Luận văn thạc sĩ báo chí học tính nhân văn trong các chương trình truyền hình nhân đạo của đài phát thanh và truyền hình vĩnh long hiện nay - Pdf 35

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN THIỆN THƯ

TÍNH NHÂN VĂN TRONG CÁC CHƯƠNG TRÌNH
TRUYỀN HÌNH NHÂN ĐẠO CỦA ĐÀI PHÁT THANH
VÀ TRUYỀN HÌNH VĨNH LONG HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

CẦN THƠ - 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC
GIA
HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN THIỆN THƯ

TÍNH NHÂN VĂN TRONG CÁC CHƯƠNG TRÌNH
TRUYỀN HÌNH NHÂN ĐẠO CỦA ĐÀI PHÁT THANH
VÀ TRUYỀN HÌNH VĨNH LONG HIỆN NAY

Chương 1: TÍNH NHÂN VĂN TRONG CÁC CHƯƠNG TRÌNH
TRUYỀN HÌNH NHÂN ĐẠO- MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN

1.1. Truyền hình nhân đạo và tính nhân văn trong các chương trình
truyền hình nhân đạo
1.2. Xu hướng phát triển của các chương trình truyền hình nhân đạo
và sự cần thiết nâng cao tính nhân văn trong các chương trình
truyền hình nhân đạo

9
9

25

Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ TÌNH NHÂN VĂN TRONG CÁC
CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH NHÂN ĐẠO XÃ HỘI
CỦA ĐÀI PHÁT THANH VÀ TRUYỀN HÌNH VĨNH LONG
TỪ NĂM 2009 ĐẾN NAY

2.1. Khái quát về Đài Phát thanh và Truyền hình Vĩnh Long và các
chương trình nhân đạo trên sóng Truyền hình Vĩnh Long
2.2. Phân tích về tính nhân văn qua các chương trình nhân đạo xã hội của
Đài Phát thanh và Truyền hình Vĩnh Long từ năm 2009 đến nay

39
39
42

Chương 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO



HTV
MC
PT&TH
SXCT
THVL
UBND
VTV

:
:
:
:
:
:
:

Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh
Người dẫn chương trình
Phát thanh & Truyền hình
Sản xuất chương trình
Đài Truyền hình Vĩnh Long
Ủy ban nhân dân
Đài Truyền hình Việt Nam


DANH MỤC CÁC ẢNH, BẢNG
Trang
71

nhân đạo và nhân văn dường như chưa bao giờ ngừng chảy trong tim nhân
loại, là mục đích hướng đến của bao dân tộc, bao thế hệ vì một cuộc sống hòa
bình, hạnh phúc vững bền. Vì lẽ đó, việc giáo dục tính nhân văn, nhân đạo
cho con người luôn là nhiệm vụ quan trọng và thiêng liêng của xã hội. Trong
đó, báo chí- một phương tiện truyền thông giữ vai trò hết sức quan trọng trong
việc giáo dục, tuyên truyền những giá trị nhân văn tốt đẹp cho con người, cho
xã hội. Hơn thế nữa, với sự hỗ trợ đắc lực của khoa học công nghệ trong thời
đại ngày nay, sức mạnh của báo chí không chỉ biến tư tưởng thành hành động
để mọi người sống tốt hơn mà còn tạo nên những hiệu quả xã hội làm thay đổi
cuộc sống con người theo chiều hướng thiết thực hơn.
Thực hiện trách nhiệm xã hội của báo chí trong việc giáo dục tính nhân
văn, cùng với sự nở rộ của nhiều thể loại chương trình truyền hình phong phú
khác nhau thì chương trình truyền hình nhân đạo ra đời khoảng một thập niên
gần đây có một vị trí nhất định trong vườn hoa thể loại đa dạng của truyền
hình hiện đại. Không thể phủ nhận sự tác động ảnh hưởng mạnh mẽ của các
chương trình nhân đạo đối với đời sống xã hội hôm nay với tính nhân văn sâu
sắc như một nốt trầm sâu lắng giữa cuộc sống tất bật khiến người ta phải dừng
lại và suy ngẫm, kéo con người xích lại gần nhau, yêu thương nhau hơn.
Loạt chương trình nhân đạo xã hội của Đài Truyền hình Vĩnh Long
(THVL) trong suốt hơn 5 năm phát sóng đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng
khán giả khắp mọi miền trên cả nước bởi tính nhân đạo thiết thực, kịp thời và


