương pháp được sử dụng để mô hình hoá các số liệu nghiên
cứu. Qua đó, giúp chúng ta nhận dạng, so sánh dễ dàng về tỷ lệ, mức độ,
những thông số thuộc kết quả nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp
Thông qua số liệu nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp này nhằm phân
tích số liệu, nhận định ưu điểm và hạn chế của vấn đề nghiên cứu. Qua đó tác giả đề
xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đối với quá trình liên kết
sản xuấtCTTH giữa các Đài Phát thanh - Truyền hình khu vực Tây Nam bộ hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn làm rõ và bổ sung những vấn đề lý luận về hoạt động liên kết sản
xuấtCTTH. Đặc biệt là những lý luậnriêng về hoạt động liên kết giữa các ĐàiPTTHvới
nhau.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Từ thực tế nghiên cứu, luận văn đã phân tích làm sâu sắc hơn những mặt
biểu hiện cũng như nội dung, nó chưa thể hiện hết ý nghĩa của từ.
Cũng đồng quan điểm lấy yếu tố “vật chất” làm một trong những thuộc
tính của “sản xuất”, theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam (quyển 3) thì “sản
xuất” được hiểu là:“quá trình con người sáng tạo ra tư liệu vật chất (vật
phẩm, năng lượng, dịch vụ) thích hợp với nhu cầu của con người và xã hội, là
cơ sở tồn tại và phát triển của xã hội loài người” [30, tr.725].
Còn trong quyển “Từ điển Anh – Việt” do Viện Ngôn ngữ học biên
soạn thì thuật ngữ “sản xuất” được hiểu khá đơn giản, “sản xuất là hành
động chế tác, khai thác” [53, tr.1352],…
Mỗi góc nhìn, chúng ta đều nhận diện được “cái lý” riêng cho khái niệm
“sản xuất”. Tuy nhiên, sản xuất luôn có mục đích cụ thể của nó, đó là sản xuất
cái gì, cho ai và sản xuất như thế nào?... Bên cạnh cần chú ý các yếu tố: sức lao
động, đối tượng lao động và tư liệu lao động. Những yếu tố này được xem là
18
tất yếu ở mọi hoạt động trong cuộc sống của con người. Do vậy, để giải thích
khái niệm sản xuất, cần phải gắn nó vào một ngữ cảnh cụ thể đang nói tới.
Ở đây, luận văn được nghiên cứu có liên quan đến sản phẩm truyền
hình, CTTH. Vậy khi đặt vào ngữ cảnh này, sản xuất được hiểu như sau:
“Sản xuất là quá trình tạo ra sản phẩm hay dịch vụ mới, nhằm đáp ứng nhu
cầu của con người và xã hội”.
*Chương trình truyền hình
Hiểu một cách đơn giản, “chương trình truyền hình” là gồm tất cả nội
dung được lên lịch phát sóng hàng ngày, hàng tuần. Nó dạng như một danh
mục (list) nội dung chương trình. Người ta thường nói “chương trình hôm
nay thế nào”- nghĩa là hôm nay có nội dung gì? … Hiểu theo nghĩa này, dù
phổ biến, nhưng chưa được khai thác đúng với bản chất của CTTH.
Dưới góc độ khoa học - mang tính chuyên môn, GS.TS. Tạ Ngọc Tấn
quan niệm: “chương trình truyền hình dùng để chỉ một hay nhiều tác phẩm
các CTTH mà các Đài truyền hình đang phát sóng, tác giả luận văn xin đưa ra
một quan niệm của riêng mình về thuật ngữ “chương trình truyền hình” để
làm cơ sở cho nghiên cứu tiếp sau: “chương trình truyền hình là sự kết nối
nhất quán các nội dung (tin, bài, lời dẫn, tư liệu…)bằng hình ảnh và âm
thanh theo một chủ đề, thời lượng nhất định, được phát có hậu kỳ hoặc trực
tiếp theo định kỳ, đồng thời nóluôn là sản phẩm của tập thể”.
Như vậy, để làm nên một CTTH cần sự kết hợp, đóng gói nhiều linh kiện
đơn lẻ có thể là các tin, bài, phóng sự… cùng nhiều yếu tố khác như hình hiệu, hình
cắt, lời bình, âm thanh,... Chính vì có nhiều yếu tố cấu thành như vậy nên việc tổ
chức sản xuất một chương trình bao giờ cũng phức tạp, cần tới sự chung sức của
nhiều đầu mối cũng như đối tượng khác nhau. Việc phát sóng định kỳ các CTTH
góp phần giúp công chúng dễ dàng trong thu xếp thời gian để tiếp nhận thông tin.
