GIẢI PHÁP THU hút NGOẠI tệ của NGÂN HÀNG THƯƠNG mại cổ PHẦN đầu tư và PHÁT TRIỂN CHI NHÁNH hải PHÒNG - Pdf 35

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
---------

NGUYỄN THỊ HƯỜNG

GIẢI PHÁP THU HÚT NGOẠI TỆ CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU
TƯ VÀ PHÁT TRIỂN CHI NHÁNH HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ


2

HÀ NỘI - NĂM 2015


NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
---------

NGUYỄN THỊ HƯỜNG

GIẢI PHÁP THU HÚT NGOẠI TỆ CỦA

KÝ HIỆU VIẾT TẮT
NHTM
TMCP
NHNN
NHTƯ
PGD
TCTD
TCKT

VIẾT ĐẦY ĐỦ
Ngân hàng Thương mại
Thương mại cổ phần
Ngân hàng Nhà nước
Ngân hàng Trung ương
Phòng giao dịch
Tổ chức tín dụng
Tổ chức kinh tế

KÝ HIỆU
ADB
ASEAN

VIẾT ĐẦY ĐỦ
The Asian Development Bank
Association of Southeast Asian Nations

TIẾNG VIỆT
Ngân hàng Phát triển châu Á
Hiệp hội các Quốc gia Đông


5

Ký hiệu
Bảng 2.1
Bảng 2.2
Bảng 2.3
Bảng 2.4
Bảng 2.5

Tên bảng biểu
Tình hình huy động vốn tại BIDV Hải Phòng
Hệ số đòn bẩy tài chính
Tình hình tín dụng tại BIDV Hải Phòng
Cơ cấu huy động vốn ngoại tệ
Thị phần thu hút kiều hối của các Ngân hàng trên địa

Trang
34
36
38
50
53

bàn Hải Phòng

STT
1

Ký hiệu
Sơ đồ 2.1

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2......................................................................................57
CHƯƠNG 3: .........................................................................................................58
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THU HÚT VỐN NGOẠI TỆ CỦA BIDV HẢI
PHÒNG TRONG THỜI GIAN TỚI....................................................................58
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3......................................................................................77
KẾT LUẬN CHUNG............................................................................................78
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................................1


v

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đối với Ngân hàng, vốn là cơ sở để NHTM tổ chức mọi hoạt động kinh
doanh. Với đặc trưng của hoạt động Ngân hàng, vốn không chỉ là phương tiện kinh
doanh chính mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu của NHTM. Bản chất của
Ngân hàng là đi vay để cho vay hay nguồn vốn Ngân hàng huy động được lại là
nguồn để các doanh nghiệp khác đi vay nên công tác huy động vốn càng có ý nghĩa
quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng phải
thường xuyên chăm lo tới việc tăng trưởng vốn trong suốt quá trình hoạt động.
Ngoài nguồn vốn bằng đồng nội tệ thì nguồn vốn bằng ngoại tệ cũng hết sức quan
trọng. Vì vậy, việc thu hút nguồn vốn bằng ngoại tệ rất cần thiết đối với hoạt động
của Ngân hàng.
Trong xu thế toàn cầu hóa về kinh tế, cùng chính sách mở cửa hội nhập quốc
tế và khu vực, các hoạt động kinh tế đối ngoại nói chung và hoạt động giao lưu
thương mại của nước ta với các nước trên thế giới trong những năm gần đây đã
ngày càng mở rộng và phát triển. Hoạt động sản xuất kinh doanh liên quan đến
thương mại quốc tế ngày càng phát triển, việc thu hút nguồn vốn ngoại tệ là việc
làm thường xuyên và thiết yếu. Ngoài ra, trong bối cảnh quốc tế hiện nay với những
cạnh tranh thương mại gay gắt, để có khả năng chủ động hơn trong tiến trình hội

thời gian tới.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu chủ yếu là luận duy vật biện
chứng, kết hợp với lịch sử, phương pháp thống kê và phân tích, so sánh đối chiếu để
đánh giá thực tế và đề xuất giải pháp, tổng hợp giữa lý luận và thực tiễn.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn kết cấu thành ba chương :
Chương 1: Nguồn vốn của Ngân hàng thương mại và hoạt động thu hút vốn
ngoại tệ của Ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng thu hút vốn ngoại tệ của Ngân hàng TMCP Đầu tư
và Phát triển - chi nhánh Hải Phòng (Giai đoạn 2012- 2014).
Chương 3: Một số giải pháp nhằm thu hút vốn ngoại tệ của của Ngân hàng
TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - chi nhánh Hải Phòng trong thời gian tới.