2
tính nhân văn thấm đẫm qua từng kỳ phát sóng. Tuy vậy, để giữ được ấn
tượng ấy mãi sống trong lòng công chúng đòi hỏi những người thực hiện
chương trình phải đầu tư nâng cao chất lượng chương trình từng ngày từng
giờ. Làm sao để có những bước cải tiến đặc sắc để thu hút được người xem,
nhưng vẫn giữ được ý nghĩa nội dung sâu sắc và ngày càng hướng con người
đến những giá trị tốt đẹp tỏa sáng cuộc đời, đó vừa là điều trăn trở vừa là

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Từ trước đến nay, tính nhân văn hay chủ nghĩa nhân văn luôn được chú
trọng phân tích, nghiên cứu trong các công trình về triết học, xã hội học, đạo
đức học, văn học và báo chí học. Vì vậy, đã có khá nhiều công trình nghiên
cứu và các bài báo liên quan đến đề tài này.
Về các công trình nghiên cứu liên quan đến chủ nghĩa nhân văn và tính
nhân văn, có thể kể đến: Bài viết "Những vấn đề cơ bản và sự biểu hiện của
Chủ nghĩa nhân văn trong thời đại Phục Hưng ở Châu Âu (thế kỷ XIV- XVI)"
của tác giả Hồng Văn trên Tạp chí Nghiên cứu văn hóa số 5 của Trường Đại
học Văn hóa Hà Nội đi sâu vào khái niệm, lịch sử ra đời và biểu hiện của chủ
nghĩa nhân văn gắn liền với sự phát triển nền văn minh và con người trong
thời kỳ Phục Hưng.
Cuốn sách Chủ nghĩa duy vật nhân văn và định hướng nhân văn của sự
phát triển xã hội, TS. Hồ Bá Thâm, (năm 2005) nghiên cứu ở góc độ triết học
về sự phát triển của chủ nghĩa nhân văn riêng ở Việt Nam qua các giai đoạn
lịch sử, và đỉnh cao là chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh với giá trị cốt lõi hội
tụ những tinh hoa phát triển tốt đẹp nhất của chủ nghĩa yêu nước, là triết học
về nhân văn hiện đại và là nền tảng để xây dựng chủ nghĩa nhân văn xã hội
chủ nghĩa tiến bộ nhất thời đại ngày nay.
Luận văn Thạc sĩ khoa học triết học của học viên Giáp Thị Lanh, Học
viện Báo chí và Tuyên truyền Ảnh hưởng của Nho giáo đến tư tưởng nhân
văn của Nguyễn Trãi tập trung nghiên cứu sâu về tư tưởng nhân văn của
Nguyễn Trãi đậm chất Nho giáo mà cốt lõi là đạo làm người với những ảnh
hưởng sâu sắc và ý nghĩa của nó với chủ nghĩa yêu nước và truyền thống dân


