Thực Trạng Ô Nhiễm Nước Thải Chăn Nuôi Tại Thành Phố Thái Nguyên Và Biện Pháp Xử Lí Bằng Thực Vật Thuỷ Sinh - Pdf 35

ĐạI HọC THáI NGUYÊN
trờng đại học nông lâm
------------

------------

NGUYN TH HNG NHUNG

Tờn ti:

Thực trạng ô nhiễm nớc thải chăn nuôi tại thành phố
Thái Nguyên và biện pháp xử lí bằng thực vật thủy sinh
CHUYÊN NGàNH: khoa học môi trờng
M Số: 60

85 02

LUậN VĂN THạC Sĩ KHOA HọC nông nghiệp

Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS Nguyn Th Hựng
TS. V Th Thanh Thu

THI NGUYấN - 2011


Lêi c¶m ¬n
Trong quá trình học tập tại khoa Sau Đại học, Trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên tôi đã được các thầy cô giáo truyền đạt những kiến thức cơ
bản nhất để có thể đem những kiến thức đã được học ở trường góp một phần
công sức của mình vào xây dựng đất nước.
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự nhất trí của Trường Đại

COD

Nhu cầu ôxi hoá học

3

ĐHNLTN

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

4

TN&MT

Tài nguyên và Môi trường

5

TVTS

Thực vật thủy sinh

6

TTTHTN

Trung tâm thực hành thực nghiệm

7


TPTN

Thành phố Thái Nguyên

13

UBND

Uỷ ban nhân dân

14

ÔNMT

Ô nhiễm môi trường

15

NN&PTNT

Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

16

VSV

Vi sinh vật


DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.8. Kết quả phân tích một số chỉ tiêu nước thải tại một số trang trại ở
thành phố Thái Nguyên năm 2010 ............................................................70
Bảng 4.9. Sinh trưởng của thực vật thủy sinh trong thí nghiệm ...............................72
Bảng 4.10. Một số chỉ tiêu của nước thải chăn nuôi sau 3 tuần xử lí bằng thực
vật thuỷ sinh ..............................................................................................74
Bảng 4.11. Một số chỉ tiêu của nước thải chăn nuôi sau 6 tuần xử lí bằng thực
vật thuỷ sinh ..............................................................................................77


DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang

Hình 2.1. Sơ đồ tổng quát xử lý nước thải giàu chất hữu cơ sinh học......................25
Hình 4.1. Biểu đồ tỉ lệ số đầu lợn qua các năm của thành phố Thái Nguyên so
với các huyện.............................................................................................60
Hình 4.2. Biểu đồ số trang trại chăn nuôi phân theo số đầu lợn tại thành phố
Thái Nguyên ..............................................................................................61
Hình 4.3. Biểu đồ tỉ lệ số lượng trang trại lợn phân theo phường, xã tại thành
phố Thái Nguyên năm 2010 ......................................................................63
Hình 4.4. Biểu đồ tỷ lệ ứng dụng các phương pháp xử lí chất thải tại các trang
trại ở thành phố Thái Nguyên năm 2010...................................................65
Hình 4.5. Hàm lượng P tổng số trong nước thải chăn nuôi sau 3 tuần xử lí bằng
thực vật thuỷ sinh ......................................................................................76
Hình 4.6. Hàm lượng N tổng số trong nước thải chăn nuôi sau 3 tuần xử lí
bằng thực vật thủy sinh..............................................................................76
Hình 4.7. Hàm lượng N tổng số của nước thải chăn nuôi sau 6 tuần xử lí bằng
thực vật thủy sinh ......................................................................................79
Hình 4.8. Hàm lượng Coliform trong nước thải chăn nuôi sau 6 tuần xử lí bằng
thực vật thủy sinh ......................................................................................79
Hình 4.9. Mô hình đề xuất ứng dụng sử dụng thực vật thuỷ sinh vào xử lý nước

2.7. Cơ sở pháp lý có liên quan .............................................................................41
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU......43
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..................................................................43
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu...............................................................................43
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu..................................................................................43
3.1.3. Địa điểm thực hiện của đề tài...................................................................43
3.1.4. Thời gian tiến hành ..................................................................................43
3.2. Nội dung .........................................................................................................43


