BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
TỔ CHỨC SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH
TRUYỀN HÌNH THỜI SỰ QUỐC TẾ
TRÊN ĐÀI PHÁT THANH VÀ TRUYỀN HÌNH
VĨNH LONG HIỆN NAY
Ngành
: Báo chí học
Mã số
: 60 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS.
CẦN THƠ - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu đề tài Tổ chức
sản xuất chương trình truyền hình thời sự quốc tế trên
Đài Phát thanh và Truyền hình Vĩnh Long hiện nay là của
2.1. Các chương trình truyền hình thời sự quốc tế của Đài Phát
thanh và Truyền hình Vĩnh Long
2.2. Tình hình tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình thời sự
33
quốc tế của Đài Phát thanh và Truyền hình Vĩnh Long hiện nay
2.3. Kết quả tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình thời sự
38
quốc tế của Đài Phát thanh và Truyền hình Vĩnh Long
54
Chương 3: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ, CHẤT
LƯỢNG TỔ CHỨC SẢN XUẤT CÁC CHƯƠNG TRÌNH
TRUYỀN HÌNH THỜI SỰ QUỐC TẾ TRÊN ĐÀI PHÁT
3.1. Giải pháp chung
3.2. Giải pháp cụ thể
72
72
77
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Biểu đồ 2.9:
Washington D.C
76
So sánh các chương trình tin tức, thời sự trên THVL1
So sánh các chương trình tin tức buổi sáng
Thị phần khán giả
So sánh các chương trình thời sự, tin tức trưa
Thị phần khán giả
So sánh các chương trình thời sự, tin tức buổi tối
Thị phần khán giả
So sánh các chương trình thời sự khuya
Thị phần khán giả
61
61
62
62
63
63
64
64
65
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
đài đã hòa vào nhiều mạng truyền hình cáp trong nước, được đưa lên vệ tinh
Vinasat và mạng internet. Nhờ đó, các chương trình của đài trong đó có chương
trình truyền hình thời sự quốc tế đã được khán giả biết đến nhiều hơn, góp phần
mang lại thông tin thiết thực cho người xem trên nhiều lĩnh vực như chính trị,
kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học...trong nước và thế giới.
Tổ chức sản xuất chương trình truyền hình là hoạt động quan trọng
trong việc thực hiện các chương trình truyền hình nói chung trong đó có
chương trình thời sự quốc tế, vì thế việc hiểu được công tác tổ chức sản xuất
là vô cùng cần thiết.
Thực tiễn đó đòi hỏi phải có những nghiên cứu kịp thời về tầm quan
trọng của việc tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình thời sự quốc tế.
Mặt khác, đây là đề tài còn ít được nghiên cứu. Những ý kiến đóng góp, phê
bình của khán giả gần xa cho các chương trình truyền hình thời sự quốc tế
cũng là yếu tố thôi thúc đội ngũ cán bộ lãnh đạo phòng Biên dịch, Ban biên
tập các chương trình nước ngoài Đài PT&TH Vĩnh Long (trong đó có bản
thân người viết luận văn này) phải nhanh chóng có những việc làm thiết thực
để nâng cao hiệu quả, chất lượng tổ chức sản xuất các chương trình truyền
hình thời sự quốc tế của Đài. Từ những nguyên nhân đó, tác giả mạnh dạn
đưa ra nghiên cứu đề tài “Tổ chức sản xuất chương trình truyền hình thời sự
quốc tế trên Đài PT&TH Vĩnh Long hiện nay” để chỉ ra thực trạng việc tổ
chức sản xuất các chương trình truyền hình thời sự quốc tế của Đài. Từ đó, luận
văn sẽ đề xuất các giải pháp khắc phục những tồn tại trong công tác tổ chức sản
xuất nhằm giúp các chương trình truyền hình thời sự quốc tế của Đài PT&TH
Vĩnh Long ngày càng khẳng định vị thế trong lòng khán giả gần xa.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Tổ chức sản xuất chương trình truyền hình không phải là một vấn đề
mới, đã có nhiều công trình nghiên cứu về đề tài này. Đối tượng khảo sát có
3
4
Với những đề tài nghiên cứu đi trước như trên, người viết có điều kiện
để tham khảo, học hỏi về mô hình tổ chức sản xuất chương trình truyền hình,
từ đó đi sâu nghiên cứu về việc tổ chức sản xuất chương trình truyền hình