4
tộc Việt Nam. Cũng dưới góc nhìn triết học có Luận văn Thạc sĩ "Triết lý
nhân sinh trong tác phẩm "Đạo Đức Kinh của Lão Tử và ý nghĩa của nó đối
với xây dựng đạo đức người Việt Nam hiện nay" của học viên Vũ Quốc

chí ngày nay của tác giả Võ Hòa Nhân đăng trên Báo Bình Dương
(21/06/2012); Thông tin phải mang tính nhân văn của tác giả, đăng trên báo
An Ninh Thủ Đô (17/09/2011) ; Các yếu tố cần hội đủ để nâng cao giá trị
nhân văn, bài tham luận của nhà văn, dịch giả Ngọc Châu tại cuộc tọa đàm
"Báo chí và văn chương cùng hướng tới giá trị nhân văn" của Hội Nhà báo và
Hội Nhà văn thành phố Hải Phòng (19/5/2012)....
Riêng về tính nhân văn trong truyền hình thì nổi bật có Luận văn Thạc
sĩ Báo chí học đề tài :" Nâng cao hiệu quả các chương trình truyền hình nhân
đạo xã hội của Đài PT-TH Tiền Giang" của học viên Nguyễn Thị Khánh
Ngọc, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, chủ yếu đi sâu khai thác về hiệu
quả mà các chương trình nhân đạo của đài làm được hoặc chưa làm được về
mặt an sinh xã hội, về góp phần xóa đói giảm nghèo, về mặt nâng cao đời
sống của công chúng. Từ đó đưa ra các giải pháp để nâng cao chất lượng
chương trình.
Tuy nhiên nghiên cứu riêng về tính nhân văn của các chương trình
truyền hình hiện nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu.
Tóm lại, tuy là một khach thể nghiên cứu không mới nhưng hiện nay
vẫn chưa có một đề tài nghiên cứu nào đề cập, phân tích tính nhân văn trong
một hay một thể loại tác phẩm báo chí cụ thể, đặc biệt là các chương trình
truyền hình nhân đạo đang được dư luận xã hội quan tâm.
Vì vậy, việc nghiên cứu về tính nhân văn trong các chương trình nhân
đạo của Đài THVL là một đòi hỏi cần thiết đối với người làm báo trong việc
nghiên cứu tác phẩm, hiệu quả tác động xã hội của nó cũng như tìm ra các
giải pháp để nâng cao chất lượng chương trình ngày một ý nghĩa và định
hướng nội dung đúng đắn hơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là làm rõ các vấn đề lý luận và thực





7
việc khảo sát, phân tích, đánh giá tính nhân văn và việc thực hiện các chức
năng báo chí, nguyên tắc đạo đức nghề báo qua các chương trình nhân đạo
của Đài THVL.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả phải thực hiện
những phương pháp nghiên cứu chính sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: giúp cho người nghiên cứu nắm
được phương pháp của các nghiên cứu đã thực hiện trước đây; có thêm kiến
thức sâu, rộng về lĩnh vực đang nghiên cứu và làm rõ hơn đề tài nghiên cứu
của mình;
- Phương pháp phân tích: giúp chẻ nhỏ từng vấn đề, từng khía cạnh của
các chương trình để tìm tòi, nghiên cứu, đánh giá, nhận định, từ đó rút ra
những luận điểm mới có cơ sở, có căn cứ xác đáng;
- Phương pháp so sánh: giúp cho người nghiên cứu thấy được những
điểm giống và khác nhau giữa vấn đề này với vấn đề kia, giữa chương trình
nhân đạo xã hội của Đài THVL với các chương trình nhân đạo xã hội của các
Đài khác để rút ra những điểm được và chưa được của vấn đề nghiên cứu;
- Phương pháp quan sát: giúp cho người nghiên cứu đánh giá được vấn
đề qua việc quan sát hình ảnh của chương trình truyền hình dạng thành phẩm;
- Phương pháp khảo sát: khảo sát dư luận xã hội và lượng khán giả quan
tâm yêu thích chương trình qua việc đo số liệu khảo sát lượng người xem;
- Phương pháp phỏng vấn sâu: phỏng vấn các đồng nghiệp và những
đối tượng công chúng khác nhau đã từng xem các chương trình truyền hình
nhân đạo trên sóng THVL để có những ý kiến đánh giá chuyên môn về những
mặt được và chưa được trong việc thể hiện tính nhân văn;
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận

Hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng (Mass
Communication hay Mass Media) với các phương tiện thông tin khác nhau
như: sách, báo in, điện ảnh, quảng cáo, băng, đĩa, phát thanh, truyền hình,
Internet... có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội.
"Truyền hình là một loại hình phương tiện truyền thông đại chúng
chuyển tải thông tin bằng hình ảnh động và âm thanh" [35, tr.127]. Thuật ngữ
"truyền hình" (television) có nguồn gốc từ tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp. Theo
tiếng Hy Lạp, từ "tele" có nghĩa là "ở xa", còn "videre" là "thấy được", ghép
hai từ lại có nghĩa là "xem được ở xa". Còn tiếng Latinh có nghĩa là "xem
được từ xa".
Truyền hình xuất hiện vào đầu thế kỷ XX và phát triển với tốc độ vũ
bão nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, tạo ra một kênh thông
tin quan trọng trong đời sống xã hội. Ngày nay truyền hình trở thành công cụ
sắc bén trên mặt trận tư tưởng văn hóa cũng như các lĩnh vực kinh tế- xã hội,
an ninh, quốc phòng.
Ở thập kỷ 50 của thế kỷ XX, truyền hình chỉ được sử dụng như là một
phương tiện giải trí và thông tin. Dần dần, truyền hình đã trực tiếp tham gia
vào quá trình quản lý và giám sát xã hội, tạo lập và định hướng dư luận, giáo
dục và phổ biến kiến thức, phát triển văn hóa, quảng cáo và dịch vụ.
Sự ra đời của truyền hình với sự phát triển không chỉ về số lượng mà
còn cả chất lượng đã góp phần làm cho hệ thống truyền thông đại chúng có


10
sức ảnh hưởng xã hội to lớn. Công chúng của truyền hình trên thế giới vì thế
ngày càng đông đảo. Với những ưu thế về kỹ thuật và công nghệ, truyền hình
đã làm cho cuộc sống cô đọng hơn, nhiều ý nghĩa và sáng tỏ hơn về hình thức
và phong phú hơn về nội dung. Xét theo góc độ kỹ thuật truyền tải thì có
truyền hình sóng (wireless TV) và truyền hình cáp (CATV). Xét theo góc độ
thương mại có truyền hình công cộng (public TV) và truyền hình thương mại

khả năng tác động mạnh mẽ đến nhận thức của con người và truyền tải một
cách chân thực hình ảnh của sự kiện đi xa nên đáp ứng yêu cầu chứng kiến
tận mắt của công chúng, thõa mãn nhu cầu nghe nhìn của người xem qua hình
ảnh và âm thanh chân thực sinh động. Và đó cũng chính là lợi thế của truyền
hình so với báo in và phát thanh.
- Khả năng tác động dự luận xã hội mạnh mẽ và trở thành diễn đàn
của nhân dân: không chỉ bằng những sự kiện mà bằng những thông điệp ý
nghĩa, thông tin trên truyền hình có một sức tác động mạnh mẽ vào nhận
thức con người, tạo nên dư luận xã hội to lớn, thông qua đó còn định hướng
dư luận về mặt tư tưởng, nhận thức về tình hình xã hội, đường lối chủ
trương của Đảng và Nhà Nước, hay mang đến cho người đem sự đồng cảm,
xây dựng lòng nhân ái, tạo nên hiệu ứng nhân đạo rộng lớn trong toàn dân.
Từ đó, truyền hình trở thành diễn đàn của nhân dân qua các chuyên mục,
talkshow, diễn đàn... tập hợp ý kiến của đại bộ phận công chúng phản ánh
nhiều khía cạnh đời sống và các vấn đề xã hội khác nhau, nhờ đó đã góp
phần không nhỏ trong việc thực hiện quyền dân chủ, quản lý xã hội của
nhân dân, việc giám sát và phản biện xã hội để góp phần kiện toàn bộ máy
Nhà nước, chống tiêu cực.
* Đặc điểm của báo chí truyền hình và sản phẩm của truyền hình:
Trong các loại hình truyền thông đại chúng, truyền hình tuy ra đời
muộn nhưng đó là sản phẩm của nền văn minh khoa học- công nghệ phát
triển. Truyền hình là loại hình truyền thông có các yếu tố kỹ thuật hiện đại, là
sự kết hợp giữa kỹ thuật, mỹ thuật, nghệ thuật, kinh tế và báo chí.


