Nghiên cứu, thăm dò hiện trạng môi trường và đa dạng vi tảo vùng rừng ngập mặn tại vườn quốc gia xuân thủy nam định - Pdf 35

Nghiên cứu, thăm dò hiện trạng môi trường và đa dạng vi tảo vùng rừng ngập mặn tại Vườn quốc gia Xuân Thủy
Nam Định - Phạm Hùng Cường - Lớp CNMT K49.


I.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

I.1. Đất ngập nước:
I.1.1. Khái niệm về đất ngập nước:
Đất ngập nước là khu vực mà yếu tố chính yếu đầu tiên kiểm soát,điều khiển
môi trường sống là nước và nó liên quan đến cuộc sống cuộc sống của động thực vật
trong khu vực. Đó là nững vùng đất có nguồn nước ở gần hoặc được che phủ bởi nước.
Theo công ước Ramsar thì “Đất ngập nước bao gồm: những vùng đầm lầy,đầm lầy
than bùn, những vực nước bất kể là tự nhiên hay nhân tạo, những vùng ngập nước tạm
thời hay thường xuyên, những vực nước tĩnh hay chảy, là nước ngọt, nước lợ hay nước
mặn, kể cả những vực nước biển có độ sâu không quá 6 m khi triều thấp” [13].
Do đó, năm vùng đất ngập nước được công nhận theo công ước Ramsar:
• Biển (vùng đất ngập nước ven biển bao gồm đầm phá ven biển, bờ đá ven
biển và các rạn san hô ven biển).
• Vùng cửa sông (bao gồm cả đồng bằng châu thổ, vùng đầm lầy có tính
chất thủy triều, rừng ngập mặn).
• Hồ (đất ngập nước ven hồ).
• Sông (đất ngập nước dọc theo sông suối)
• Đầm lầy [13].
Chú thích: Công ước Ramsar đã ra đời tại Ramsar ( Iran) năm 1971,là công ước
quốc tế về bảo tồn sớm nhất thế giới, công ước với mục đích là để bảo tồn các vùng đất
ngập nước và đã có nhiều thành quả quan trọng về việc bảo tồn các vùng đất ngập nước
được ghi nhận. Công ước Ramsar bắt buộc 153 nước thành viên( năm 2007) của mình
phân khu và bảo vệ các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế và thúc đẩy việc
“sử dụng hợp lý” các vùng đất này. Mới đây,gần 1616 khu vực( gọi là khu Ramsar) đã

một khu rừng gồm các vòm cây,được gọi là rừng đầm lầy. Rừng ngập mặn được tìm
thấy nhiều hơn 2/3 của dọc tất cả bờ biển nhiệt đới, các khu rừng này rất hẹp, và do vậy
diện tích rừng ngâp mặn chiếm diện tích nhỏ hơn 0,1% diện tích bề mặt trái đất.
Bùn đen đậm của vùng đầm lầy ngập mặn là một kẻ thù lớn cho các loài thực
vật nơi đây, bởi vì đất với độ hòa tan ôxi thấp cho rễ cây và sự độc hại của các hợp chất
lưu huỳnh. Độ mặn nước biển thích hợp cho sự phát triển của rừng ngập mặn là 15250/00, sự bay hơi nước từ bùn của rừng ngập mặn là kết quả của sự tập trung cao của
muối được thực vật trong rừng thích nghi.Những loài thực vật sống chỗ vùng nước
ngoài khơi bên ngoài vùng đầm lầy của rừng ngập mặn gọi là các cây chịu mặn,nghĩa
là cây có sự điều chỉnh để phù hợp với độ mặn của đất, nhiều cây có thể chịu được độ
mặn trong đất rừng ngập mặn gấp 2 lần độ mặn của nước biển.Các loài thực vật ít chịu
được độ mặn này thì sống ở các vùng đất phía đất liền, dọc vùng cửa sông nơi mà nước
mặn và nước ngọt tiếp xúc với nhau, gọi là vùng nước lợ [14].

Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) - ĐHBKHN - Tel: (+84.4) 8681686 - Fax: (+84.4) 8693551. 2


Nghiên cứu, thăm dò hiện trạng môi trường và đa dạng vi tảo vùng rừng ngập mặn tại Vườn quốc gia Xuân Thủy
Nam Định - Phạm Hùng Cường - Lớp CNMT K49.


Hình I.1: Bản đồ rừng ngập mặn trên thế giới
Năm 2007 - theo tạp chí địa lý quốc tế.

I.2.2. Hệ sinh thái rừng ngập mặn:
Rừng ngập mặn bao gồm các loài thực vật bậc cao( sú, vẹt, mắm đước, bần …)
nhưng có khả năng sống trong vùng nước mặn, chúng góp phần bảo vệ vùng ven bờ.
Trong hệ sinh thái rừng ngập mặn, các loài động thực vật, vi sinh vật trong đất và môi
trường tự nhiên được liên kết với nhau thông qua quá trình trao đổi và đồng hóa năng
lượng. Các quá trình nội tại như cố định năng lượng, tích lũy sinh khối, phân hủy vật
chất hữu cơ và chu trình dinh dưỡng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi các nhân tố bên


Nghiên cứu, thăm dò hiện trạng môi trường và đa dạng vi tảo vùng rừng ngập mặn tại Vườn quốc gia Xuân Thủy
Nam Định - Phạm Hùng Cường - Lớp CNMT K49.


của các loài này đều cao hơn hẳn các vùng đất, cát ở ngoài vùng đầm lầy rừng ngập
mặn. Từ đó chúng ta thấy rằng rừng ngập là nơi nuôi dưỡng chính cho con non của
nhiều loài hải sản.

Hình I.3: Hình ảnh của một hệ sinh thái rừng ngập mặn.

I.2.3. Vai trò của rừng ngập mặn:

Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) - ĐHBKHN - Tel: (+84.4) 8681686 - Fax: (+84.4) 8693551. 5


Nghiên cứu, thăm dò hiện trạng môi trường và đa dạng vi tảo vùng rừng ngập mặn tại Vườn quốc gia Xuân Thủy
Nam Định - Phạm Hùng Cường - Lớp CNMT K49.


Hình I.4: Vai trò của rừng ngập mặn
Nguồn: Viện nghiên cứu Subtropics, 2003.

Hầu như chúng ta đều cho rằng: Rừng ngập mặn như một “bãi lầy độc hại” chứa
đầy những dịch bệnh, thường bị loại bỏ trong chương trình bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Nhưng giờ khi chúng ta đã hiểu về chúng rõ hơn, thì rừng ngập mặn chính là nguồn tài
nguyên ven biển thật sự quý giá và hữu ích.
Các loại cây trong hệ thống rừng ngập mặn có thể lớn nhanh trong những điều
kiện đặc biệt, mà không một loài cây nào khác có thể phát triển được và giống như
trong rừng nhiệt đới, chúng cho rất nhiều lá và chất hữu cơ. Thay vì ngấm vào đất, lá

