CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN
DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.
Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm rủi ro tín dụng
Theo uỷ ban Basel (thuộc Ngân hàng Thanh toán quốc tế) thì: rủi ro tín dụng
là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ
của mình theo những điều khoản đã cam kết. Rủi ro thất thoát đối với một ngân
hàng là sự vỡ nợ của người giao ước trong hợp đồng, trong đó sự vỡ nợ được xác
định là bất kỳ sự vi phạm nghiêm trọng nào đối với nghĩa vụ hợp đồng khi hoàn trả
nợ và lãi.
Hay rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải chịu
do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả, hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi.
[7,543]
Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN thì: rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân
hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng
của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực
hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết [9, tr2].
1.1.2. Phân loại rủi ro tín dụng
Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro mà rủi ro tín dụng được phân thành hai
loại sau:
•
Rủi ro giao dịch
Là rủi ro liên quan đến từng khoản vay hoặc từng khách hàng cụ thể. Đây là
rủi ro có thể phát sinh liên quan đến quá trình thẩm định xét duyệt cho vay, kiểm
theo dõi khoản vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật
xử lý các khoản cho vay có vấn đề.
Rủi ro này có thể do sự giám sát của các cấp quản lý trong ngân hàng là thiếu
sát sao. Cán bộ tín dụng cần có sự phê duyệt của lãnh đạo trước khi giải ngân. Vậy
nên nếu cấp trên không có sự kiểm tra, đánh giá xem quyết định của cán bộ đã thực
sự chính xác chưa thì nguy cơ rủi ro tín dụng sẽ là rất cao. Hơn nữa, sau khi giải
2
ngân rồi, cán bộ tín dụng vẫn phải tiếp tục theo dõi khách hàng để sớm phát hiện ra
dấu hiệu của những khoản nợ có vấn đề. Tuy nhiên, việc theo dõi này đối với nhiều
cán bộ chỉ mang tính hình thức. Do vậy, nếu các cấp quản lý không có sự giám sát
đối với cán bộ tín dụng, hoạt động của các cán bộ tín dụng sẽ không hiệu quả, thậm
chí dẫn đến những sai phạm đạo đức trong cho vay và thu nợ. Ngoài ra, các cơ quan
cấp trên không quan tâm đến thực trạng tín dụng của ngân hàng thì sẽ không có
những chỉ đạo kịp thời để ngăn ngừa và xử lý rủi ro xảy ra.
Sơ đồ 1.1. Các bộ phận của rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng
Rủi ro giao dịch
Rủi ro danh mục
Rủi ro xét duyệt Rủi ro kiểm soát Rủi ro bảo đảm
Rủi ro cá biệt
Rủi ro tập trung cho vay
Nguồn:[7,tr. 623]
+ Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản
sàng lao vào những cơ hội kinh doanh mạo hiểm với kỳ vọng thu được lợi nhuận
cao, mà không tính toán kỹ hoặc không có khả năng tính toán những bất trắc có thể
xảy ra nên khả năng xảy ra tổn thất với ngân hàng là rất lớn.
Thứ hai: Do khách hàng cố tình chiếm dụng vốn của ngân hàng.
Để đạt được mục đích thu được lợi nhuận, nhiều khách hàng sẵn sàng tìm mọi
thủ đoạn để ứng phó với ngân hàng như mua chuộc hoặc cung cấp các báo cáo tài
chính sai lệch. Trong trường hợp này, nếu không phát hiện ra, ngân hàng sẽ đánh giá
sai về khả năng tài chính của khách hàng và cho vay vốn với khối lượng và thời hạn
không hợp lý, dẫn đến rủi ro tiềm ẩn là rất cao. Ngoài ra, cũng có những trường hợp
4
người kinh doanh có lãi song vẫn không trả nợ cho ngân hàng đúng hạn mà cố tình
kéo dài với ý định không trả nợ hoặc tiếp tục sử dụng vốn vay càng lâu càng tốt.
+ Rủi ro tập trung cho vay: là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay
quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động
trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định;
hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.
Rủi ro này có thể do ngân hàng chưa đa dạng hoá các danh mục đầu tư.
