Nghiên Cứu Cơ Sở Khoa Học Cho Đề Xuất Một Số Giải Pháp Phòng Cháy Chữa Cháy Rừng Tại Thành Phố Hạ Long, Tỉnh Quảng Ninh - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

MẠC VĂN XUYÊN

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC CHO
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PCCCR TẠI THÀNH PHỐ
HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Thái Nguyên, năm 2012


ĐẠI HOC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

MẠC VĂN XUYÊN

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC CHO
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PCCCR TẠI
THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

CHUYÊN NGÀNH: LÂM HỌC

MÃ SỐ: 60 62 02 01

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
Pgs.TS. LÊ SỸ TRUNG

góp của các thầy, cô giáo, các nhà khoa học, bạn bè, đồng nghiệp để luận văn
được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn.
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2012
Tác giả

Mạc Văn Xuyên


ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BCH

Ban chỉ huy

BQL

Ban quản lý

BVR

Bảo vệ rừng

CBCC

Cán bộ công chức

CCR


VLC

Vật liệu cháy

VQG

Vườn quốc gia

ÔTC

Ô tiêu chuẩn

NCC

Nguy cơ cháy

NCCR

Nguy cơ cháy rừng


iii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu

Tên bảng

Trang


1.6

Cấp cháy cho rừng Thông của Việt Nam Theo A.N.Cooper, 1991

12

1.7

Phân cấp cháy rừng theo độ ẩm VLC

14

4.1

Diện tích rừng và đất lâm nghiệp tại thành phố Hạ Long

31

4.2

Đặc điểm tầng cây cao của rừng trồng ở khu vực nghiên cứu

33

4.3

Đặc điểm lớp cây bụi, thảm tươi ở các trạng thái rừng

35


4.9

Phương trình tương quan giữa Vg với Vc và Hl

44

4.10

So sánh phương trình tương quan giữa Vc, Hl với α

45

4.11

Phương trình tương quan giữa độ dốc (α) đến Vc và Hl

46

4.12

Tổng hợp các công trình PCCCR

40

4.13

Phỏng vấn một số hộ gia đình về công tác PCCCR

53

Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ...............................31
4.1. Đặc điểm rừng và tình hình cháy rừng tại thành phố Hạ Long ...................31
4.1.1. Diện tích và sự phân bố các loại rừng ............................................... …..31
4.1.2. Một số đặc điểm cấu trúc trạng thái rừng chủ yếu ……………………..32
4.1.3. Tình hình cháy rừng tại thành phố Hạ Long ............................................37
4.2. Đặc điểm một số nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến cháy rừng tại thành phố
Hạ Long - Quảng Ninh .....................................................................................38
4.2.1. Đặc điểm VLC........................................................................................38
4.2.2. Ảnh hưởng của tốc độ gió đến khả năng cháy rừng.................................44
4.2.3. Đặc điểm của độ dốc...............................................................................46


4.3. Đánh giá thực trạng công tác quản lý cháy rừng tại thành phố Hạ Long ....50
4.3.1. Công tác tổ chức lực lượng PCCCR........................................................50
4.3.2. Công tác giáo dục tuyên truyền ...............................................................50
4.3.3. Công trình PCCCR. ................................................................................52
4.3.4. Trang thiết bị PCCCR .............................................................................54
4.3.5. Công tác PCCCR ở các hộ gia đình……………………………………..54
4.3.6. Những thuận lợi, khó khăn trong công tác PCCCR ở địa phương……...55
4.3.6.1. Thuận lợi………………………………………………………………55
4.3.6.2. Khó khăn………………………………………………………………56
4.4. Đề xuất các giải pháp quản lý cháy rừng cho thành phố Hạ Long …….....57
4.4.1. Giải pháp về tổ chức - thể chế.................................................................58
4.4.2. Giải pháp kỹ thuật...................................................................................59
4.4.3. Giải pháp về kinh tế - xã hội ...................................................................67
KẾT LUẬN - TỒN TẠI - KIẾN NGHỊ ............................................................69
Kết luận ............................................................................................................69
Tồn tại ..............................................................................................................71
Kiến nghị..........................................................................................................71
TÀI LIỆU THAM KHẢO

trọng. Theo số liệu của Cục kiểm lâm, ở Việt Nam bình quân mỗi năm xẩy ra
hàng trăm vụ cháy rừng và diện tích bị thiệt hại là hàng nghìn ha, trong đó
chủ yếu là: rừng trồng tập trung các loài cây dễ cháy, rừng non, rừng phục