3

CHƯƠNG 1:
NGUỒN VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ
HOẠT ĐỘNG THU HÚT VỐN NGOẠI TỆ CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Nguồn vốn của Ngân hàng thương mại
1.1.1.
Khái quát về nguồn vốn NHTM
Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp hoạt động kinh doanh
trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng Ngân hàng, được phép thực hiện tất cả các hoạt động
kinh doanh khác theo quy định của pháp luật. Hoạt động Ngân hàng là việc kinh
doanh cung ứng thường xuyên một số nghiệp vụ như nhận tiền gửi, cấp tín dụng,
cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Các NHTM muốn hoạt động bình
thường thì phải có vốn. Vốn của NHTM gồm nhiều loại khác nhau, mỗi loại có đặc

4. Các công cụ tài chính phái sinh và
các khoản nợ tài chính khác

1.2. Quỹ của tổ chức tín dụng

5. Vốn tài trợ, ủy thác đầu tư, cho vay
TCTD chịu rủi ro

1.3. Chênh lệch tỷ giá hối đoái

6. Phát hành giấy tờ có giá

1.4. Chênh lệch đánh giá lại tài sản

7. Các khoản nợ khác

1.5. Lợi nhuận chưa phân phối

7.1. Các khoản lãi phí phải trả

2. Tiền gửi của khách hàng

7.2. Thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn

3. Tiền gửi và vay

lại phải trả
7.3. Các khoản phải trả và công nợ

3.1. Các khoản nợ chính phủ và

chênh lệch tỷ giá theo quy định của pháp luật. Chiếm một tỷ trọng nhỏ trong các
khoản mục tạo nên nguồn vốn (thường chỉ chiếm 5% trong tổng nguồn vốn) nhưng
nó có vai trò cực kỳ quan trọng đối với các Ngân hàng. Do tính chất thường xuyên ổn
định nên Ngân hàng có thể sử dụng nó vào các mục đích khác nhau như trang bị cơ
sở vật chất kỹ thuật, tạo tài sản cố định phục vụ cho bản thân Ngân hàng, có thể sử
dụng cho vay, đặc biệt là đầu tư góp vốn liên doanh. Mặt khác với chức năng bảo vệ,
vốn thuộc sở hữu của Ngân hàng được coi như là tài sản đảm bảo gây lòng tin với
khách hàng, duy trì khả năng thanh toán cho khách hàng khi Ngân hàng hoạt động
thua lỗ. Hơn nữa nó là một căn cứ quyết định đối với qui mô và khối lượng vốn huy
động cũng như hoạt động cho vay và bảo lãnh của Ngân hàng. Quy mô và sự tăng
trưởng vốn thuộc sở hữu của Ngân hàng sẽ quyết định năng lực phát triển của
NHTM. Khi đánh giá về qui mô của một NHTM thì tiêu chí đầu tiên được đề cập là
vốn thuộc sở hữu của Ngân hàng đó. Ngoài ra, vốn chủ sở hữu đóng vai trò là tấm
đệm giúp chống lại rủi ro phá sản vì vốn giúp trang trải những tổn thất về tài chính và
nghiệp vụ. Vốn chủ sở hữu của Ngân hàng đóng vai trò sống còn trong việc duy trì
các hoạt động thường ngày và đảm bảo cho Ngân hàng phát triển lâu dài.
1.1.2.1. Nguồn vốn huy động
Vốn huy động là tài sản bằng tiền (nội tệ, ngoại tệ) và bằng vàng của các tổ
chức và cá nhân mà Ngân hàng đang tạm thời quản lý và sử dụng với trách nhiệm