3.2.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thành phố Thái Nguyên .....43
3.2.2. Đánh giá hiện trạng ô nhiễm trong nước thải của một số trang trại
chăn nuôi khu vực Thành phố Thái Nguyên ...........................................43
3.2.3. Nghiên cứu phương pháp xử lí ô nhiễm nước thải chăn nuôi bằng
thực vật thủy sinh.....................................................................................43
3.3. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................44
3.3.1. Đánh giá hiện trạng ô nhiễm trong nước thải của một số trang trại
chăn nuôi khu vực Thành phố Thái Nguyên ...........................................44
3.3.2. Nghiên cứu phương pháp xử lí ô nhiễm nước thải chăn nuôi bằng
thực vật thủy sinh.....................................................................................44
3.3.3. Phương pháp lấy mẫu và phân tích ..........................................................45
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.....................................................................47
4.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội thành phố Thái Nguyên............47
4.1.1. Điều kiện tự nhiên ....................................................................................47
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội.........................................................................52
4.2. Thực trạng xử lí nước thải chăn nuôi lợn tập trung tại thành phố Thái Nguyên...59
4.2.1. Thực trạng chăn nuôi lợn tại thành phố Thái Nguyên .............................59
4.2.2. Thực trạng xử lí nước thải chăn nuôi lợn tại thành phố Thái Nguyên.....63
4.2.3. Thực trạng ô nhiễm nước thải chăn nuôi lợn của một số trang trại tại
thành phố Thái Nguyên ...........................................................................65

gia cầm đã và đang thải ra môi trường một lượng lớn nước thải. Năm 2008 cả
nước có tổng 120.699 trang trại, đến năm 2009 đã tăng lên 135.437 trang trại.
Nguồn nước thải chăn nuôi là một nguồn nước thải có chứa nhiều hợp chất
hữu cơ, virus, vi trùng, trứng giun sán… Nguồn nước này có nguy cơ gây ô
nhiễm các tầng nước mặt, nước ngầm và trở thành nguyên nhân trực tiếp phát
sinh dịch bệnh cho đàn gia súc. Đồng thời nó có thể lây lan một số bệnh cho
con người và ảnh hưởng đến môi trường xung quanh vì nước thải chăn nuôi
còn chứa nhiều mầm bệnh như: Samonella, Leptospira, Clostridium tetani,…
nếu không xử lý kịp thời. Bên cạnh đó còn có nhiều loại khí được tạo ra bởi
hoạt động của vi sinh vật như NH3, CO2, CH4, H2S, . . . Các loại khí này có thể
gây nhiễm độc không khí. Chất ô nhiễm trong nước thải chủ yếu là nitrat (NO3-)
và photphoris (PO4-) các chất này trong nước thải chăn nuôi thường ở dạng hoà


2

tan nên rất khó tách chúng khỏi nước thải. Các chỉ số đại diện chất hữu cơ như
BOD, COD, các chỉ số Ecoli, Coliform trong nước thải chăn nuôi đa số đều
vượt quá tiêu chuẩn cho phép gấp nhiều lần làm ảnh hưởng đến đời sống con
người và hệ sinh thái. Chính vì vậy mà việc thiết kế hệ thống xử lý nước thải
cho các trại chăn nuôi lợn là một hoạt động hết sức cần thiết.
Tỉnh Thái Nguyên đã và đang có sự phát triển vượt bậc trong sản xuất,
giáo dục, kinh tế và văn hoá xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh quá trình phát triển
kinh tế, tỉnh Thái Nguyên cũng là nơi tập trung rất nhiều trang trại chăn nuôi có
qui mô lớn. Vì thế lượng nước thải thải ra cũng rất lớn gây ô nhiễm nguồn nước
mặt, nước ngầm, ô nhiễm đất….
Để hạn chế mức độ ô nhiễm môi trường từ nước thải chăn nuôi, một số
giải pháp được đưa ra như xây dựng hầm khí sinh học bioga….Tuy nhiên
phương pháp này khá tốn kém đối với những hộ gia đình chưa có điều kiện về
mặt kinh tế, đồng thời sẽ là nguy hiểm với những hộ gia đình chưa có những