Rừng ngập mặn bảo vệ dải đất ven bờ khỏi bị cuốn trôi trong các đợt bão. Rễ và
thân cây chặn sức mạnh của nước, lá và nhánh cây làm giảm đi những ảnh hưởng của
gió và mưa, là vành đai chống xói lở, bảo vệ các bãi bồi ven biển, mở rộng diện tích
lục địa, hạn chế sự xâm nhập mặn, bảo vệ đê điều đồng ruộng, ổn định đời sống người
dân ven biển trước sự tàn phá của bảo lụt và thiên tai [1] , [2] [22].
Trong đô thị, rừng ngập mặn đóng vai trò quan trọng khi chất thải thành phố
làm ô nhiễm vùng nước ven biển. Nước thải thành phố chảy vào vùng đầm lầy chứa
cây rừng ngập mặn, thông thường chúng sẽ được các loài thực vật và động vật trong
đầm lầy hấp thụ và sử dụng. Đầm lầy sẽ lọc nước, tận dụng các chất bổ và hấp thụ các
chất độc, tạo ra làn nước trong xanh và lành mạnh. Chừng nào các đô thị không “đẻ” ra
quá nhiều chất thải cho rừng, và chất thải không chứa quá nhiều chất độc từ ngành
công nghiệp, thì rừng ngập mặn chính là một hệ thống xử lý chất thải hiệu quả, rẻ tiền
hơn nhiều so với bất cứ nhà máy xử lý chất thải nào [19] [20] [22].
Rừng ngập mặn còn được ví như một nhà máy lọc sinh học khổng lồ: nó không
chỉ hấp thụ khí CO2 do hoạt động công nghiệp và sinh hoạt thải ra, mà còn sinh ra một
lượng ô-xy rất lớn, làm cho bầu không khí trong lành. Theo giáo sư: Jin Eong Ong,
Trung tâm nghiên cứu biển( Đại Học Sains, Malaysia) và Chương trình địa quyển và
sinh quyển quốc tế( Chương trình IGBP): Tác giả đã tính toán và đo lường được mỗi
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) - ĐHBKHN - Tel: (+84.4) 8681686 - Fax: (+84.4) 8693551. 7


Nghiờn cu, thm dũ hin trng mụi trng v a dng vi to vựng rng ngp mn ti Vn quc gia Xuõn Thy
Nam nh - Phm Hựng Cng - Lp CNMT K49.


ha rng ngp mn cú th hp th c 1,5 tn cacbon trong vũng mt nm, lng
cỏcbon ny tng ng lng khớ thi vo ca mt chic xe mỏy thi vo khớ quyn
trong vũng mt nm(vi nh mc tiờu th xng du cho mt xe l 2500 lớt du/nm)..
iu ny cú ngha l chuyn i 2% din tớch rng ngp mn vo cỏc ao nuụi trng
thy sn, tt c li th ca rng ngp mn nh l b cha cỏcbon t khụng khớ s b

Vin Khoa hc v Cụng ngh Mụi trng (INEST) - HBKHN - Tel: (+84.4) 8681686 - Fax: (+84.4) 8693551. 8


Nghiờn cu, thm dũ hin trng mụi trng v a dng vi to vựng rng ngp mn ti Vn quc gia Xuõn Thy
Nam nh - Phm Hựng Cng - Lp CNMT K49.


-Các tế bo tảo nhân chuẩn thờng có lớp bao bọc ngoi cùng l thnh hay
vách tế bo - đợc cấu tạo từ polysaccharide do thể golgi tiết ra. Tiếp theo, đến mng
sinh chất , mng ny l một cấu trúc sống có chức năng điều khiển dòng vo, dòng ra
các sản phẩm trao đổi chất tế bo. Tế bo vận động đợc nhờ có roi. Roi gắn vo mng
sinh chất hoạt động đợc nhờ số lợng v chiều vận động đặc thù của vi ống bên trong
roi. Nhân tế bo có mng kép, trên mng có lỗ nhân. Cấu trúc của nhân bao gồm nhân
con, nhiễm sắc thể v chất nhân [6].

I.2.4.3. Phõn loi vi to:
Vi to ch yu thuc v cỏc chi trong cỏc ngnh sau õy ca h thng phõn loi
to theo Peter Pancik:
a, Ngnh To lc (Chlorophyta):
Cỏc chi Closterium, Coelastrum, Dyctyosphaerium, Scenedesmus, Pediastrum,
Staurastrum, Dunaliella, Chlamydomonas, Haematococcus, Tetraselmis, Chlorella ...
C th gm cỏc lp sau:
Lp to lc (Chlorophyceae):
-Volvocales.
-Tetrasporales.
-Chlorococcales.
-Ulotrichales.
-Bryopsidales.
-Siphonocladales.
Lp to tip hp (Conjugatophyceae):

Lớp tảo nâu (Phaeophyceae):
-Isogeneratae.
-Heterogeneratae.
-Cyclosporae.
c, Ngành Tảo mắt (Euglenophyta):
Các chi Phacus, Trachelomonas, Ceratium..
d, Ngành Tảo đỏ (Rhodophyta):
Các chi Porphyridium, Rhodella... [6].