6
hoàn trả. Nguồn vốn huy động của các NHTM chiếm tỷ trọng tới hơn 90% trong
tổng nguồn vốn. Vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu và quan trọng nhất của
NHTM. Vì vậy, các hoạt động sử dụng vốn của Ngân hàng tồn tại và phát triển
được là nhờ nguồn vốn huy động này. Vốn huy động được hình thành từ hai bộ
phận là vốn huy động từ tiền gửi và vốn huy động thông qua phát hành các giấy tờ
có giá.
- Vốn huy động tiền gửi: Là nguồn vốn mà Ngân hàng huy động được từ các
doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân… trong xã hội thông qua quá trình nhận tiền

suất của loại tiền gửi này thường thấp hơn so với các loại tiền gửi có kỳ hạn xác
định. Tiền gửi không kỳ hạn đáp ứng nhu cầu của những khách hàng chưa có dự
định rõ ràng trong tương lai. Đây là hình thức chủ yếu được các doanh nghiệp lựa
chọn nhằm mục đích giao dịch trong kinh doanh. Do vậy lượng tiền gửi không kỳ
hạn thường chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng.
Với đặc tính của nguồn tiền này là luôn biến động cho nên Ngân hàng chỉ được sử
dụng một tỷ lệ phần trăm (%) nhất định của lượng tiền gửi không kỳ hạn nhận được
nhất định tuỳ thuộc vào dự tính của Ngân hàng về sự ổn định tương đối của lượng
tiền huy động được trong thời gian tới. Quản lý tiền gửi không kỳ hạn là một phần
quan trọng của quả lý dự trữ của Ngân hàng.
- Tiết kiệm có kỳ hạn: Đây là loại tiền gửi có sự thỏa thuận giữa người gửi
tiền và Ngân hàng về số lượng, kỳ hạn và lãi suất của khoản tiền gửi đó. Do có sự
xác định rõ ràng về kỳ hạn nên Ngân hàng có thể sử dụng để cho vay với thời hạn
tương ứng hoặc có thể chuyển đổi một phần tiền gửi ngắn hạn để cho vay trung và
dài hạn. Do đặc tính của khoản tiền gửi này là có độ ổn định cao nên Ngân hàng chủ
động trong việc sử dụng nguồn tiền đó để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của
mình, vì vậy Ngân hàng trả lãi cho người gửi tiền cao hơn lãi suất của loại tiền gửi
không kỳ hạn và tiền giửi thanh toán. Các khách hàng gửi tiền theo loại này thì khi
đến hạn sẽ được hoàn trả cả gốc và lãi theo qui định, nếu chưa đến hạn mà khách
hàng gửi tiền rút tiền ra trước thì khách hàng chỉ được hưởng lãi suất của tiền gửi
không kỳ hạn.
• Theo tiêu thức loại tiền
- Tiền gửi nội tệ: Đây là khoản tiền gửi cơ bản mà các NHTM nhận được,
nguồn vốn nội tệ là nguồn vốn chủ yếu đối với các Ngân hàng, nó phụ thuộc vào


8
mức thu nhập trong nước và lãi suất huy động trong từng thời kỳ, loại tiền này
thường chiếm tỷ trọng cao trong tổng lượng tiết kiệm.
- Tiền gửi ngoại tệ: Bên cạnh nhận tiền gửi nội tệ, Ngân hàng còn nhận tiền