12
Những yếu tố cơ bản của truyền hình:
- Lượng thông tin: do trực quan cảm giác truyền hình rất hạn chế lượng
thông tin lý luận và tư duy trừu tượng. Ký hiệu thông tin truyền hình thuộc ký
hiệu đồng nhất, thông tin trong truyền hình thường mang tính cụ thể, dễ hiểu

tiến hành ghi hình tại thực đại, thu thập thông tin liên quan.
- Hậu kỳ:
+ Xem lại hình ảnh được ghi lại, lên danh sách cảnh đã quay
+ Xây dựng kịch bản dựng
+ Dựng phim
+ Viết lời bình, đọc lời bình, hoàn tất, ghép nhạc…
+ Duyệt và phát sóng
+ Lắng nghe thông tin phản hồi
Hiện nay quá trình sáng tạo tác phẩm báo chí truyền hình có thể do một
cá nhân, cũng có thể là sự kết hợp của một nhóm (ê-kip).
* Chương trình truyền hình:
Trong tiếng Anh chương trình là “progamme”, chương trình truyền
hình là “progamme television”. Có nhiều quan niêm về chương trình truyền
hình:
“Chương trình truyền hình là sự liên kết bố trí hợp lý các tin bài, bảng
tư liệu, hình ảnh, âm thanh trong một thời gian nhất định…, đáp ứng yêu cầu
tuyên truyền của cơ quan báo chí truyền hình nhằm mang lại hiệu quả cao
nhất” [35, tr.113]
“Chương trình truyền hình là sản phẩm lao động của một tập thể các
nhà báo và cán bộ kỹ thuật dịch vụ… là quá trình giao tiếp truyền thông giữa
những người làm truyền hình với công chúng xã hội rộng rãi…” [32, tr.143]
Nhìn chung, có thể xem chương trình là hình thức thực tế hóa của
truyền hình trong đời sống xã hội để chuyển tải thông tin với công chúng.
Chương trình là hình thức thực tế hóa của truyền hình trong đời sống xã
hội để chuyển tải thông tin với công chúng. Chương trình truyền hình là kết


14
quả hoạt động, là sản phẩm tập thể. Đồng thời, cũng như các sản phẩm khác,
truyền hình có người sản xuất và người tiêu dùng. Người sản xuất tác động