2
hồi, rừng tre nứa….Về kinh tế thiệt hại hàng trăm tỷ đồng, còn môi trường
ngày càng ô nhiễm, làm tăng lũ lụt ở vùng hạ lưu, giảm tính đa dạng sinh học,
phá vỡ cảnh quan, tác động xấu đến an ninh quốc phòng…
Nhận thức được vấn đề đó, trong những năm gần đây Đảng và Chính phủ
Việt Nam đã rất quan tâm đến công tác quản lý, bảo vệ rừng đặc biệt là phòng
cháy chữa cháy rừng, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do cháy rừng
gây ra. Tuy nhiên kết quả vẫn chưa được như mong muốn, cháy rừng vẫn
thường xuyên xảy ra: do việc chấp hành các quy định của các chủ rừng chưa
thực sự được quan tâm. Việc đầu tư xây dựng các công trình PCCCR của các
chủ rừng chưa đảm bảo theo quy định, một số địa phương chưa thực sự quan
tâm đến công tác PCCCR, ý thức của người dân sống ở ven rừng và trong
rừng đối với công tác PCCCR chưa cao. Công tác PCCCR là một việc phải
được áp dụng đồng bộ và phải được các cấp các nghành quan tâm, người dân
hưởng ứng, các cơ quan quản lý nhà nước, các chủ rừng đòi hỏi phải nắm
được đầy đủ những quy định pháp luật và những biện pháp cụ thể liên quan
đến phòng cháy, chữa cháy rừng, vận dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh
cụ thể của từng địa phương.
Quảng Ninh là một tỉnh đặc thù có trên 70% diện tích đất lâm nghiệp những
năm vừa qua đã triển khai đồng loạt các dự án trồng rừng tập trung với một số
loài cây dễ cháy như: Thông, Quế, Hồi... Một số diện tích rừng tự nhiên là
rừng tre nứa xen gỗ cộng với sự biến đổi khắc nghiệt của khí hậu thời tiết, có
nhiều đợt nắng nóng kéo dài, phong tục tập quán đốt nương làm rẫy, đốt đồng
cỏ để chăn thả trâu, bò, đốt ong... đã làm cho nguy cơ cháy rừng trên địa bàn
luôn ở mức báo động. Theo số liệu theo dõi tổng hợp từ Chi cục kiểm lâm

rừng, phương pháp dự báo cháy rừng đều dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa các
yếu tố khí tượng với nguồn vật liệu cháy hoặc giữa các yếu tố khí tượng với
số vụ cháy xảy ra trong nhiều năm. Các nghiên cứu chủ yếu hướng vào làm
suy giảm 3 thành phần của tam giác lửa: (1) - Giảm nguồn lửa bằng cách
tuyên truyền vận động không mang lửa vào rừng, dập tắt than sau khi dùng
lửa... (2) - Giảm khối lượng vật liệu cháy bằng cách đốt trước một phần vật
liệu cháy, hoặc đốt đón đầu để cô lập đám cháy; (3) - Giảm khả năng cung
cấp oxi cho đám cháy bằng cách dùng chất dập lửa (Hóa chất, cát, nước,
đất...) để ngăn vật liệu cháy tiếp xúc với oxi. Các chất dập cháy cũng có tác
dụng làm giảm nhiệt độ để làm giảm hoặc ngưng hản quá trình cháy.
Các nhà khoa học đã phân biệt có 3 loại cháy rừng: (1) Cháy dưới tán cây
hay cháy mặt đất rừng là trường hợp chỉ cháy một phần hay toàn bộ lớp cây
bụi, cỏ khô và cành rơi lá rụng trên mặt đất; (2) Cháy tán rừng (cháy ngọn
cây) là trường hợp lửa lan tràn từ tán cây này sang tán cây khác; (3) Cháy
ngầm (cháy dưới mặt đất) là trường hợp xảy ra khi lửa lan tràn chậm, âm ỉ
dưới mặt đất trong lớp thảm mục dày hoặc than bùn. Trong một đám cháy có