Một công cụ luôn được nhắc đến trong quản trị tín dụng ở tất cả các ngân
hàng trên thế giới là quản trị danh mục đầu tư. Quản trị danh mục làm cân đối và
kiềm chế rủi ro bằng cách nhận dạng, dự báo và kiểm soát mức độ rủi ro với từng
thị trường, khách hàng, loại sản phẩm tín dụng và điều kiện hoạt động khác nhau.
Nhiều chuyên gia ngân hàng tin rằng đa dạng hoá là giải pháp phòng ngừa rủi ro tín
dụng hữu hiệu nhất. Mặc dù hiểu rõ tầm quan trọng của việc đa dạng hoá danh mục
đầu tư, song rất nhiều ngân hàng chỉ cho vay một hoặc hai ngành hoặc chỉ cho vay
một vài doanh nghiệp lớn, nhóm kinh doanh đơn lẻ. Một danh mục đầu tư phụ
thuộc chủ yếu vào một ngành hay một loại mặt hàng là rất nguy hiểm vì không
ngành nào là không có rủi ro.
Căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng, rủi ro tín dụng được phân chia thành
1.1.3. Hậu quả của rủi ro tín dụng
Đối với Ngân hàng
Việc không thu hồi được nợ (gốc, lãi và các khoản phí) làm cho
nguồn vốn của các NHTM bị thất thoát, trong khi đó, các ngân hàng này vẫn phải
chi trả tiền lãi cho nguồn vốn hoạt động, làm cho lợi nhuận bị giảm sút. Nếu lợi
nhuận không đủ thì ngân hàng còn phải dùng chính vốn tự có của mình để bù đắp
thiệt hại. Điều này có thể làm ảnh hưởng đến quy mô hoạt động của các NHTM.
Mặt khác, tỷ lệ nợ quá hạn cao làm cho uy tín, niềm tin vào tiềm lực tài chính
của ngân hàng bị suy giảm, dẫn đến làm giảm khả năng huy động vốn của ngân
hàng, nghiêm trọng hơn nó có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản, đẩy ngân hàng đến
bờ vực phá sản và đe dọa sự ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng.
Đối với khách hàng
Đối với bản thân chủ thể không có khả năng hoàn trả vốn (lãi) cho ngân hàng
thì họ gần như không có cơ hội tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng và thậm chí là cả
những nguồn khác trong nền kinh tế do đã mất đi uy tín.
6
Cơ hội tiếp cận vốn ngân hàng của các chủ thể đi vay khác cũng bị hạn chế
hơn khi rủi ro tín dụng buộc các NHTM hoặc thắt cho vay hay thậm chí phải thu
hẹp quy mô hoạt động.
Các chủ thể gửi tiền vào ngân hàng có nguy cơ không thu hồi được khoản
tiền gửi và lãi nếu như các ngân hàng lâm vào tình trạng phá sản.
Đối với nền kinh tế
Hệ thống ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với nền kinh tế, là kênh thu hút
và cung cấp tiền cho các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân trong nền kinh tế. Do đó,
loại vào nhóm 3 (dưới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ) và nhóm 5 (có khả năng mất vốn)”.
Tỷ lệ nợ xấu = x 100%
Tỷ lệ nợ xấu cho biết chất lượng và rủi ro của danh mục cho vay của ngân
hàng. Tỷ lệ này cao hay thấp thể hiện chất lượng các khoản tín dụng và khả năng
quản lý chất lượng cho vay của ngân hàng. Theo quy định của Ngân hàng nhà nước
hiện nay chỉ tiêu này không được vượt quá 3%.
1.1.4.3. Hệ số thu nợ
Hệ số thu nợ = x 100%
Hệ số thu nợ cao cho thấy công tác thu nợ đang tiến hành tốt, rủi ro tín dụng
thấp. Chỉ tiêu này còn biểu hiện khả năng thu hồi nợ từ việc cho khách hàng vay
của Ngân hàng. Nó phản ánh trong một thời kỳ nào đó, với doanh số cho vay nhất
định thì ngân hàng sẽ thu về được bao nhiêu đồng vốn.