nguồn vốn tự có và vốn đi vay vì vốn tự có của Ngân hàng chỉ chiếm một tỷ trọng
nhỏ trong tổng cơ cấu vốn của Ngân hàng còn vốn vốn đi vay thì Ngân hàng phải
phụ thuộc vào đối tượng cho vay về thời hạn, số lượng và các chi phí khác. Do đó
có thể Ngân hàng sẽ bỏ lỡ những cơ hội kinh doanh. Ngược lại nếu Ngân hàng có
lượng vốn lớn sẽ hoàn toàn chủ động trong hoạt động của mình. Nguồn vốn lớn làm
tăng khả năng hoạt động của Ngân hàng như chủ động đa dạng hoá các hình thức và
phương thức hoạt động nhằm phân tán rủi ro và tăng lợi nhuận, phục vụ cho mục
tiêu cuối cùng của Ngân hàng là an toàn và sinh lời.
- Thứ ba: Vốn huy động giúp Ngân hàng nâng cao vị thế của mình trong lòng
thị trường.
Để đảm bảo cho việc thu hút khách hàng đến quan hệ giao dịch với mình thì
Ngân hàng phải tạo được niềm tin với khách hàng. Điều này được thể hiện ở khả
năng sẵn sàng thanh toán cho khách hàng. Khả năng thanh toán của Ngân hàng cao
chỉ khi Ngân hàng có nguồn vốn khả dụng lớn. Mặt khác uy tín của Ngân hàng còn
thể hiện ở khả năng cho vay và đầu tư của Ngân hàng. Ngân hàng chỉ có thể cho
vay những dự án lớn, thời hạn dài nếu như Ngân hàng có nguồn vốn lớn và ổn định
- điều này phụ thuộc vào khả năng huy động vốn của Ngân hàng.
- Thứ tư: Vốn huy động quyết định năng lực cạnh tranh của Ngân hàng.
Để có thể chiến thắng trong cạnh tranh thì ngoài việc phải có chiến lược cạnh
tranh hợp lý thì yếu tố vế khả năng tài chính luôn giữ vai trò quyết định cuối cùng.
Nếu Ngân hàng có nguồn vốn khả dụng lớn thì có thể chủ động mở rộng quan hệ tín
dụng với các thành phần kinh tế cả về qui mô, khối lượng tín dụng, chủ động về
thời gian và thời hạn cho vay thậm chí trong việc điều chỉnh lãi suất cho vay để thu
hút khách hàng. Ngoài ra Ngân hàng còn có thể phát triển thêm nhiều loại hình dịch
vụ mới, tham gia vào nhiều các hoạt động khác như liên doanh liên kết, đầu tư trên
thị trường vốn, trên thị trường tiền tệ… Bằng chính những hoạt động này sẽ góp
phần phân tán rủi ro, thu hút được nhiều khách hàng, mở rộng thị phần, nâng cao
khả năng cạnh tranh của Ngân hàng… Từ đó sẽ nâng cao hiệu quả kinh doanh của
Ngân hàng.
Nhận thức được vai trò của nguồn vốn trong hoạt động của NHTM, nên từng

vay ở NHTƯ vì NHTƯ là người cho vay cuối cùng đối với các NHTM. NHTƯ có
thể cho các tổ chức tín dụng vay vốn ngắn hạn dưới hai hình thức:
+ Tái cấp vốn: NHTƯ cho các NHTM vay vốn trên cơ sở các chứng từ có
giá. Các chứng từ này phải hợp lệ, hợp pháp và an toàn. Tái cấp vốn gồm có các


11
hình thức: Cho vay bằng chiết khấu hoặc tái chiết khấu giấy tờ có giá, cho vay có
bảo đảm bằng giấy tờ có giá và các hình thức tái cấp vốn khác.
+ Cho vay thanh toán: khi các NHTM tham gia hệ thống thanh toán bù trừ,
nếu Ngân hàng nào thiếu vốn để thanh toán thì sẽ được Ngân hàng nhà nước cho
vay để đảm bảo các khoản giao dịch thanh toán bù trừ thực hiện. Khi cho vay thanh
toán, NHTƯ có thể áp dụng một trong hai phương thức cho vay là cho vay qua đêm
hoặc cho vay thấu chi.
Việc NHTM vay vốn ở NHTƯ phụ thuộc vào chính sách tiền tệ quốc gia
trong từng thời kỳ mà NHTƯ có thể cho vay với khối lượng, thời hạn, lãi suất, hạn
mức… khác nhau để thực hiện chính sách tiền tệ của mình.
- Vay từ các tổ chức tín dụng khác
Đây là nguồn các NHTM vay mượn lẫn nhau và vay của tổ chức tín dụng
khác trên thị trường liên Ngân hàng. Các Ngân hàng đang có dự trữ vượt yêu cầu
kết dự trữ vượt yêu cầu do có kết dư gia tăng bất ngờ về các khoản huy động hoặc
giảm cho vay sẽ sẵn lòng cho các Ngân hàng đang thiếu hụt dự trữ có nhu cầu vay
mượn tức thời để đảm bảo thanh toán.
Vốn vay thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn kinh doanh của
NHTM, có vai trò góp phần gia tăng nguồn vốn, mở rộng kinh doanh, đảm bảo khả
năng thanh toán thường xuyên và nâng cao hiệu quả sử dung vốn của NHTM. Các
khoản vay trên thị trường liên Ngân hàng dùng để bổ sung nguồn vốn hoạt động,
các Ngân hàng có nhu cầu vay thêm trên thị trường tiền tệ khi cần mở rộng kinh
doanh, bổ sung nguồn vốn, nâng cao năng lực cạnh tranh và vị thế của mình. Các
nguồn vay từ NHTƯ chỉ có ý nghĩa nâng cao khả năng thanh khoản, tăng thêm