- Nắm chắc quy chuẩn Việt Nam QCVN 24:2009/BTNMT- Quy chuẩn
kỹ thuật Quốc gia về nước thải công nghiệp.
- Nắm chắc QCVN 01 - 15:2010/BNNPTNT- Quy chuẩn kỹ thuật Quốc
gia điều kiện đảm bảo trại chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học.
- Nắm chắc phương pháp điều tra, phỏng vấn, đánh giá, tổng hợp số liệu.
- Nắm chắc phương pháp lấy mẫu nước thải.
- Nắm chắc qui trình làm thí nghiệm với các loại thực vật thuỷ sinh.
- Đề xuất phương án giảm thiểu.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
Qua khảo sát, tìm hiểu thực tế giúp chúng ta hiểu rõ hơn về thực trạng ô
nhiễm ở các trại chăn nuôi, những khó khăn, thách thức mà các trang trại chăn
nuôi đang gặp phải với những vấn đề xử lí nước thải cũng như xử lí ô nhiễm
môi trường. Từ đó có thể đánh giá được hiện trạng môi trường ở các trang
trại chăn nuôi tại thành phố Thái Nguyên và nghiên cứu biện pháp xử lí
bằng thực vật thuỷ sinh cho nước thải chăn nuôi nhằm tiết kiệm tối đa biện
pháp xử lí, đồng thời làm giảm thiểu mức độ ô nhiễm nước thải trong hoạt
động chăn nuôi. Nhằm mục tiêu đưa nghành chăn nuôi của nước ta phát
triển một cách bền vững.


4

PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học về chăn nuôi trang trại
2.1.1. Khái niệm về ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi trang trại
Ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi trang trại là sự thay đổi bất lợi môi
trường không khí, môi trường đất và môi trường nước hoàn toàn hay đại bộ
phận do hoạt động chăn nuôi, các hoạt động nuôi trồng thuỷ sản của con
người tạo nên. Những hoạt động này gây tác động trực tiếp hay gián tiếp đến

với không khí bên ngoài.
- Ta có bảng đưa ra các thông số đánh giá chất lượng nước thải:
Bảng 2.1. Các thông số đánh giá chất lượng nước thải
STT

Thông số

Đơn vị

QCVN 24:2009B

1

pH

mg/l

5,5-9

2

BOD5

mg/l

50

3

COD


TSS

mg/l

50

8

NH4+

mg/l

10

2.1.3. Thành phần, tính chất của nước thải chăn nuôi
Nước thải chăn nuôi là một trong những loại nước thải rất đặc trưng, có
khả năng gây ô nhiễm môi trường cao bằng hàm lượng chất hữu cơ, cặn lơ
lửng, N, P và sinh vật gây bệnh. Nó nhất thiết phải được xử lý trước khi thải
ra ngoài môi trường. Lựa chọn một quy trình xử lý nước thải cho một cơ sở
chăn nuôi phụ thuộc rất nhiều vào thành phần tính chất nước thải, bao gồm:


6

a. Các chất hữu cơ và vô cơ
Trong nước thải chăn nuôi, hợp chất hữu cơ chiếm 70–80% gồm cellulose,
protit, acid amin, chất béo, hidratcarbon và các dẫn xuất của chúng có trong
phân, thức ăn thừa. Hầu hết các chất hữu cơ dễ phân hủy. Các chất vô cơ chiếm
20–30% gồm cát, đất, muối, ure, ammonium, muối chlorua, SO42-,…


2005

2006

2007

2008

2009

114.362

113.699

116.222

120.699

135.437

10.960

15.222

16.085

17.318

20.581


Đông Nam Bộ

15.864

14.077

14.024

13.792

15.174

Đồng bằng Sông Cửu Long

56.582

54.442

55.023

57.483

65.747

Cả nước
Đồng bằng Sông Hồng
Trung du và miền núi phía Bắc
Bắc Trung Bộ và Duyên hải
miền Trung