1.1.4.4. Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng
Tỷ lệ trích lập dự phòng RRTD =
Tùy theo mức độ rủi ro mà các tổ chức tín dụng phải trích lập dự phòng rủi
ro từ 0 đến 100% giá tri của từng khoản vay (sau khi trừ giá trị tài sản đảm bảo đã
được định giá lại). Như vậy nếu một ngân hàng có danh mục cho vay càng rủi ro thì
tỷ lệ trích lập dự phòng sẽ càng cao. Thông thường tỷ lệ này dao động khoảng từ 0
đến 5%. Hiện nay việc trích lập dự phòng rủi ro của hầu hết các ngân hàng được
thực hiện theo thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013. Theo đó, tỷ lệ trích
lập dự phòng cụ thể đối với từng nhóm nợ như sau: Nhóm 1: 0%; Nhóm 2: 5%;
Nhóm 3: 20%; Nhóm 4: 50%; Nhóm 5: 100%. Theo điều 13, tổ chức tín dụng thực
8
hiện trích lập và duy trì dự phòng chung bằng 0,75% tổng giá trị các khoản nợ từ
nhóm 1 đến nhóm 4.
1.2. Quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
Rủi ro tín dụng là nguyên nhân chủ yếu gây ra sự tổn thất về vốn của các
NHTM.
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro lớn nhất, thường xuyên xảy ra và thường gây
hậu quả nặng nề nhất, việc đánh giá rủi ro là trách nhiệm chính của hầu hết tất cả
mọi ngân hàng. Hoạt động của NHTM chủ yếu là hoạt động tín dụng và đầu tư.
Thông thường trên thế giới nó mang lại khoảng 6% thu nhập còn ở Việt Nam trong
giai đoạn hiện nay thu nhập từ hoạt động tín dụng mang lại trên 90% tổng thu nhập
của mỗi ngân hàng. Nhưng đồng thời trong lĩnh vực này rủi ro đã đưa đến cho ngân
hàng những thiệt hại nặng nề, có khi dẫn đến phá sản. Tuy thiếu tính lỏng và có rủi
ro vỡ nợ cao nhưng ngân hàng thu được lợi tức cao nhất nhờ vào các món vay. Rủi
ro tín dụng là loại rủi ro phức tạp, do đó công tác quản lý, phòng ngừa là cần thiết,
tuy nhiên nó cũng gặp rất nhiều khó khăn, nó có thể xảy ra bất cứ ở đâu, bất cứ lúc
nào. Vì vậy rủi ro tín dụng được xem là một trong những nhân tố hết sức quan
trọng, đòi hỏi các ngân hàng phải có khả năng phân tích, đánh giá và quản trị rủi ro
tín dụng hiệu quả. Một khi ngân hàng chấp nhận nhiều khoản cho vay có rủi ro tín
dụng cao thì ngân hàng có khả năng phải đối mặt với tình trạng thiếu vốn hay tính
thanh khoản thấp. Điều này có thể làm giảm hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
Cho nên các NHTM cần phải chú trọng hơn nữa đến quản trị rủi ro tín dụng để có
những giải pháp cụ thể ngăn ngừa và hạn chế tối đa rủi ro tín dụng xảy ra.
•
Quản trị rủi ro tín dụng là thước đo năng lực kinh doanh của các NHTM
Tình hình kinh tế ngày càng có nhiều biến động, thị trường tài chính, tiền tệ
và ngân hàng cũng diễn biến phức tạp hơn, tiềm ẩn nhiều rủi ro, nhất là rủi ro tín
dụng. Mặc dù trước khi cho vay nhân viên ngân hàng đã tìm hiểu thị trường và dự
đoán những rủi ro có thể xảy ra nhưng mức độ phức tạp của những dạng rủi ro cũng
như mức độ ứng phó của nhân viên ngân hàng là có giới hạn. Trên thực tế rủi ro tín
dụng phát sinh do nhiều nguyên nhân có thể do khách quan hoặc chủ quan. Vì vậy
quản trị rủi ro tín dụng phải được xem là một nghiệp vụ chủ đạo và là thước đo
-
Phát sinh từ phía ngân hàng: Sự đánh giá và phân loại không chính xác về mức độ
rủi ro của khách hàng. Đánh giá quá cao năng lực tài chính của khách hàng so với
thực tế. Đánh giá khách hàng thông qua thông tin do khách hàng cung cấp mà
không điều tra xem xét thông tin từ các nguồn khác cấp tín dụng dựa trên các cam
kết không chắc chắn và thiếu tính đảm bào của khách hàng. Tốc độ tăng trưởng tín
dụng quá nhanh vượt quá khả năng và năng lực kiểm soát cũng như nguồn vốn của
ngân hàng.