I.2.4.4. Vai trò của vi tảo trong hệ sinh thái rừng ngập mặn:
Vai trò của vi tảo trong hệ sinh thái rừng ngập mặn là nguồn thức ăn sơ cấp và
quyết định năng suất sinh học của hệ sinh thái rừng ngập măn, được thể hiện qua biểu
đồ hình chóp của dòng thức ăn như sau:

Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) - ĐHBKHN - Tel: (+84.4) 8681686 - Fax: (+84.4) 8693551. 10


Nghiên cứu, thăm dò hiện trạng môi trường và đa dạng vi tảo vùng rừng ngập mặn tại Vườn quốc gia Xuân Thủy
Nam Định - Phạm Hùng Cường - Lớp CNMT K49.


Hình I.5 : Tháp thức ăn trong rừng ngập mặn [35].
Trong năm thành phần cấu tạo nên một hệ sinh thái gồm: sinh vật sản xuất,
sinh vật tiêu thụ, sinh vật phân hủy, các chất vô cơ (CO2, H2O, O2, CaCO3…), các yếu
tố khí hậu (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, lượng mưa…), các chất hữu cơ (protein, lipit,
axit béo…). Vi tảo với khả năng quang hợp cùng với các sinh vật sản xuất khác (cây
xanh, nấm, vi khuẩn) lấy các chất dinh dưỡng từ bên ngoài môi trường tổng hợp nên
thức ăn nuôi sống chính bản thân chúng và cả hệ sinh thái rừng ngập mặn, trong đó có
cả con người. Và vi tảo cùng các vi sinh vật khác ( vi khuẩn, nấm) chuyển nguồn dinh
dưỡng phong phú từ lá cây rừng, xác sinh vật khác thành sinh khối rồi đi vào chuỗi

dụng tối đa ôxi do tảo sản xuất ra cho các nhu cầu ôxi hóa chất thải. Hầu hết các ao, bể
phản ứng này mang lợi cho xử lí nước thải, thu của năng lượng mặt trời, và được sử
dụng để xử lý chất thải từ các trại chăn nuôi lợn.Trong các hệ thống này, năng suất lên
đến 50 (t/ha.năm) là khả thi. Sinh khối có thể được thu hoạch từ các HRAPs cho thức
ăn gia súc, và có thể được xem như là một phần không thể thiếu của phương pháp tiếp
cận tích hợp để tái chế chất thải của quá trình chăn nuôi , trong đó tảo xử lý nước thải
là một bước thứ hai, sau phần ban đầu xử lí thiếu khí( phương pháp xử lí nước thải đầu
vào có nồng độ ô nhiễm hữu cơ cao) (Ogbonna et al. 2000; Olguin 2003) [28],
[29].Thông thường, không có sự nỗ lực thực hiện để kiểm soát các loài, thành phần
trong xử lý nước thải ao. Tuy nhiên, một điều thu bùn hoạt tính qua quá trình tuyển nổi
hoặc bông kết hiệu quả sẽ tạo điều kiện thuận lợi rất nhiều thu sinh khối. Một kinh tế
Hà Lan đánh giá kết luận rằng việc sử dụng các tảo cho sản xuất công nghiệp, xử lí
nước thải và sinh khối tảo có thể đem lại được lợi nhuận hợp lý với một số vốn thu lại
sau 2-4 năm, với chi phí sản xuất của 0,4 - 0,6€ cho mỗi m3, tương ứng 2 - 4 kg trọng
lượng khô tảo/€( Reith 2004) [30]. Sản xuất nhiên liệu sinh học có thể kết hợp với xử
lý nước thải và tái chế chất dinh dưỡng được xem là một ứng dụng tương lai gần( 5 đến
10 năm), từ khi có tảo đã được sử dụng trong việc xử lý nước thải.
2. Xử lí ô nhiễm chất hữu cơ và kim loại nặng:
Chlorella, Ankistrodesmus hoặc Scendesmus loài vi tảo đã được sử dụng để xử
lí nước thải ô nhiễm hữu cơ từ bột giấy và nghiền bột giấy và xay dầu ôliu (Munoz và
Guieysse 2006) [31]. Tuy nhiên, vi tảo Heterotrophic thường bị cạnh tranh bởi vi
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) - ĐHBKHN - Tel: (+84.4) 8681686 - Fax: (+84.4) 8693551. 12