thời sự quốc tế của Đài PT&TH Vĩnh Long.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Trước hết luận văn trình bày rõ hệ tri thức gồm những quan niệm cơ
bản về tổ chức sản xuất chương trình truyền hình, hệ thống các yếu tố cấu
thành tổ chức sản xuất chương trình truyền hình. Từ đó đánh giá thực trạng tổ
chức sản xuất các chương trình truyền hình thời sự quốc tế của Đài PT&TH
Vĩnh Long. Qua phân tích thực trạng tổ chức sản xuất các chương trình
truyền hình thời sự quốc tế cùng những yêu cầu khách quan của khán giả, của
nhiệm vụ thông tin quốc tế trong tình hình mới, đề tài nghiên cứu nêu ra
những giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng tổ chức sản xuất
các chương trình truyền hình thời sự quốc tế của Đài PT&TH Vĩnh Long.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích nêu trên, tác giả luận văn thực hiện một số
nhiệm vụ sau đây:
- Luận văn hệ thống hóa những vấn đề lý luận về tổ chức sản xuất các
chương trình truyền hình
- Phân tích thực trạng tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình
thời sự quốc tế trên Đài PT&TH Vĩnh Long, những mặt được và chưa được.
- Đề xuất phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả, chất lượng tổ
chức sản xuất các chương trình truyền hình thời sự quốc tế làm tốt nhiệm vụ
thông tin, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị và nhu cầu của khán giả.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Công tác tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình thời sự quốc tế
- Phương pháp thống kê: để phân tích, đánh giá hoạt động tổ chức sản
6
xuất các chương trình truyền hình thời sự quốc tế của Đài PT&TH Vĩnh Long
nhằm làm cơ sở kiến nghị cách nâng cao hiệu quả, chất lượng tổ chức sản
xuất chương trình.
6. Ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn là tài liệu tham khảo thêm về mặt lý luận báo chí truyền
thông về tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình thời sự quốc tế tại các
cơ sở đào tạo nghiên cứu truyền thông.
6.2. Giá trị thực tiễn
Luận văn có giá trị tham khảo về mặt thực tiễn tại các cơ quan báo chí
nói chung và tại Đài PT&TH Vĩnh Long nói riêng, giúp những người làm
truyền hình có hiểu biết sâu sắc hơn về tổ chức sản xuất các chương trình
truyền hình thời sự quốc tế, giúp tác giả đề tài mạnh dạn đưa ra một số kiến
nghị, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, chất lượng tổ chức sản xuất các
chương trình truyền hình thời sự quốc tế của Đài PT&TH Vĩnh Long.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
luận văn có kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình.
Chương 2: Thực trạng tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình
thời sự quốc tế trên Đài PT&TH Vĩnh Long hiện nay.
Chương 3: Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng tổ chức sản xuất
các chương trình truyền hình thời sự quốc tế trên Đài PT&TH Vĩnh Long.
7
8
nguồn lực cần thiết làm ra sản phẩm.
Thuật ngữ sản xuất trước đây chỉ bao hàm việc tạo ra sản phẩm hữu
hình. Sau này nó được mở rộng bao hàm cả việc tạo ra các dịch vụ. Ngày
nay, nói đến sản xuất có nghĩa là không kể việc nó tạo ra sản phẩm hữu hình
hay dịch vụ. Hệ thống sản xuất có các đặc tính:
Một là, hệ thống sản xuất chịu trách nhiệm cung cấp sản phẩm hay
dịch vụ cho nhu cầu xã hội.
Hai là, các hình thức sản xuất khác nhau có thể có đầu vào khác nhau,
đầu ra khác nhau, các dạng chuyển hóa khác nhau, song đặc tính chung của
nó là chuyển hóa các yếu tố đầu vào thành các kết quả đầu ra có tính hữu
dụng, có ích cho đời sống của con người.
Các đầu vào của sản xuất là nguyên vật liệu, lao động, các phương
tiện sản xuất, kỹ năng quản trị... Các đầu ra của sản xuất là sản phẩm hay
dịch vụ và các ảnh hưởng khác đến đời sống xã hội [44, tr.20].