Tổng số

Ngành hoạt động
Trồng trọt

Chăn nuôi

Dịch vụ

Tỷ đồng
2007

236.935,0

175.007,0

578.030

4.125,0

2008

377.238,6

269.337,6

102.200,9

5.700,1



100,0%

71,4%

26,9%

1,75

(Niên giám thống kê, 2009)[15]
Ô nhiễm do chăn nuôi và đặc biệt là chăn nuôi lợn thì không chỉ làm hôi
tanh không khí mà còn ảnh hưởng nặng nề tới nguồn nước và tài nguyên đất.
Dịch bệnh chưa khống chế, chăn thả tràn lan, chăn nuôi nhỏ lẻ và hầu như
không có công nghệ chế biến chất thải là các nguyên nhân làm chăn nuôi là
ngành gây ô nhiễm môi trường lớn ở nước ta.
Báo Nông nghiệp Việt Nam số 200, ngày 6/10/2006 đã có một bài phản
ánh nỗi niềm bức xúc của nông dân ở Hưng Nguyên – Nghệ An vì đàn bò và các
gia súc của họ lâu nay vẫn béo mượt thì nay rụng lông, toét mắt, ghẻ lở, bán rẻ
mấy cũng chẳng ai mua. Nguyên nhân là do nguồn nước thải của Công ty cổ
phần Giấy Sông Lam, ba cống thải ngày đêm hoạt động hết công suất đẩy dòng
nước thải độc hại ấy thẩm thấu hết vào làng.
Quy hoạch chăn nuôi còn lúng túng, việc xử lý hậu quả của các trang
trại trước đây trót nằm trong khu dân cư như thế nào, hướng dẫn chăn nuôi
nhỏ lẻ an toàn, xác định vùng nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi, bãi
chăn thả, ... còn hết sức nan giải.


9

Bảng 2.4. Số lượng gia súc, gia cầm của Việt Nam


2001

2.807,9

3.899,7

21.800,1

113,4

571,9

218,1

2002

2.814,5

4.062,9

23.169,5

110,9

621,9

233,3

2003


5.540,7

27.435,0

110,5

1314,1

219,9

2006

2.921,1

6.510,8

26.855,3

87,3

1525,3

214,6

2007

2.996,4

6.724,7


102,2

1375,1

280,2

(Niên giám thống kê, 2009) [15]
- Tại Hà Nội, hiện nay phát triển chăn nuôi của thành phố chiếm trên
50% tỷ trọng trong nông nghiệp và đang trên đà tăng trưởng khá, góp phần
không nhỏ vào sự phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống của bà con
nông dân. Tuy nhiên, bên cạnh đó hoạt động chăn nuôi, giết mổ đã và đang
gây ra ô nhiễm, ảnh hưởng đến môid trường sống, sức khỏe của cộng đồng.
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) Hà Nội,
hiện tại trên địa bàn thành phố có 1.223 trang trại chăn nuôi, nhưng chủ yếu là
chăn nuôi tự phát, tận dụng, phân tán, nhỏ lẻ. Trong đó, đến 80% cơ sở chăn
nuôi xây dựng chuồng trại ngay trong khu dân cư, gây ô nhiễm môi trường,
tăng nguy cơ dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm và con người. Tuy nhiên,
hiện nay việc đáng lo ngại nhất là dù chăn nuôi ở quy mô nhỏ hay lớn các loại
chất thải trong chăn nuôi đa phần vẫn chưa được xử lý. Chất thải trong chăn
nuôi được phân ra làm 3 loại: chất thải rắn, chất thải lỏng, chất thải khí bao


10

gồm CO2, NH3… đều là những loại khí chính gây hiệu ứng nhà kính; trong
khi đó ước tính ở Hà Nội có khoảng 1 triệu tấn/năm chất thải rắn được thải ra
môi trường. Chỉ một phần nhỏ của chất thải rắn được ủ để làm phân bón, một
phần được dùng trực tiếp tưới cho hoa màu và nuôi cá. Chất thải lỏng bao
gồm nước tiểu, nước tắm cho vật nuôi, nước rửa chuồng... đa phần đều chảy