11
Việc theo dõi, xem xét, giám sát thực tiễn sản xuất kinh doanh của khách
hàng nhằm phát hiện ra các dấu hiệu rủi ro thực tiễn, những biến động xấu trong sản
xuất kinh doanh của khách hàng để từ đó xác định rủi ro tiềm tàng để có biện pháp
xử lý kịp thời. Các phương pháp thường dùng là:
Giám sát hoạt động tài khoản của khách hàng tại ngân hàng, gồm:
Sự thay đổi số dư, số phát sinh trong tài khoản tiền gửi và tiền vay của khách
hàng phản ánh tình hình tiêu thụ sản phẩm, lưu chuyển tiền tệ, sử dụng vốn vay và
tài trợ. Sự biến đổi bất thường trong tài khoản phản ánh những khó khăn trong quản
trị tài chính của khách hàng dẫn tới khó khăn trong chi trả của khách hàng.
Phân tích báo cáo tài chính định kỳ
Kết quả phân tích sẽ cho thấy những biểu hiện làm giảm khả năng hoàn trả
nợ hay biểu hiện vi phạm hợp đồng của khách hàng.
Kiểm tra các bảo đảm tiền vay
Thông qua các báo cáo thường kỳ về tình trạng tài sản đảm bảo hoặc kiểm tra
trực tiếp tại chỗ của khách hàng. Đối với tài sản thế chấp ngân hàng còn cần xem xét
việc sử dụng tài sản có hợp lý đúng như cam kết hay không. Còn với đảm bảo bằng
bảo lãnh cần xem xét nội dung giám sát người bảo lãnh cũng như đối với khách hàng
đi vay.
Trước hết phải xác định được nguồn trả nợ của người vay như luồng tiền từ
doanh thu bán hàng hay từ thu nhập, tiền từ bán thanh lý tài sản, hoặc tiền từ phát
hành chứng khoán… Sau đó cần phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp vay
vốn thông qua các tỷ số tài chính.
Collateral (Bảo đảm tiền vay):
Đây là điều kiện để ngân hàng cấp tín dụng và là nguồn tài sản thứ hai có thể
dùng để trả nợ vay cho ngân hàng.
Conditions (Các điều kiện):
Ngân hàng quy định các điều kiện tùy theo chính sách tín dụng theo từng
thời kỳ.
Control ( Kiểm soát):
Đánh giá những ảnh hưởng do sự thay đổi của luật pháp, quy chế hoạt động
đến khả năng khách hàng đáp ứng các tiêu chuẩn của ngân hàng.
Mô hình 6C tương đối đơn giản, tuy nhiên lại phụ thuộc quá nhiều vào mức
độ chính xác của nguồn thông tin thu thập được, khả năng dự báo cũng như trình
độ phân tích, đánh giá chủ quan của cán bộ tín dụng.
13
b)
Mô hình 5P.
Purpose (Mục đích):
Người vay vốn ngân hàng nhất định phải có mục đích sử dụng, nếu mục đích
ấy vừa hợp pháp, vừa phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh thì ngân hàng sẽ
đồng ý cấp tín dụng. Chính vì vậy mà mục đích vay vốn không những cần được thể
hiện rõ trong các cam kết của hợp đồng tín dụng mà còn phải được chứng minh cụ
thể qua các chứng từ, hóa đơn.
Payment (Thanh toán):
Người đi vay phải chứng tỏ mình có khả năng thanh toán đối với những
doanh nghiệp vay vốn. Đại lượng Z dùng làm thước đo tổng hợp để phân loại rủi ro
tín dụng đối với người vay và phụ thuộc vào:
- Trị số của các chỉ số tài chính của người vay.
- Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ
của người vay trong quá khứ. Từ đó Altman đã xây dựng mô hình điểm như sau:
Z = 1,2 X1 + 1,4 X2 + 3,3 X3 + 0,6 X4 + 1,0 X5
Trong đó:
X1 = Hệ số vốn lưu động/ tổng tài sản
X2 = Hệ số lãi chưa phân phối/ tổng tài sản
X3 = Hệ số lợi nhuận trước thuế và lãi/ tổng tài sản
X4 = Hệ số giá thị trường của tổng vốn sở hữu/ giá trị hạch toán của tổng nợ
X5 = Hệ số doanh thu/ tổng tài sản
Trị số Z càng cao, thì người vay có xác suất vỡ nợ càng thấp. Vậy khi trị số
Z thấp hoặc là một số âm sẽ là căn cứ xếp khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ cao.
Z < 1,81 : Khách hàng có khả năng rủi ro cao.
1,81 < Z < 3 : Không xác định được
Z > 3 : Khách hàng không có khả năng vỡ nợ
Theo mô hình cho điểm Z của Altman, bất cứ công ty nào có điểm số thấp
hơn 1,81 phải được xếp vào nhóm có nguy cơ rủi ro tín dụng cao. Mô hình điểm số
Z có kỹ thuật đo lường tương đối đơn giản. Tuy nhiên mô hình này chỉ cho phép
phân loại nhóm khách hàng vay có rủi ro và không có rủi ro. Trong khi đó, thực tế
mức độ rủi ro tín dụng tiềm năng của mỗi khách hàng là khác nhau. Vả lại, yếu tố
thị trường cũng không được xét đến, đặc biệt là khi các điều kiện kinh doanh cũng
15
như điều kiện thị trường tài chính đang thay đổi liên tục như hiện nay. Và có các
nhân tố quan trọng nhưng cũng không được xét đến như: danh tiếng của khách
hàng, mối quan hệ lâu dài với ngân hàng,… sẽ làm cho mô hình điểm số Z có
những hạn chế nhất định.
16
Nếu phương án khắc phục thành công mức độ rủi ro trở nên bình thường thì
nhân viên tín dụng sẽ thực hiện tiếp nhiệm vụ của mình còn nếu việc thực thi biện
pháp khắc phục gặp trở ngại thì ngân hàng chuyển khoản tín dụng đó sang bộ phận
chuyên trách về xử lí rủi ro tín dụng. Bên cạnh đó bộ phận kiểm soát rủi ro tín dụng
độc lập sẽ giúp cán bộ lãnh đạo điều hành hoạt động một cách thông suốt và hiệu
quả. Trong ngân hàng nội dung cụ thể của hệ thống kiểm soát rủi ro tín dụng độc
lập cần phải xây dựng, phổ biến và thống nhất đến mọi phòng ban và mọi cán bộ.
Ngoài ra, hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô, các quy định bảo đảm an toàn trong
hoạt động của ngân hàng, hoạt động thanh tra của các cơ quan chức năng, thiết lập
và phát triển hệ thống thông tin tín dụng cũng là những yếu tố giúp ngân hàng tránh
được những rủi ro trong hoạt động tín dụng. Các phương thức để kiểm soát rủi ro
tín dụng như: né tránh rủi ro; ngăn ngừa rủi ro; giảm thiểu tổn thất do rủi ro cho vay
gây ra; chuyển giao rủi ro; đa dạng hóa rủi ro.
1.2.3.4. Tài trợ rủi ro tín dụng
Tài trợ rủi ro tín dụng là việc ngân hàng dùng các nguồn tài chính trong và
ngoài ngân hàng bù đắp tổn thất cho các khoản cho vay khi rủi ro xảy ra. Nợ rủi ro
sau khi được xử lý sẽ được thu hồi hoặc được chuyển qua theo dõi ngoại bảng. Các
biện pháp tài trợ rủi ro tín dụng bao gồm: Tự khắc phục rủi ro tín dụng; Chuyển
nhượng tài sản; Các biện pháp chuyển giao rủi ro tín dụng.