Đề cập rõ hơn khái niệm sản xuất, giáo trình giảng dạy môn Tổ chức
lao động, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông cho rằng: “Quá trình
sản xuất là quá trình con người dùng sức lao động của mình thông qua công
cụ lao động tác động vào đối tượng lao động, nhằm mục đích tạo ra những
sản phẩm có ích cho nhu cầu xã hội” [20, tr.13].
Nếu coi sản xuất là một quá trình thì tổ chức sản xuất là các biện
pháp, các phương pháp, các thủ thuật để duy trì mối liên hệ và phối hợp hoạt
động của các cá nhân, các bộ phận cùng tham gia vào quá trình sản xuất đó
một cách hợp lý theo thời gian.
Nếu coi sản xuất là một trạng thái thì tổ chức sản xuất là các phương
pháp, các thủ thuật nhằm hình thành các bộ phận sản xuất có mối liên hệ chặt
chẽ với nhau và phân bổ chúng một cách hợp lý về mặt không gian.
Để tổ chức sản xuất tạo ra sản phẩm, đầu tiên cần phải phân chia quá
trình sản xuất tạo nên sản phẩm thành các quá trình riêng. Căn cứ vào
phương pháp, kỹ năng khác nhau, dựa trên lao động máy móc sẽ hình thành
khái niệm khác nhau về truyền hình. Hai tác giả người Pháp Brigitte Besse
10
và Didier Desormeaux, trong cuốn Phóng sự truyền hình, quan niệm rằng
truyền hình là “truyền thanh có minh họa”. Theo đó, “Làm thông tin trên
truyền hình, cũng là nói. Và nói tức là mô tả bằng cách trả lời những câu hỏi:
Ai? Khi nào? Ở đâu? Cái gì? Tại sao?” [6, tr.66].
PGS, TS. Dương Xuân Sơn, trong Tập bài giảng môn Truyền hình
của Khoa Báo chí, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn nêu:
“Truyền hình là một phương tiện thông tin đại chúng truyền đạt thông tin
nhờ phương tiện kỹ thuật đến đối tượng tiếp nhận là người xem. Thông tin
trong truyền hình gồm hình ảnh và âm thanh. Hình ảnh trong truyền hình có
cả hình ảnh động và hình ảnh tĩnh” [34, tr.3].
Trong cuốn Truyền thông đại chúng, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội,
2001 tác giả Tạ Ngọc Tấn cho rằng: “Truyền hình là một loại phương tiện
thông tin đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh. Nguyên
nghĩa của thuật ngữ vô tuyến truyền hình bắt đầu từ hai từ Tele có nghĩa là “ở
xa” và Vision nghĩa là “thấy được”, tức là “thấy được ở xa” [37, tr.143].
Hai định nghĩa trên đều xác định phương tiện ngôn ngữ của truyền
hình là hình ảnh và âm thanh. Đây chính là đặc trưng của truyền hình. Thực
chất, cội nguồn trực tiếp của truyền hình là điện ảnh. Chính điện ảnh đã cung
cấp cho truyền hình những ý tưởng, gợi ý đầu tiên về một phương thức truyền
thông cũng như một kho tàng những phương tiện biểu hiện phong phú, có sức
thuyết phục mạnh mẽ, làm cơ sở cho truyền hình có thể thích ứng nhanh
chóng với những đặc trưng kỹ thuật riêng của mình. Cho dù có những khác
biệt về nhiều phương diện thì điện ảnh và truyền hình vẫn có chung một cơ sở
ngôn ngữ cũng như một phương pháp tiếp nhận thông tin.
Về mặt kỹ thuật, truyền hình hoạt động theo nguyên lý cơ bản sau:
hình ảnh về sự vật được máy ghi hình biến đổi thành tín hiệu điện trong đó
diễn, quay phim, họa sỹ, kỹ thuật viên và các bộ phận hành chính hỗ trợ khác
dưới sự điều hành tổ chức chặt chẽ của một cơ chế thống nhất.
Về khái niệm chương trình, chương trình là toàn bộ những nội dung dự
kiến hành động theo một trình tự nhất định và trong một thời gian nhất định.
Chương trình còn được định nghĩa là một loạt các hoạt động được
12
thực hiện với sự hỗ trợ của các nguồn lực nhằm đạt được những mục tiêu cụ
thể cho các nhóm khách hàng, nhóm đối tượng đã được định sẵn. Để đánh giá
chương trình là sự thu thập cẩn thận các thông tin về một chương trình hoặc
một vài khía cạnh của một chương trình để ra các quyết định cần thiết đối với
chương trình.