Nghiên cứu, thăm dò hiện trạng môi trường và đa dạng vi tảo vùng rừng ngập mặn tại Vườn quốc gia Xuân Thủy
Nam Định - Phạm Hùng Cường - Lớp CNMT K49.


khuẩn, vì nó có mức thấp hơn về tốc độ tăng trưởng. Tảo và vi khuẩn, tuy nhiên có thể
được kết hợp để làm sạch nước thải. Việc quang hợp của tảo sản xuất ôxi,làm giảm nhu

l/thùng) dầu chảy ra biển do các hoạt động trên đất liền và các hoạt động rửa két dầu
Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) - ĐHBKHN - Tel: (+84.4) 8681686 - Fax: (+84.4) 8693551. 13


Nghiên cứu, thăm dò hiện trạng môi trường và đa dạng vi tảo vùng rừng ngập mặn tại Vườn quốc gia Xuân Thủy
Nam Định - Phạm Hùng Cường - Lớp CNMT K49.


của các tàu biển. Ô nhiễm dầu do tràn dầu là kẻ thù đối với các hệ sinh thái rừng ngập
mặn ven biển.
-Ô nhiễm, sự xâm hại của các loài không phải bản địa, cùng sự biến đổi của
các sinh cảnh ven bờ đang là mối đe doạ không ngừng tăng lên đối với các hệ sinh thái
biển quan trọng như rừng ngập mặn, thảm cỏ biển và các rạn san hô.
-Rừng ngập mặn là "chiếc nôi" cho 85% loài cá ở vùng nhiệt đới. Tuy vậy, do
gây ô nhiễm hoá chất và phân bón trong nước, các ao,đầm nuôi thủy sản như là nuôi
tôm là nguyên nhân quan trọng trong việc phá huỷ gần 1/4 diện tích rừng ngập mặn
trên thế giới.

I.3. Giới thiệu về rừng ngập mặn Xuân Thuỷ, Nam Định:
I.3.1. Tìm hiểu về khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng:
Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng (còn có tên khu dự trữ sinh quyển
đồng bằng sông Hồng) là 1 khu vực dự trữ sinh quyển thế giới do UNESCO công nhận
ngày 2 tháng 12 năm 2004 cho một phần đất phía nam vùng duyên hải Bắc Bộ(thuộc
đồng bằng sông Hồng). Đây là 1 trong 6 khu dự trữ sinh quyển được USNESCO công
nhân tại Việt Nam cho đến hết năm 2007.Ngày 13/10/2008 UNESCO chính thức trao
bằng dự trữ sinh quyển thế giới cho khu dự sinh quyển châu thổ sông Hồng tại Vườn
quốc gia Xuân Thủy tỉnh Nam Định.Tên đầy đủ là khu dự trự sinh quyển đất ngập
nước ven biển liên tỉnh châu thổ sông Hồng,thuộc 5 huyện Kim Sơn(tỉnh Ninh
Bình);Giao Thủy,Nghĩa Hưng(tỉnh Nam Định);Thái Thụy,Tiền Hải(tỉnh Thái
Bình).Tổng diện tích của khu dự trữ sinh quyển này lớn hơn 105 ngàn ha,vùng lõi có