- Tại thành phố Hồ Chí Minh theo Cục trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và
phát triển nông thôn), chất thải từ hệ thống chăn nuôi tập trung đang ảnh hưởng
lớn đến môi trường và sức khoẻ con người. Cụ thể, với chất thải rắn, tổng
lượng phân tươi lưu trữ là 26%, sử dụng làm hầm Bioga 21%, thải ra đất và
nguồn nước 19%, ủ 10%...còn đối với chất thải lỏng, có tới 60% được thải trực
tiếp ra đất hoặc nguồn nước, 12% là chất trực tiếp vào ao cá, trong khi đó chất
thải chăn nuôi sử dụng làm phân bón cây trồng đang có chiều hướng giảm. Do
vậy, một nghiên cứu mới đây cho thấy, chất thải chăn nuôi có mức BOD cao
hơn tiêu chuẩn cho phép 500mg/l, có chứa số lượng vi khuẩn E.coli và trứng ký
sinh trùng ở mức cao không thể chấp nhận được. Lượng vi khuẩn tăng nhanh
trong nước ngầm , 100% mẫu rau xanh có sử dụng chất thải chăn nuôi làm
phân bón đều có E.coli. Kiểm tra thịt tại các chợ ở thành phố Hồ Chí Minh cho
thấy 2,2% mẫu bị nhiễm Salmonella và nhiễm E.coli (Lê Hằng, 2007) [6].
Quy mô chăn nuôi lợn nái và chăn nuôi lợn thịt được thể hiện trong
bảng sau:
Bảng 2.5. Qui mô chăn nuôi lợn nái của Việt Nam năm 2003
STT
1
2
3
4
5
6

Quy mô (con)
20 – 50
50 – 100
100 – 150
150 – 250
250 – 500

250-500 con/TT.
Bảng 2.6. Qui mô chăn nuôi lợn thịt của Việt Nam năm 2003
STT
Quy mô (con)
Số trang trại
Tỉ lệ (%)
1
100 – 200
3.388
75,5
2
200 – 300
606
13,5
3
300 – 500
241
5,4
4
500 - 1.000
149
3,3
5
1.000 - 1.500
63
1,4
6
1.500 - 2.500
24
0,5

- Tại nhiều địa phương, tình trạng ô nhiễm môi trường do các trang trại
chăn nuôi lợn đang phổ biến và đáng lo ngại. Thái Nguyên cũng là một điển
đình trong các tỉnh có nhiều trang trại chăn nuôi lớn tập trung. Tỉnh Thái
Nguyên có khoảng gần 400 trang trại, trong đó chủ yếu là chăn nuôi lợn với
qui mô chăn nuôi phổ biến từ 100 đến 400 con lợn thịt, 20 đến 120 con lợn
nái ngoại, bò, gia cầm với qui mô chủ yếu từ 500 đến 1000 con.
Bảng 2.7. Tổng số lượng lợn qua các năm
Số lượng

Tỉ lệ %
(so với cả nước)

Năm

Tỉnh Thái Nguyên
(nghìn con)

Cả nước
(triệu con)

2000

348,1

20.193,8

1,72

2001


2005

519,3

27.435,0

1,89

2006

497,4

26.855,3

1,85

2007

509,4

26.560,7

1,92

2008

529,2

26.701,6


Đơn vị hành chính
cấp huyện
TPTN

Năm 2003
193

Số trang trại
Năm 2006 Năm 2008
268
168

Năm 2010
192

Thị xã Sông Công

24

20

24

28

Huyện Định Hoá

23

11


100

102

Huyện Đại Từ

72

51

80

82

Huyện Phú Bình

98

49

88

96

Huyện Phổ Yên

82

50

xây bể bioga để tận dụng chất thải rắn, nước thải rửa chuồng. Song do thiếu kĩ
thuật trong thiết kế, xây dựng thiếu kinh phí mà hầu hết các hầm xử lí đều
không còn sử dụng được hoặc có sử dụng được thì cũng không đủ đáp ứng
được với số đầu lợn của trại trong việc xử lí.
- Tại Thành phố Thái Nguyên (TPTN): Chăn nuôi lợn trên địa bàn thành
phố những năm qua đã có những phát triển mạnh mẽ. Theo số liệu thống kê
đến hết năm 2008, tổng đầu lợn lên tới 53.450 con, sản lượng thịt đạt hơn 3
nghìn tấn, với 32 trang trại nuôi lợn nái và lợn thịt .Tuy nhiên vấn đề nước thải
của các trang trại chăn nuôi trên địa bàn thành phố đang rất đáng lo ngại, theo
điều tra cho thấy chỉ có 80% nước thải của các trang trại này được qua xử lý
bằng hầm ủ Biogar [30], nhưng chất lượng của các hầm ủ này kém, công suất
nhỏ nên nước thải ra môi trường có thể vẫn còn gây ô nhiễm.
Trong những năm gần đây, sản xuất chăn nuôi trên địa bàn T.P Thái
Nguyên đã có những phát triển rõ rệt. Tuy nhiên, do dịch bệnh xảy ra thường
xuyên cùng với biến động của thị trường, giá thức ăn chăn nuôi liên tục tăng
cao… nên ngành chăn nuôi của thành phố đã gặp không ít khó khăn…
Trong những năm qua, để đưa tỷ trọng ngành chăn nuôi trong cơ cấu
kinh tế nông nghiệp đạt 31,35% năm 2010, UBND T.P đã có nhiều chính sách
khuyến khích phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm như: Chương trình cải tạo,