Tác giả Trần Bảo Khánh trong cuốn Sản xuất chương trình truyền
hình viết: “với sự xuất hiện của phát thanh, sau đó là truyền hình thì cũng
xuất hiện thuật ngữ chương trình. Đây là thuật ngữ mang tính bản chất của
chúng. Có thể đưa ra khái niệm như sau về chương trình: “là kết quả cuối
cùng của quá trình giao tiếp với công chúng” [22, tr.30] và “chương trình tạo
thành chu kỳ khép kín những mắt xích trong chuỗi giao tiếp” [22, tr.31].
Chương trình truyền hình là khái niệm được sử dụng rộng rãi, phổ
biến trong lĩnh vực truyền hình.
Chương trình truyền hình cũng như chương trình trong các lĩnh vực
khác, là một sản phẩm được sắp xếp, tạo ra từ nhiều công đoạn khác nhau, kết
hợp hàng loạt yếu tố từ nhân sự, máy móc,... để tạo nên sản phẩm.
Thuật ngữ chương trình có nhiều nghĩa như chương trình của Đài
Truyền hình, chương trình của tháng, chương trình tuần, chương trình ngày
và một tác phẩm cụ thể cũng được gọi là chương trình.
Chương trình của tháng, chương trình tuần, chương trình ngày là sự
sắp xếp một chuỗi các tác phẩm báo chí truyền hình nhiều thể loại theo một
thứ tự nhất định, phân bổ thời lượng hợp lý, đan xen chương trình theo nội
chương trình truyền hình làm sâu sắc thêm một cách trực tiếp những tư
tưởng, chủ đề, dần dần tạo thói quen trong ý thức công chúng.
Các loại hình truyền thông đại chúng như báo in, phát thanh, truyền
hình có sự khác biệt nhau trong phương thức phản ánh và tái tạo thực tế. Song
giữa chúng có sự khác nhau bản chất đều là các phương tiện thông tin đại
chúng nghĩa là giống nhau ở sự ngắn gọn để tiết kiệm thời gian nhận thông
tin. Bên cạnh đó còn có thể thấy sự giống nhau diễn ra trong cả quan niệm
14
trong sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm này. Với cách tiếp cận này, có thể
thấy rằng:
Từ phương tiện kỹ thuật truyền bá thông tin, nhiệm vụ của chương
trình là làm sao để có thể đưa ra được lời giải đáp, lời hướng dẫn cho thực tế
khi xây dựng chương trình truyền hình. Quy định được nguyên tắc phối hợp
tin, bài. Đây hoàn toàn là một khuynh hướng tiếp cận mang tính chất nghề
nghiệp, là hệ quả của việc nghiên cứu, tiếp xúc với xã hội, là kết quả của mối
quan hệ giữa truyền hình và công chúng sau khi chịu tác động của thông tin
truyền hình.
Mặt khác, cũng có thể thấy rằng, chương trình - đó là hình thức thực
tế hóa, hình thức vật chất hóa sự tồn tại của truyền hình trong đời sống xã hội
để truyền tải thông tin đến công chúng.. Có thể nói nếu không có chương trình
thì không có truyền hình. Nhưng cũng cần hiểu, chương trình truyền hình là
kết quả hoạt động, là sản phẩm của tập thể bao gồm các bộ phận lãnh đạo, bộ
phận kỹ thuật, bộ phận nội dung chương trình, bộ phận hậu cần,... tạo nên thuật
ngữ chương trình truyền hình cả về mặt sáng tạo và sản xuất chương trình. Cũng
như việc sản xuất các sản phẩm khác, truyền hình có người sản xuất, có người
tiêu dùng. Người sản xuất sản phẩm báo chí tác động đến người tiêu dùng và
ngược lại, người tiêu dùng cũng tác động, chi phối tới người làm ra sản phẩm
thông qua mối quan hệ: nhà báo - tác phẩm - công chúng.
chương trình truyền hình trực tiếp, giá thành sản xuất của loại chương trình
này rất cao, đòi hỏi sự chuẩn xác lớn, nhân sự chuyên nghiệp. Vì vậy chỉ
những chương trình lớn, tiêu biểu, có ý nghĩa, có ảnh hưởng chi phối nhiều
hoạt động khác nhau trong đời sống xã hội mới được lựa chọn làm trực tiếp.