Tuy nhiên, thực tế cũng có những chương trình không phát định kỳ, đó thường là
những chương trình mang tính đột xuất nhằm đảm bảo tính thời sự và sự định
hướng về mặt thông tin, nhưng số lượng những chương trình như vậy thường ít.
20
*Sản xuất chương trình truyền hình
Từ quan niệm về thuật ngữ
“chương trình truyền hình” và thuật
ngữ “sản xuất” đã được nêu và phân
tích ở trên có thể thấy “sản xuất
chương trình truyền hình” - đây là
một hoạt động khá hay của loại hình
báo chí truyền hình.
Trong một số tài liệu được
Hình 1.1 Quy trình sản xuất CTTH
chính là bộ ba không thể nào thiếu trong quá trình sản xuất CTTH. Bộ ba này luôn
luôn bổ sung cho nhau nhằm mục đích tạo ra một sản phẩm truyền hình chất lượng.
Từ đây, trên cơ sở của những khái niệm nêu trên và kết hợp với quá trình
tham khảo tài liệu, cùng việc khảo sát thực tế, trao đổi trực tiếp với các nhà báo có
nhiều kinh nghiệm trong sản xuất các CTTH ở Đài THVN cũng như của các Đài
PTTH ở khu vực đồng bằng Sông Cửu Long, đồng thời kết hợp với những kinh
nghiệm rút ra trong hoạt động thực tiễn của bản thân, tác giả đề xuất khái niệm
thuật ngữ “sản xuất chương trình truyền hình”như sau: “sản xuất chương trình
truyền hìnhlà hoạt động tạo ra sản phẩm truyền hìnhnhằm đáp ứng nhu cầu, thị
hiếu của người tiếp nhận và những yếu tố như: tài chính, con người và phương tiện
kỹ thuật là những tác nhân chính tạo nên chất lượng cho sản phẩm truyền hình
ấy”.
1.1.2. Liên kết sản xuấtchương trình truyền hình
* Liên kết
Theo “Từ điển Lạc Việt”, thuật ngữ “liên kết” (integration) được hiểu “là
sự hợp lại thành một hệ thống nhất”[58]. Tuy nhiên, với cách giải thích
này,“liên kết” chưa nêu được chủ thể trong hoạt động liên kết như: của ai, từ ai?
Tiếp cận vấn đề này, trong cuốn “Từ điển Tiếng Việt”, xuất bản năm
1998, tác giả Hoàng Phê (chủ biên) đã giải thích:“liên kết là kết lại với nhau
từ nhiều thành phần hoặc tổ chức riêng rẽ”[43, tr.547].
Qua các quan niệm nêu trên, dù cách thể hiện, diễn đạt thuật ngữ “liên
kết” có khác biệt nhau, tuy nhiên về nội hàm hay thuộc tính của nó đều có
22
những điểm chung. Liên kết đó là sự kết hợp (kết lại, phối hợp) và chủ thể
liên kết (thành phần, tổ chức) đều được nhắc đến. Tuy nhiên, với giới hạn của
đề tài cũng như quan điểm cá nhân, trong đề tài này chúng tôi thống nhất
đồng quan điểm với tác giả Hoàng Phê :“liên kết là kết lại với nhau từ nhiều
thành phần hoặc tổ chức riêng rẽ”để làm cơ sở trong quá trình nghiên cứu.
Thực tế cho thấy, bản chất của việc liên kết sản xuất nói chung và sản
xuất CTTH nói riêng nhằm huy động nguồn lực ở bên ngoài Đài, qua đó tạo
hiệu quả và chất lượng cho chương trình. Việc liên kết sản xuấtCTTH còn
giúp giảm bớt áp lực cho các Đàitruyền hình vềkinh tế và thời gian. Kế nữa,
nó giúp phong phú về mặt số lượng chương trình, nâng cao uy tín cũng như
thương hiệu của các Đài truyền hình.
Vì vậy, sau khixâu chuỗi các yếu tố và điều kiện đã phân tích ở trên, tác
giả xin được đưa ra khái niệm liên kết sản xuấtCTTH như sau: “Liên kết sản
xuấtchương trình truyền hình là sự phối hợp giữa một bên là Đài truyền hình
với một bên là đối tác liên kết, ở một hay nhiều phương diện trong hoạt động
sản xuất nhằm tạo ra một phần hay toàn bộ sản phẩm truyền hình”.