I.3.2.2. Đặc điểm khí hậu thủy văn:
1. Khí hậu:
Vùng biển huyện Giao Thủy (nơi có Vườn quốc gia Xuân Thủy) nằm trong
miền nhiệt đới gió mùa khí hậu phân thành 2 mùa rõ rệt:Mùa nóng từ tháng 4 đến
tháng 10,trùng với mùa mưa; mùa lạnh bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau,trùng
với mùa khô.
-Nhiệt độ trung bình là 240C nhiệt độ cao nhất mùa hè là 40,3 0 C,còn nhiệt độ
thấp nhất là vào mùa đông là 6,80 C,độ ẩm trung bình là 84%.
-Lượng mưa trung bình năm là từ 1700-1800,số ngày mưa trong năm là khoảng
133 ngày chế độ mưa phân bố theo 2 mùa rõ rệt trên nền 2 mùa hè và mùa đông,có
những giao thời mùa đông xuân và hè thu.

Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) - ĐHBKHN - Tel: (+84.4) 8681686 - Fax: (+84.4) 8693551. 16


Nghiên cứu, thăm dò hiện trạng môi trường và đa dạng vi tảo vùng rừng ngập mặn tại Vườn quốc gia Xuân Thủy
Nam Định - Phạm Hùng Cường - Lớp CNMT K49.


-Gió về mùa đông thịnh hành gió hướng Bắc,đầu hè là gió hướng đông sau
chuyển hướng gió đông nam.Tốc độ gió mùa đông từ 3,2-3,9 m/s(trong khi trong đất
liền chỉ khoảng 2,0-2,5 m/s)mùa hè từ 4,0 -4,5 m/s(ở đất liền là 2,3-2,6 m/s).Tốc độ gió
lớn nhấtkhi có giông bão lên đến 40-45 m/s(trên cấp 12).Đặc biệt số ngày có gió Đông
Nam hàng năm từ 7 đến 90 ngày xuất hiện với triều cường độ mạnh từ tháng 1 đến
tháng 9,trong đó tháng 7 và tháng 8 có ngày động nhiều nhất.Bão xuất hiện nhiều hàng
năm,tốc độ từ 60 km/h [9], [10].
2. Thủy văn:
-Độ mặn các bãi bồi ven biển biến đổi rất lớn từ 11-300/00 (vì đây là khu vực
cửa sông chính của con sông lớn – sông Hồng). Sư biến thiên của độ mặn còn tùy
thuộc vào các tháng trong năm và không gian cụ thể của từng vùng đất.

Hiện nay, Vườn quốc gia Xuân Thủy đang đạt được 3 cái nhất trong khu vực
Đông Nam Á:
Đa dạng sinh học cao nhất.
Năng suất sinh học lớn nhất.
Hệ sinh thái nhạy cảm nhất.
Trên vùng đất ngập mặn, dưới làn nước thủy triều có khoảng 165 loài động vật
nổi và 154 loài động vật đáy. Vườn hiện có 120 loài thực vật bậc cao với rất nhiều loài
rong tảo có giá trị kinh tế cao, trong đó có gần 20 loài thích nghi với điều kiện sống
ngập nước nên đã cấu thành khu rừng ngập mặn. Rừng ngập mặn giữ vai trò định hình
hệ sinh thái, cố định phù sa để tạo nên các cồn bãi mới, tạo nguồn năng lượng sơ cấp,
làm vườn ươm và cung cấp thức ăn dồi dào cho các loài thủy sinh, đồng thời là nơi cư
ngụ của nhiều loài động vật hoang dã, trong đó có nhiều loài thú nước quý hiếm: mèo
biển, cáo biển, rái cá… Nơi đây, hiện diện hàng trăm loài bò sát, côn trùng và lưỡng
cư, tạo nên bức tranh đa dạng sinh học độc đáo và vô giá.
Tại Vườn quốc gia Xuân Thủy, các nhà nghiên cứu đã thống kê được 219 loài
chim thuộc 41 họ, trong đó có 9 loài có tên trong sách đỏ quốc tế: rẽ mỏ thìa, cò thìa,
choắt mỏ thìa, mòng biển mỏ ngắn, bồ nông choắt chân màng lớn, cò lạo Ấn Độ, choắt
mỏ vàng, cỏ trắng Trung Quốc. Hàng năm, vào tháng 11, 12 đàn chim từ phương Bắc
di cư xuống phía nam tránh rét đã chọn Xuân Thủy làm điểm dừng chân, kiếm ăn để
tích lũy năng lượng cho hành trình dài hàng ngàn cây số. Vào lúc cao điểm, số lượng
chim di trú lên tới 40 vạn con, thuộc hơn 100 loài. Đặc biệt ở Việt Nam, chỉ Vườn
quốc gia Xuân Thủy mới có cò thìa và choi choi mỏ thìa, có lúc cò thìa chiếm tới 20%
số lượng hiện có của toàn thế giới.
Phía Bắc huyện Giao Thủy khá đa dạng về sinh học với hơn 107 loài cá chủ yếu
các loài cá điển hình cho khu vực cửa sông (theo khảo sát của Dương Cường và Trịnh
Minh Kha -2004),theo khảo sát của Lê Nguyên Nhật (2004) đã thống kê được 13 loài
ếch nhái, 24 loài bò sát.
Vùng rừng ngập mặn tại Vườn quốc gia Xuân Thủy Nam Định là khu vực có ý
nghĩa quan trọng đối với ngư nghiệp,đặc biệt là sản lượng hải sản khai thác như
tôm,cua động vật thân mềm…Trong vùng có 1 diện tích rộng lớn là các đầm nuôi trồng