5
thể xảy ra đồng thời cả 2,3 loại cháy rừng trên. Tuỳ theo loại cháy rừng mà
người ta đưa ra những biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng khác nhau.
Năm 1904, Dulop - nhà khoa học người Đức đã nghiên cứu sự thay đổi
hàm lượng nước của lá khô theo độ ẩm không khí làm cơ sở để xác định khả
năng bắt lửa của lớp thảm mục trong rừng [13]. Để xác định mối quan hệ này,
tác giả đã sử dụng lá của một số loài cây như: Sơn mao tử, Bạch đàn, Phong,
Đường tế, Dẻ và cây Hoa để ở nhiệt độ 26.70C trong thời gian 24 giờ. Hàm
lượng nước chứa trong lá khô được xác định và biểu diễn trên đồ thị theo
những sự thay đổi của độ ẩm không khí.
Năm 1918, Weitmann đã xác định được mối quan hệ chặt chẽ giữa hàm
lượng nước của vật liệu cháy là thảm khô, thảm mục và cỏ dại với khả năng

III

13 – 15

Dễ phát sinh

IV

10 – 13

Nguy hiểm

V

< 10

Cực kỳ nguy hiểm

Ở Nga cũng có nhiều công trình nghiên cứu về dự báo cháy rừng, trong đó
phải kể đến công trình của giáo sư V.G. Nesterov (1929-1940) nghiên cứu về
của một số yếu tố khí tượng ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm cháy rừng.
Nghiên cứu chỉ ra rằng: nơi nào có nhiệt độ không khí càng cao, độ ẩm không
khí thấp, số ngày không mưa kéo dài thì vật liệu cháy càng khô và càng dễ


6
phát sinh đám cháy. Trên cơ sở phân tích trên ông đã đưa ra chỉ tiêu khí tượng
tổng hợp để đánh mức độ nguy hiểm cháy rừng theo công thức:

Trong đó:


0.2

0.1

0

Di: Là nhiệt độ điểm sương (0C)
Các chỉ tiêu được ký hiệu như ở công thức 1.1.
Thực tế, nhiệt độ điểm sương phụ thuộc vào độ chênh lệch bão hòa của độ
ẩm không khí nên về bản chất 2 công thức (1.1) và (1.2) là giống nhau. Tuy
nhiên hạn chế của phương pháp này là chưa tính đến tốc độ gió và đặc điểm
vật liệu cháy. Với hệ số K xác định lượng mưa ngày và áp dụng công thức


7
(1.2), tính được chỉ tiêu P, từ đó phân mức nguy hiểm của cháy rừng thành 5
cấp như bảng 1.2.
Bảng 1.2: Phân cấp mức độ nguy hiểm của cháy rừng theo chỉ tiêu P
Cấp cháy

Chỉ tiêu tổng hợp P

Mức độ nguy hiểm

Theo Nesterov

Theo ΓMЦ

của cháy rừng


Rất nguy hiểm

V

> 4000

> 2000

Cực kỳ nguy hiểm

- Năm 1979, Trabaud [8] tiến hành nghiên cứu thực nghiệm về cháy rừng
ở miền nam nước Pháp và đã kết luận rằng: tốc độ cháy lan của ngọn lửa ở
một đám cháy nhỏ phụ thuộc vào tốc độ gió, chiều cao thực bì của VLC theo
công thức:
Vp = 0.066 × Uv0.439 × H0.345

với r = 0.84

(1.3)

Trong đó: Vp: Là tốc độ cháy lan (cm/s)
Uv: Tốc độ gió trung bình (cm/s)
H: Chiều cao thực bì (cm)
Theo công thức (1.3), khi tốc độ gió càng lớn thì lửa cháy lan càng nhanh,
chiều cao thực bì có liên quan đến sinh khối của VLC cũng như tốc độ cháy
của ngọn lửa.
Cũng theo Trabaud, độ ẩm VLC càng cao, mức độ cháy lan càng giảm thể
hiện bằng công thức
Vp =

I

I > 4.0

Không có khả năng cháy

II

2.5 ≤ I < 4.0

Ít có khả năng cháy

III

2.0 ≤ I < 2.5

Khả năng cháy rừng trung bình

IV

I < 2.0

Có nhiều khả năng cháy rừng

Phương pháp dự báo này không tính đến ảnh hưởng của các nhân tố khí
tượng: nhiệt độ không khí, độ ẩm không khí, lượng mưa, thời gian mưa và gió
nên chưa phản ánh rõ nét mối quan hệ giữa nhiệt độ không khí, độ ẩm không
khí với vật liệu cháy và ảnh hưởng đến cháy rừng.
Tuy nhiên, đây là phương pháp đơn giản, dễ tính toán nên phương pháp dự
báo cháy rừng theo chỉ số Angstrom vẫn được áp dụng rộng rãi ở Bồ Đào Nha