Để làm được chương trình này, nhà sản xuất cần phải chuẩn bị kỹ về kịch
bản, quan sát hiện trường, dự kiến các tình huống có thể xảy ra ngoài kịch
bản. Việc tổ chức sản xuất chương trình truyền hình trực tiếp đòi hỏi sự tập
trung cao của đội ngũ sản xuất, kịch bản, nội dung phải được duyệt chặt chẽ
trước đó, nhằm đảm bảo hạn chế sai sót khi lên sóng. Tất cả các bộ phận làm
16
chương trình phải kết hợp với nhau một cách nhuần nhuyễn. Những sự kiện
được truyền hình trực tiếp thu hút sự chú ý của công chúng không phải chỉ ở
địa phương, trong một nước, mà còn ở nhiều nước khác nhau, có khi còn
mang tính toàn cầu.
Còn chương trình sản xuất qua băng từ hay file trên máy tính là loại
chương trình sản xuất thường xuyên, phổ biến nhất tại các kênh truyền hình.
Cách sản xuất này mất thời gian; sự việc, hiện tượng được thông tin chậm
hơn so với thời gian diễn ra. Nhờ vậy, người làm chương trình bớt căng thẳng
so với làm chương trình truyền hình trực tiếp và có thời gian để trau chuốt,
sửa chữa chương trình hơn. Việc tổ chức sản xuất chương trình truyền hình
dạng này nhẹ nhàng hơn là làm trực tiếp, nhưng vẫn phải đảm bảo các yếu tố
về nội dung, kỹ thuật...
Tác giả Trần Bảo Khánh, trong cuốn Sản xuất chương trình truyền
hình, đã chia các thể loại của báo chí truyền hình thành ba nhóm chính là:
Nhóm hội thoại, nhóm tạo hình, nhóm các tác phẩm TV gameshow.
Theo đó, nhóm chương trình theo dạng hội thoại có hình thức thông
tin chủ yếu là lời nói, nghệ thuật tạo hình không đặc sắc lắm, bao gồm các thể
loại như phỏng vấn, bình luận, đàm luận, phát biểu trên truyền hình…Thông
1.2.1. Tổ chức nhân sự
Về mặt khái niệm, nhân sự được hiểu là người làm công việc nào đó ở
cơ quan hoặc một nơi có tổ chức. Mỗi hình thái kinh tế xã hội đều gắn liền
với một phương thức sản xuất nhất định. Dù ở bất cứ xã hội nào thì vấn đề
mấu chốt của quá trình sản xuất cũng là tổ chức nhân sự. Một doanh nghiệp
dù có nguồn tài chính dồi dào, nguồn tài nguyên phong phú, hệ thống máy
móc thiết bị hiện đại như thế nào đi chăng nữa cũng sẽ trở nên vô ích, nếu
không biết hoặc sử dụng kém nguồn tài nguyên nhân sự.
Tổ chức nhân sự bao gồm các nội dung cơ bản sau:
- Phân tích công việc
- Tuyển dụng nhân sự
18
- Đào tạo và nâng cao năng lực chuyên môn cho nhân sự
- Nâng cao hiệu quả sử dụng lao động thông qua việc sử dụng hệ
thống kích thích vật chất tinh thần đối với nhân sự.
Bất kỳ cơ quan, doanh nghiệp nào hình thành và hoạt động đều phải có kế
hoạch tổ chức nhân sự, mức độ phức tạp tùy thuộc vào loại hình công việc.
Để tổ chức nhân sự khoa học, hiệu quả người sản xuất cần thực hiện
những nhiệm vụ sau:
- Tổ chức và sử dụng nhân sự một cách có kế hoạch và hợp lý nhằm
đảm bảo tiết kiệm nhân sự, đồng thời sử dụng tối đa và hiệu quả các nguồn
nhân lực khác, không ngừng tăng năng suất lao động.
- Xây dựng trong đơn vị mối quan hệ công tác giữa người và người,
giữa người với tư liệu sản xuất hợp lý để quá trình sản xuất đạt hiệu quả cao.