Số vốn có được do NHTM làm trung gian thanh toán như số vốn trong thời
gian như đã trích tài khoản của người chi trả nhưng chưa chuyển vốn vào người thụ
hưởng do phải luân chuyển, xử lý chứng từ thanh toán; số vốn trong thời gian khách
hàng lưu ký tại Ngân hàng nhưng chưa thanh toán. Ngày nay, khi công nghệ ngày
càng hiện đại, quy trình, thủ tục, thanh toán được cải tiến thì thời gian của mỗi
khoản thanh toán được giảm đi đáng kể, do đó, vốn mà Ngân hàng có được trong
mỗi khoản thanh toán cũng giảm. Ngoài ra, còn có các khoản phí, lãi phải trả đã
trích nhưng chưa trả, công nợ nội bộ chưa thanh toán.
Trên đây là các nguồn hình thành nên nguồn vốn của các NHTM, nhìn qua ta
thấy trong cơ cấu tổng nguồn vốn thì vốn huy động là nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao
nhất (trên 90%), nó quyết định đến sự tồn tại và phát triển của hoạt động sử dụng


13
vốn của Ngân hàng. Vì vậy từng Ngân hàng phải có những chiến lược huy động
vốn của riêng mình trên cơ sở phù hợp với điều kiện thực tế của từng Ngân hàng và
của môi trường kinh doanh để không ngừng nâng cao thị phần huy động nhằm phục
vụ tốt nhất cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
1.2. Hoạt động thu hút vốn ngoại tệ của Ngân hàng thương mại
1.1.3. Các nguồn vốn ngoại tệ
1.1.3.1. Nguồn hình thành từ các hoạt động kinh tế trong nước
- Thứ nhất, ngoại tệ trong dân cư
Ngoại tệ trong dân cư được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, do thừa
kế, cho tặng, buôn bán tiểu ngạch,... tuy là những món nhỏ, nằm rải rác trong dân
cư nhưng cũng chiếm tỷ trọng đáng kể nếu huy động được.
- Thứ hai, ngoại tệ thu từ xuất khẩu hàng hoá
Hoạt động xuất khẩu là đưa nguồn tài nguyên, hàng hóa của một nước ra
nước ngoài để đổi lấy ngoại tệ. Xuất khẩu tạo ra nguồn ngoại tệ cần thiết cho tích
lũy ban đầu, cho quá trình phát triển đất nước, tạo ra sự phồn vinh kinh tế. Ngoại tệ
thu được do xuất khẩu hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của quốc gia, không lệ thuộc

Hỗ trợ phát triển chính thức ODA và các hình thức ODF khác. ODA chiếm
tỷ trọng lớn chủ yếu trong nguồn ODF.
Nguồn ODF là nguồn phát triển do các tổ chức quốc tế, Chính phủ (hoặc cơ
quan đại diện Chính phủ) cung cấp. Đó là do các tổ chức quốc tế như: Chương trình
phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới
(WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Ngân hàng Phát triển Liên Mỹ, Ngân
hàng Phát triển Châu Phi (AFDB)... các quỹ và hiệp hội phát triển khác như: Quỹ
nông nghiệp và phát triển quốc tế, Hiệp hội phát triển quốc tế...
Nguồn vốn này được sử dụng để hỗ trợ các nước nghèo thực hiện các
chương trình phát triển và tăng phúc lợi của mình và nó đem lại rất nhiều lợi thế
cho các nước đang phát triển như: lãi suất thấp, thời hạn vay dài hoặc viện trợ
không hoàn lại.
ODA với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển nên mang tính chất ưu
đãi cao hơn so với bất kỳ nguồn tài trợ nào. Song, đôi khi ODA, nhất là các khoản
do Chính phủ cung cấp, thường được gắn với các ràng buộc nào đó về mặt chính trị,
xã hội, thậm chí về quân sự. Với những điều kiện đó, không phải nước nào cũng có