Quỹ dự phòng rủi ro là nguồn bù đắp chủ yếu của những khoản tín dụng bị
tổn thất. Quỹ thường được trích ra từ lợi nhuận sau thuế. Với việc lập quỹ dự phòng
rủi ro khi rủi ro xảy ra việc mất vốn cho vay sẽ không gây nhiều tác động tới ngân
hàng. Việc trích lập quỹ dự phòng ở nước ta hiện đang áp dụng theo thông tư
02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Cụ thể:
Điều 6: Tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với năm (5) nhóm nợ quy định
Khoản 1 Điều này như sau:
Vốn và năng lực sản xuất kinh doanh của khách hàng
Một môi trường tốt cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng là phải tập
trung được nhiều khách hàng cung cấp tiền gửi cho ngân hàng và phải có các khách
hàng vay tiền kinh doanh tốt để giúp ngân hàng có được lợi nhuận từ chênh lệch lãi
18
suất cho vay và huy động. Điều này không phải do ngân hàng mà là do khách hàng
và sức khỏe của nền kinh tế quyết định. Năng lực sản xuất kinh doanh của khách
hàng kém sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh và khả năng trả nợ dẫn đến khó
khăn trong công tác quản trị rủi ro.
•
Nguồn lực sử dụng, điều kiện tự nhiên cũng như tình hình thị trường biến động
Vị trí địa lý, khí hậu, tài nguyên, lao động được các nhà sản xuất hết sức
quan tâm. Việc khai thác chúng một cách có hiệu quả sẽ góp phần phát huy được
tiềm năng và lợi thế so sánh của từng vùng, tiểu vùng đặc biệt đối với sản xuất nông
nghiệp. Bên cạnh đó khi nhu cầu thị trường tăng, các doanh nghiệp và người sản
xuất vay vốn mở rộng sản xuất để tìm kiếm lợi nhuận. Ngược lại, khi nhu cầu thị
trường giảm, sản xuất bị thu hẹp, nhu cầu tiêu dùng của người lao động giảm, vốn
sẽ giảm nhanh cả về khối lượng và khả năng thu hồi. Trong xu thế toàn cầu hóa về
kinh tế, khi xây dựng quản trị tín dụng của mình, các NHTM cần chú ý không chỉ
đơn thuần đánh giá thị trường nơi đóng trụ sở hoạt động, mà phải có sự đánh giá, dự
báo chính xác cả về nhu cầu thị trường trong nước, trong các khu vực và thị trường
thế giới.
•
Yếu tố chính trị - xã hội, chính sách của Chính phủ
Yếu tố chính trị - xã hội có ảnh hưởng đến quản trị tín dụng của NHTM. Vì
khách hàng.
•
Chiến lược khách hàng của ngân hàng
Tùy theo chiến lược kinh doanh cụ thể mà mỗi ngân hàng đưa ra các mức độ
chấp nhận rủi ro khác nhau. Nhưng phải đảm bảo khả năng hoạt động kinh doanh
của ngân hàng.
•
Mức độ phức tạp của các hoạt động ngân hàng
20
Các hoạt động kinh doanh của ngân hàng ngày càng đa dạng và phức tạp
đem lại lợi nhuận ngày càng lớn tuy nhiên mức độ rủi ro cũng ngày càng cao hơn.
21
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI
NGÂN HÀNG TMCP KỸ THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH
QUẢNG NGÃI
2.1. Khái quát về Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam Chi nhánh Quảng Ngãi
2.1.1. Tên và địa chỉ của Chi nhánh
-
Tên pháp lý: NHTMCP Kỹ thương Việt Nam Chi nhánh Quảng Ngãi.