giả cuốn Báo chí truyền hình G.V. Cudơnhetxốp, X.L. X vích, A.la.Iu rốpxki
(dịch giả Đào Tấn Anh) đã chia ra các nhóm thể loại như sau:
- Nhóm ghi nhận hiện thực đơn giản là các thể loại thông tin truyền
hình, gồm: bản tin (tin ngắn), tường thuật, phát biểu, phỏng vấn, phóng sự...
- Nhóm phân tích thông tin, sự kiện gọi là thể loại chính luận phân tích,
gồm: bình luận, tọa đàm, tranh luận, gặp gỡ đối thoại, bản tin (chương trình
thời sự)...
- Nhóm thông tin thể hiện theo bố cục hình ảnh mà tác giả đề xuất gọi
là nhóm chính luận nghệ thuật, gồm: bút ký, phác họa, tiểu luận..
Ngoài ra còn có thể loại khác như:
- Thể loại biếm họa, trào phúng như: tiểu phẩm trào phúng, thể loại đả
kịch (mang tính chính luận cao hơn tiểu phẩm)...
- Buổi phát hình, chương trình truyền hình, kênh truyền hình: như tạp
chí, giao lưu, truyền hình trực tiếp...
- Phim tài liệu truyền hình: bao gồm cả phim truyền hình và phim chân
dung.
* Kỹ năng sản xuất chương trình:
Kế hoạch của đài truyền hình là tạo lập kế hoạch chuyển tác phẩm báo
chí dưới dạng thể loại đến với công chúng. Nó phụ thuộc vào hai yếu tố:
- Khả năng xây dựng kế hoạch từ việc tổng hợp tình hình.
- Khả năng của lực lượng trong sáng tạo và sản xuất.
Như vậy để sản xuất chương trình truyền hình cần kết hợp hàng loạt
các yếu tố, mà trên thực tế có thể nhìn nhận là không cần thiết: vấn đề thể
loại, vấn đề kinh tế và đặc biệt là vấn đề tổ chức sản xuất. Để có được một tác
phẩm độc lập phải trải qua nhiều công đoạn sản xuất. Dựa theo tiêu chí kỹ
thuật có thể phân chia thành một số loại chương trình truyền hình:
- Chương trình sản xuất bằng băng từ
- Chương trình sản xuất bằng phim nhựa




17
Chương trình nhân đạo xã hội tuy không phải là một thể loại được
khẳng định trong lý thuyết về chương trình truyền hình nhưng bản thân nó với
những giá trị về nội dung và ý nghĩa xã hội đã tạo nên hiệu quả sâu rộng về
công tác tuyên truyền, về mặt ý nghĩa xã hội, vừa mang đến giá trị tinh thần
văn hóa- giải trí cho công chúng, vừa đem đến lợi ích cho cơ quan báo chí.
1.1.2. Tính nhân văn trong các chương trình truyền hình nhân đạo
1.1.2.1. Khái niệm nhân văn và chủ nghĩa nhân văn
- Nhân văn:
Có nhiều tác giả, tài liệu định nghĩa về khái niệm nhân văn, tuy nhiên
chưa có một khái niệm nào hoàn chỉnh làm nền tảng.
Theo Từ điển tiếng Việt, trang 1441 của Ban biên soạn từ điển New Era
của Nxb Văn hoá Thông tin năm 2005 thì “ Nhân văn: văn hoá loài người”.
Tác giả Lưu Văn Hi trong Từ điển tiếng Việt, trang 761 của Nhà xuất
bản Thanh Niên năm 2008 cũng cho rằng: “Nhân văn: Thuộc về văn hoá loài
người”.
Theo Từ điển Hán- Nôm (Hanosoft Dictionary): Nhân 人 là con
người; Văn: 文 là văn vẻ; văn từ; cái dấu vết do đạo đức lễ nhạc giáo hóa
mà có vẻ đẹp đẽ rõ rệt gọi là "văn", như văn minh, văn hóa . . .
Thuật ngữ “nhân văn” còn được hiểu theo nghĩa chiết tự của nó là:
Nhân = người. Ý nói mang các đặc trưng con người, bản chất con người.
Văn = văn hóa, văn minh. Theo đó "nhân văn": là mang những nét đặc
trưng thuộc bản chất của con người, là có tri thức văn hóa, văn minh.
Theo tác giả Vũ Hữu Hòa, Khoa Khoa học xã hội và nhân văn- Đại học
Duy Tân thì "nhân văn" là mang những nét đặc trưng thuộc bản chất của con
người kết hợp với nó là có tri thức văn hóa, văn minh.
Theo nhà văn- dịch giả Ngọc Châu phát biểu tại buổi tọa đàm "Báo chí
và văn chương cùng hướng tới giá trị nhân văn" thì : "hiểu theo cách chiết tự


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status