nổi bởi sự đa dạng về chi và loài. Hơn nữa, rất nhiều trong chúng phát triển đông về số
lượng, là nguồn thức ăn có giá trị và ôxy hòa tan cho Giáp xác và những loài ăn thực
vật nổi [10].

Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) - ĐHBKHN - Tel: (+84.4) 8681686 - Fax: (+84.4) 8693551. 19


Nghiên cứu, thăm dò hiện trạng môi trường và đa dạng vi tảo vùng rừng ngập mặn tại Vườn quốc gia Xuân Thủy
Nam Định - Phạm Hùng Cường - Lớp CNMT K49.


Bảng I.1 : Bảng thống kê thành phần thực vật nổi tại Vườn quốc gia Xuân Thủy.

Ghi chú: Thành phần thực vật nổi trong kế quả nghiên cứu trên chủ yếu là
táo.

I.3.5. Hiện trạng môi trường vùng rừng ngập mặn tại Vườn quốc gia Xuân
Thủy:

I.3.5.1. Bản đồ thay đổi diên tích rừng ngập măn:

Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (INEST) - ĐHBKHN - Tel: (+84.4) 8681686 - Fax: (+84.4) 8693551. 20


Nghiên cứu, thăm dò hiện trạng môi trường và đa dạng vi tảo vùng rừng ngập mặn tại Vườn quốc gia Xuân Thủy
Nam Định - Phạm Hùng Cường - Lớp CNMT K49.


1.Rừng ngập mặn tự
nhiên.

Các kiểu sinh cảnh
Bãi bùn

Diện tích (ha)
2470,7

Rừng phi lao

24

Rừng ngập mặn

1156,7

Đầm tôm

432,3

Rừng ngập mặn non

271,5

Đát cát biển,rải rác
cây bụi cỏ

372,8

Cỏ lau sậy

111,8

Cỏ lau sậy trong
đầm

71,9

Cỏ lau sậy ngoài
đầm

46,5

Rừng ngập mặn
trong đầm tôm

358,3

Thổ cư và đất nông
nghiệp

311,8

I.2.5.2.

Các hoạt động gây áp lực tới hệ sinh thái rừng ngập mặn tại
Vườn quốc gia Xuân Thủy:

I.3.5.2.1.