2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của Chi nhánh
22
Theo giấy phép hoạt động số 0400/NH-GP do Thống đốc ngân hàng Nhà
nước Việt Nam cấp ngày 06/08/1993, giấy phép thành lập số 1534/QĐ-UB do
UBND thành phố Hà Nội cấp 04/09/1993, giấy phép kinh doanh số 055697 do
Trọng tài kinh tế Hà Nội (nay là Sở kế hoạch và Đầu tư Hà Nội) cấp 07/09/1993,
ngày 27/09/1993 NHTM Cổ phần Kỹ thương Việt Nam – Techcombank được chính
thức thành lập. Đây là một trong những NHTM Cổ phần đầu tiên của Việt Nam
được thành lập trong bối cảnh đất nước đang chuyển sang nền kinh tế thị trường với
số vốn điều lệ là 20 tỷ đồng và trụ sở chính ban đầu được đặt tại số 24 Lý Thường
Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Đến nay, NHTMCP Kỹ thương Việt Nam đã trở thành một trong những
NHTMCP hàng đầu Việt Nam với tổng Vốn chủ sở hữu đạt 14.986 tỷ đồng và tổng
Tài sản đạt trên 175.902 tỷ đồng. Tính đến năm 2014, Ngân hàng đã sở hữu một
mạng lưới dịch vụ đa dạng và rộng khắp với 316 chi nhánh và 1247 máy ATM trên
toàn quốc cùng với hệ thống công nghệ ngân hàng tiên tiến bậc nhất. Ngoài ra, ngân
hàng còn được dẫn dắt bởi một đội ngũ quản lý tài năng có bề dày kinh nghiệm tài
chính chuyên nghiệp cấp đa quốc gia và một lực lượng nhân sự lên tới 7.242 cán bộ,
nhân viên được đào tạo chuyên nghiệp sẵn sàng hiện thực hóa mục tiêu của Ngân
hàng – trở thành Ngân hàng tốt nhất và Doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam.
Trải qua 22 năm hình thành, xây dựng và phát triển NHTMCP Kỹ thương
Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể:
-
Là Ngân hàng Cổ phần có mạng lưới giao dịch rộng nhất tại thủ đô Hà Nội
vào năm 2002.
-
Tháng 4/2011: Được xếp hạng trong "Top 500 doanh nghiệp hàng đầu Việt
Nam" từ tổ chức VNR 500 và nhận giải thưởng "Sản phẩm tín dụng của
năm" từ Thời Báo Kinh Tế Việt Nam.
-
Tháng 12/2011: Nhận Giải “Best domestic bank in Vietnam” – Ngân hàng
nội địa tốt nhất Việt Nam do Tạp chí The Asset trao tặng.
-
Năm 2012: Nhận 20 giải thưởng quốc tế, đáng chú ý là Giải thưởng “Ngân
hàng tốt nhất Việt Nam” được trao bởi The Asset, the Asian banker.
-
Năm 2013: Nhận 13 giải thưởng trong nước và quốc tế, trong đó nổi bật có
các giải về ngân hàng quản lý tiền tệ và tài trợ thương mại tốt nhất Việt
Nam, Ngân hàng tốt nhất Việt Nam và Nhà tuyển dụng tốt nhất của châu Á
năm 2013, và Sao Vàng Đất Việt.
Với mục tiêu trở thành Ngân hàng tốt nhất và Doanh nghiệp hàng đầu Việt
Nam cùng với quá trình hội nhập kinh tế hiện nay, NHTMCP Kỹ thương Việt Nam
không ngừng phát triển và nâng cao.
Hòa nhập với xu thế đó, đồng thời nắm bắt được nhu cầu to lớn của các
doanh nghiệp, cá nhân trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, theo Quyết định số 173/QĐHĐQT của Chủ tịch Hội đồng quản trị NHTMCP Kỹ thương Việt Nam, ngày
08/04/2009 NHTMCP Kỹ thương Việt Nam- Chi nhánh Quảng Ngãi được thành
lập đáp ứng nhu cầu về vốn, thanh toán và sử dụng những dịch vụ ngân hàng cho
của các chủ thể khác nhau. Từ đó, đảm bảo quá trình sản xuất lưu thông hàng hoá
được diễn ra liên tục. Như vậy, ngân hàng đã thực hiện chức năng trung gian tín
dụng và góp phần vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
-
Chức năng tạo tiền:
Chức năng tạo tiền là chức năng cực kỳ quan trọng của NHTM. Chức năng
này được thể hiện trong quá trình NHTM cấp tín dụng cho nền kinh tế và hoạt động
đầu tư của NHTM, trong mối quan hệ với NHTW đặc biệt trong quá trình thực hiện
25