- Không ngừng cải thiện điều kiện làm việc, đảm bảo cho sản xuất an
toàn, bảo vệ sức khỏe, ngăn chặn bệnh nghề nghiệp, nâng cao đời sống vật
chất lẫn tinh thần cho người lao động.
- Có chính sách khuyến khích phát huy mọi khả năng sáng tạo của lực
tùy thuộc vào năng lực, nguyện vọng của từng người. Thực tế, có những
người làm thời sự rất tốt nhưng không phù hợp làm chương trình chuyên đề
và ngược lại. Người làm quản lý phải làm thế nào để khai thác tối đa năng lực
của từng nhân sự.
Chất lượng nhân sự làm truyền hình rất quan trọng, việc tổ chức lực
lượng nhân sự đó như thế nào cho hợp lý còn quan trọng hơn. Không giống
các ngành nghề khác, nghề báo đòi hỏi cao tính sáng tạo và vai trò của cái tôi
cá nhân. Tờ báo nào cũng có phong cách riêng, nhưng mỗi bài báo lại cũng
có sự khác nhau, có màu sắc riêng. Việc quản lý tổ chức nhân sự trong một
cơ quan báo chí nói chung và truyền hình nói riêng vừa phải đảm bảo tính
thống nhất về tư tưởng, hành động nhưng cũng phải đảm bảo khuyến khích ý
kiến cá nhân của người làm báo, phát huy tinh thần sáng tạo.
Ngoài nhân sự sản xuất chính chương trình truyền hình, các kênh hiện
nay còn có thêm đội ngũ cộng tác viên, “để cho cơ quan báo chí thu hút được
20
trí tuệ toàn xã hội vào việc nâng cao chất lượng tờ báo” [40, tr.220]. Cộng tác
viên có thể là người giúp nhân sự chính ở một khâu nào đó trong sản xuất
chương trình truyền hình hoặc là những người tuy không làm nghề báo nhưng
có hiểu biết sâu sắc về lĩnh vực mà chương trình truyền hình đề cập đến. Ở
nhiều lĩnh vực, tuy phóng viên, biên tập viên là những người giỏi nghiệp vụ
nhưng sự hiểu biết sâu về nội dung còn hạn chế. Người viết dù giỏi đến đâu
cũng không thể thay thế được trí tuệ toàn xã hội. Những cộng tác viên am
hiểu và có uy tín sẽ giúp người thực hiện chương trình khỏa lấp điểm yếu
này. Những nhân sự chính của kênh có thể dần dần học tập thêm về chuyên
môn từ những cộng tác viên như thế. Trên thực tế, nhiều cơ quan báo chí đã
tổ chức các tổ tư vấn, hội đồng biên tập để giúp đỡ ban biên tập và các nhân
sự chính thực hiện tốt phương hướng đề ra của chương trình, tham gia góp ý
về đề tài, nội dung của chương trình.
Lĩnh vực truyền hình gồm rất nhiều trang thiết bị, máy móc có chức
năng khác nhau như tạo tín hiệu hình, gia công xử lý tín hiệu, tạo các dạng kỹ
xảo truyền hình, phát sóng, ghi, thu tín hiệu hình. Ngoài ra, còn có các thiết
bị âm thanh, ánh sáng, trường quay.
Các thiết bị thu phát tín hiệu hiện nay như vệ tinh, mạng internet giúp
việc truyền tải thông tin được nhanh chóng, dễ dàng hơn. Hay đơn giản việc
chuyển đổi từ bàn dựng analog sang bàn dựng phi tuyến tính cũng giúp người
làm chương trình lựa chọn được những kỹ xảo đẹp, quy trình dựng cũng đơn
giản hơn nhiều.
Hệ thống máy móc, trang thiết bị kỹ thuật mang lại nhiều tiện ích cho
quá trình sản xuất chương trình truyền hình. Tuy nhiên, chi phí đầu tư cho
các hệ thống thiết bị hiện đại rất đắt đỏ. Cho nên việc thường xuyên đổi mới
kỹ thuật, trang bị những máy móc hiện đại còn tùy thuộc vào tiềm lực kinh tế
của mỗi kênh truyền hình. Không phải cứ khi khoa học kỹ thuật phát minh ra
máy móc, công nghệ mới về truyền hình là bất cứ một kênh nào cũng có thể
tiếp cận được. Ngoài ra, mỗi khi có công nghệ mới, các kênh truyền hình còn