16

nâng cao tầm vóc, lai tạo đàn bò theo hướng chăn nuôi bò thịt; hỗ trợ đầu tư
xây dựng mới trang trại tập trung chăn nuôi lợn ngoại và gia cầm nhằm phát
triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp, hiệu quả, an toàn dịch bệnh và phát
triển bền vững. Nhờ đó, giá trị sản xuất ngành chăn nuôi tăng bình quân
7,06%/năm; chất lượng con giống tiếp tục được cải thiện mang lại giá trị kinh
tế cao, tăng thu nhập, tạo việc làm cho khoảng 1.200 lao động, với mức thu
nhập bình quân từ 1,5 đến 2 triệu đồng/người/tháng. Kinh tế trang trại phát

thương phẩm. Chăn nuôi lợn, nhất là chăn nuôi theo hình thức trang trại lớn
như gia đình tôi, có thời điểm gặp rất nhiều khó khăn như khi lợn chuẩn bị
xuất chuồng thì giá lợn hơi trên thị trường lại đột ngột xuống thấp. Nhiều lần
phải chịu hòa vốn, thậm chí là thua lỗ khi giá cả xuống quá thấp. Trong khi
đó, tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm thời gian qua diễn biến khá
phức tạp như dịch bệnh tai xanh ở lợn, cúm gia cầm… ảnh hưởng lớn đến sự
phát triển của đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn thành phố. Khi có dịch bệnh
xảy ra, các gia đình có gia súc, gia cầm chết thường ngừng hoạt động chăn
nuôi do không có vốn để tiếp tục đầu tư mua con giống. Nếu tiếp tục chăn
nuôi thì lượng gia súc, gia cầm cũng giảm đi nhiều. Hoặc có những hộ thường
xuyên chú trọng phòng, chống dịch bệnh cho đàn gia súc, gia cầm nhưng vì
tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp nên vẫn gặp cảnh “dở khóc, dở cười”
khi lợn, gà lăn ra chết hoặc phải mang đi tiêu huỷ.
Không chỉ vậy, việc cắt điện luân phiên cũng khiến cho nhiều trang trại
chăn nuôi trên địa bàn rơi vào tình cảnh khó khăn. Theo bà Nguyễn Thị Thảo,
ở xóm Đức Hòa (Thịnh Đức) - hiện đang nhận nuôi lợn gia công cho Công ty
cổ phần Chăn nuôi Việt Nam thì: nuôi theo hình thức công nghiệp, lợn chịu
nóng kém, việc cắt điện luân phiên đã làm ảnh hưởng lớn đến hệ thống làm
mát, cung cấp nước uống cho lợn. Với quy mô nuôi 2.000 con/lứa, do đó mỗi
ngày mất điện Công ty phải bỏ ra 400 đến 500 nghìn đồng mua dầu chạy máy
phát điện. Vì chỉ ngưng các hệ thống trong nửa ngày là lợn không chịu được
nóng sẽ sinh bệnh và có thể chết hàng loạt.
Khi nói về giải pháp, định hướng để ngành chăn nuôi của thành phố phát
triển theo hướng bền vững, đồng chí Nguyễn Đức Thắng, Trưởng phòng Kinh
tế (T.P Thái Nguyên) cho biết: Thành phố cũng như ngành chức năng tập trung



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status