15
thể nhận được viện trợ hoặc sử dụng viện trợ có hiệu quả cao trong hoàn cảnh riêng
của mình. ODA được thực hiện dưới hình thức cho vay của nước cấp vốn nên các
nước nhận coi đây là nợ nước ngoài.
Bởi vậy, nếu đồng tiền của nước cung cấp tăng giá so với đồng tiền của nước
tiếp nhận thì điều này càng tăng thêm gánh nợ của các nước nhận viện trợ. Trên
thực tế, nguồn vốn này đã giúp Việt Nam thực hiện được một số dự án hiệu quả như
dự án viễn thông, cấp thoát nước...
- Vay của tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế:
Các điều kiện ưu đãi dành cho các nguồn vốn này không dễ dàng như nguồn
tài trợ phát triển chính thức. Song bù lại, nó có ưu điểm rõ ràng là hầu như không có
ràng buộc chính trị - xã hội. Tuy nhiên, thủ tục khắt khe, thời hạn trả nợ nghiêm

1.1.4. Vai trò của ngoại tệ
Trong những năm gần đây các nhà kinh tế thế giới quan tâm rất nhiều đến
vai trò của vốn ngoại tệ đối với chiến lược phát triển kinh tế, đặc biệt đối với quá
trình phát triển kinh tế của các nước đang phát triển. Hầu hết các nhà kinh tế đều đi
đến một nhận xét thống nhất là trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển kinh tế
của một nước do thu nhập thấp nên khả năng tích lũy vốn quá ít, từ đó thiếu vốn đầu
tư cho mục tiêu phát triển cơ sở hạ tầng, những công trình kinh tế cơ bản và do đó,
năng suất lao động trong nền kinh tế thấp và tất yếu dẫn đến thu nhập lại thấp hơn.
Vòng luẩn quẩn khắc nghiệt đó càng ngày càng thắt chặt lấy số phận kinh tế xã hội
của các nước chậm phát triển như một sợi dây oan nghiệt. Hơn nữa như ở Việt Nam
trong giai đoạn này do nền công nghiệp chưa phát triển nên hàng hóa xuất khẩu,
nếu có đa phần là sản phẩm như nông sản, hàng thủ công, dầu thô... có giá trị gia
tăng thấp – đây là một bất lợi trong phát triển. Ngược lại về phía nhập khẩu, nhu
cầu phát triển đòi hỏi phải nhập hàng cao cấp gồm các máy móc, thiết bị đắt tiền,
mua kỹ thuật công nghệ, các loại hóa chất,... là những thứ có giá trị gia tăng cao.
Cán cân thương mại và cán cân thanh toán vì thế hầu như luôn nằm trong tình trạng
thâm hụt nặng nề. Đối với nước nào không khống chế được xu hướng gia tăng nhập
khẩu hàng tiêu dùng và kiểm soát chặt nạn buôn lậu qua biên giới thì tình trạng
thâm hụt toàn bộ thực tế còn tồi tệ hơn. Trong khi đó đồng tiền quốc gia chưa phải
là đồng tiền có khả năng chuyển đổi. Vấn đề đô la hóa lại đang diễn ra, làm cho


17
ngoại tệ khan hiếm nhưng không tập trung được vào trong tay Nhà nước để phục vụ
cho chiến lược phát triển kinh tế. Vì vậy nhu cầu vốn ngoại tệ rất lớn và là thách
thức, khó giải quyết trong chặng đường phát triển đầu tiên của một nước.
1.2.3. Các hình thức thu hút vốn ngoại tệ của Ngân hàng thương mại
1.2.3.1. Nhận tiền gửi ngoại tệ của dân cư và các tổ chức kinh tế, tài chính
Các Ngân hàng tìm kiếm nguồn vốn ngoại tệ trong dân cư và của các doanh
nghiệp có thu ngoại tệ qua hoạt động xuất nhập khẩu hay các dịch vụ thu bằng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status