Phá rừng ngập mặn làm đầm nuôi tôm:

Qua bản đồ trên ta thấy vùng rừng ngập mặn tại Vườn quốc gia Xuân Thủy:

năng tái sinh tự nhiên của một số loi cây ngập mặn tiên phong không còn. Trớc hết
bãi khai thác ngao thuộc vùng triều phải bằng phẳng, không có thực vật, nếu có phải
chặt bỏ. Với phơng thức khai thác thủ công với số lợng ngời khai thác lớn, mật độ
dy vừa lm cạn nguồn con giống, cây giống rừng ngập mặn. Nh vậy sự tác động của
con ngời đã ảnh hởng mạnh đến Vn quc gia, sự ảnh hởng vừa mang tính ton
diện vừa cục bộ đến quá trình tiến hoá trầm tích; tơng tác lục địa-biển v các thnh
phần môi trờng khác, đặc biệt l hệ sinh thái rừng ngập mặn v đa dạng sinh học [10].

I.3.5.2.3.

nh hng bi ngun nc t sụng Hng:

Sụng Hng ra bin ti ca Ba Lt, l phn phớa Bc ca Vn quc gia Xuõn
Thy, c cỏc sụng nhỏnh a nc vo Vn quc gia (nh sụng Tr). Theo
chng trỡnh nghiờn cu bin cp nh nc KT 03/07 B ti nguyờn v mụi trng
2003 ó ch ra hng nm ngun cht thi ra sụng Hng 2.817 tn ng, 730 tn chỡ,
2015 tn km, 448 tn arsenic, 11 tn thy ngõn, 118 tn cacdimi, 24.602 tn nitrat,
4.860 tn photphat, 352 tn amon, 400 tn DDT. Vỡ vy, theo bỏo cỏo ca Nguyn
Khc Thnh v Qun Th Qunh Dao (2003) khu vc Ba Lt cỏc húa cht bo v
thc vt trong c th ng vt thõn mm lờn ti 75,263 mg/g, ngao 68,18 mg/g, ngú

Vin Khoa hc v Cụng ngh Mụi trng (INEST) - HBKHN - Tel: (+84.4) 8681686 - Fax: (+84.4) 8693551. 23


Nghiên cứu, thăm dò hiện trạng môi trường và đa dạng vi tảo vùng rừng ngập mặn tại Vườn quốc gia Xuân Thủy
Nam Định - Phạm Hùng Cường - Lớp CNMT K49.


166,95 mg/g. Kết quả đó thể hiện môi trường sống của sinh vật bị xâm hại nghiêm
trọng, ảnh hưởng đến hệ sinh thái rừng ngập mặn [10].

Mu nc c ly ti Vn quc gia Xuõn Thy trong t 1 dựng nghiờn
cu a dang vi to vựng rng ngp mn ti khu vc.
Mu nc c ly ti vựng lừi v vựng m Vn quc gia Xuõn Thy trong
t 2 dựng phõn tớch cỏc thụng s cht lng nc: pH, DO, COD, BOD5, NO3-,
NO2-, NH4+, PO3-4.

II.1.3.

Mỏy múc v dng c thớ nghim:
S dng cỏc dng c cú sn ti phũng Cụng ngh To v sinh hc mụi trng,
Bo tng ging chun Vi sinh vt v cỏc phũng thớ nghim thuc Trung tõm Cụng ngh
sinh hc, i hc Quc gia H Ni.
Kớnh hin vi quang hc (Olympus, Nht Bn).
Kớnh hin vi soi ni (Olympus, Nht Bn).
Kớnh hin vi CX 41 (Olympus, Nht Bn).
Mỏy Gen Amp PCRSystem 9700 ( ABI, M).
Mỏy Sequencer ABM Prism 3100 Avant ( ABI, M).
Mỏy in di Aegase ( ABI, M)

II.1.4.

Húa cht:
Húa cht phõn tớch cỏc thụng s cht lng nc ( trỡnh by c th trong mc
II.2.2.).
Húa cht nuụi cy v nghiờn cu vi to (c trỡnh by ph lc 1).

II.2.
Phng phỏp nghiờn cu:
II.2.1. Phng phỏp thu mu,c nh mu,bo qun mu:
Lấy mẫu nớc nghiờn cu vi to: Ly cách mặt nớc 20cm (tầng ny đại diện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status