1.2. Vai trò của hoạt động liên kết sản xuấtchương trình truyền hình
1.2.1. Góp phần giảm bớt gánh nặng trong sản xuất cho các Đài
Sản xuất chương trình là một hoạt động rất tốn kém. Bởi tác phẩm
truyền hình là một sản phẩm tập thể. Nó bao gồm nhiều thành phần: nhân
lực,phương tiện kĩ thuật,… cùng tham gia vào. Để có một CTTH chất lượng
cần đầu tư về thời gian, bố trí nguồn nhân lực, kinh phí,… Trong khi đó, đa
phần các Đàitruyền hình hiện nay chủ yếu là kênh quảng bá, ngoài nhiệm vụ
phải thực hiện các chương trình quảng bá, họ cũng cần sản xuất các chương
trình mang tính thương mại để nuôi sống bộ máy của Đài. Vì vậy, trong một
lúc họ không thể sản xuất nhiều chương trình, chứ đừng nói đến chất lượng
cao.
Mặt khác, số lượng nhân lực hiện nay trong mỗi Đài truyền hình cũng
còn hạn chế, có khi còn giới hạn cả về mặt trình độ, chuyên môn, nghiệp vụ. Đã
có tình trạng một người nhưng kiêm nhiệm quá nhiều nhiệm vụ, rồi vấn đề phân
24
công phần việc không đúng chuyên ngành, sở nguyện,... Nên việc góp mặt của
quá trình liên kết sản xuấtCTTH là rất cần thiết. Và đó là một hoạt động kịp thời,
hiếu của công chúng. Mặt khác, khi công chúng tiếp cận đa chiều về mặt
thông tin (nhiều chủ đề, nhiều chương trình) thì sẽ giúp công chúng cập nhật,
sở hữu nhiều kiến thức sâu và rộng hơn. Từ đó,giúp công chúngcó đủ bản
lĩnh, trình độ, chất liệu ngôn từ để đưa ra những chính kiến, tạo dư luận xã hội
trước mỗi sự vật hiện tượng được bao quát hơn.
Vì vậy, vai trò của hoạt động liên kết sản xuấtCTTH không chỉ dừng lại
ở việc góp phần giảm bớt gánh nặng trong sản xuất cho các Đài, mà một trong
những vai trò quan trọng của hoạt động này là góp phần mở rộng phạm vi tiếp
nhận thông tin, đáp ứng nhu cầu thị hiếu ngày càng cao của công chúng trong
xã hội.
1.2.3. Nâng cao chất lượng các chương trình truyền hình
TS. Bùi Chí Trung - Đại học KHXHNV cho rằng: “Khó có phương
tiện truyền thông - giải trí nào xâm nhập vào đời sống người dân Việt Nam
mạnh mẽ và rộng rãi như truyền hình” [51, tr.155]. Điều này muốn khẳng
định thêm tầm quan trọng, sự thiết thực và gần gũi của lĩnh vực truyền hình
đối với cuộc sống chúng ta hiện nay. Mặt khác, khi mang trên mình chức
năng và nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục thì hơn bao giờ hết, ngành truyền
hình phải đặc biệt chú ý đến nội dung, chất lượng tác phẩm và rõ hơn về thông
điệp cần truyền tải. Còn nếu thông tin hời hợt về mặt kiểm duyệt và cách thể
hiện, thông điệp không rõ ràng thì sẽ có thể nhận về hậu quả khó lường. Vì, mục
đích cuối cùng của truyền thông là tác động vào nhận thức để làm thay đổi hành
vi của tất cả mọi người. Do vậy, nếu tác động như thế nào thì hành vi sẽ như
thế ấy.
Và hoạt động liên kết sản xuấtCTTH cũng không ngoài mục đích nâng
cao chất lượng sản phẩm. Song, để tạo sự phong phú, đa dạng các chương
trình, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng, ngoài sự nỗ lực của đội ngũ
nhân viên từng Đài truyền hình, họ còn tận dụng thế mạnh của các đơn vị liên
kết để tạo thành sức mạnh chung nhất. Khi hoạt động liên kết sản xuấtCTTH
được tiến hành thì đồng nghĩa với việc “một đứa béđược nhiều người chăm