500 < I < 3.000

6

Cao

3.000 < I < 7.000

15

Rất cao

I > 7.000

>15

Qua nghiên cứu các khu vực bị cháy ở Trung Quốc, Yangmei [8] đã đưa
ra phương pháp dự báo cháy rừng theo chỉ tiêu khả năng bén lửa với trình tự
như sau:
- Dựa vào mối quan hệ của mức độ bén lửa của vật liệu cháy với các yếu
tố về: nhiệt độ không khí cao nhất (T14), độ ẩm tương đối không khí nhỏ nhất
trong ngày (R14), số giờ nắng (m), lượng bốc hơi (M).
- Sau đó căn cứ vào trị số của cường độ cháy trung bình (I) để đánh giá
mức độ nguy hiểm của cháy rừng với 5 cấp: không cháy, khó cháy, có thể
cháy, dễ cháy và cháy mạnh.
Phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng theo chỉ tiêu bén lửa của
Yangmei cũng đã tính tới tác động tổng hợp của các nhân tố khí tượng có ảnh
hưởng quan trọng tới khả năng phát sinh và phát triển của cháy rừng trong
những ngày tháng dễ xảy ra cháy rừng một cách định lượng nhưng phương

Các phương pháp dự báo cháy rừng đã được mô hình hoá và xây dựng
thành những phần mềm làm giảm nhẹ công việc và tăng độ chính xác của dự
báo nguy cơ cháy rừng. Việc ứng dụng ảnh viễn thám và công nghệ GIS đã
cho phép phân tích những diễn biến thời tiết, dự báo nhanh chóng và chính
xác khả năng xuất hiện cháy rừng, phát hiện sớm đám cháy trên những vùng
rộng lớn.
Nhìn chung có thể thấy rằng các nghiên cứu về dự báo cháy rừng, quản lý
VLC trong công tác PCCCR được bắt đầu và hoàn thiện dần phần lớn từ
những nước ở Châu Âu, Mỹ, Australia…Còn ở những nước đang phát triển,
trong đó có Việt Nam những công trình nghiên cứu mới chủ yếu áp dụng có


11
cải tiến những công trình nghiên cứu của các nước, vì vậy cần có những
nghiên cứu cụ thể để áp dụng trong công tác PCCCR cho phù hợp với từng
địa phương.
1.2. Ở Việt Nam
Công tác dự báo khả năng xuất hiện cháy rừng mới được đề cập đến vào
những năm 70 của thế kỷ XX nhưng chỉ được xem một cách định tính về các
yếu tố khí tượng như: nắng, gió, mưa…
Năm 1988, Phạm Ngọc Hưng đã áp dụng phương pháp của V.G.Nesterov
trên cơ sở nghiên cứu cải tiến, điều chỉnh hệ số K theo lượng mưa ngày để
tính toán và xây dựng phương pháp dự báo cháy rừng cho rừng Thông tỉnh
Quảng Ninh [17] theo công thức sau:

Trong đó:
P: Chỉ tiêu tổng hợp đánh giá nguy cơ cháy rừng
K: Hệ số điều chỉnh theo lượng mưa, K có giá trị bằng 1 khi lượng mưa
ngày < 5mm, K có giá trị bằng 0 khi lượng lượng mưa ngày ≥ 5mm.
ti13: Nhiệt độ không khí lúc 13h ngày thứ i (0C)

2501-5000

Nhiều khả năng cháy rừng

IV

5001-10000

Nguy hiểm về cháy rừng

V

>10000

Cực kỳ nguy hiểm đối với cháy rừng

Năm 1991, A.N.Cooper, chuyên gia về quản lý cháy rừng của FAO, sau
khi khảo sát một số địa phương nước ta đề nghị sử dụng phương pháp của
V.G. Nesterov nhưng cần phải tính tới tốc độ gió[37]. Sau khi tính chỉ tiêu P
nhân với hệ số gió như sau:
Khi tốc độ gió là 0 - 4km/h

P×1

Khi tốc độ gió từ 5 - 15km/h

P ×1.5

Khi tốc độ gió từ 16 - 25km/h



4001 - 12000

Vàng

12001 - 30000

Da cam

> 30000

Đỏ

bình
III

Có nguy hiểm cháy cao

IV

Có nguy hiểm cháy rất cao


13
Yếu tố gió được đo vào lúc 13h hàng ngày ở độ cao 10m trên đỉnh đồi.
Tuy nhiên, do đặc tính của gió là có thể thay đổi nhanh cả về hướng gió và tốc
độ nên hệ số gió thường chỉ có thể có giá trị cao nhất 24 giờ kể từ khi đo tính.
Tuy vậy đến nay phương pháp này vẫn đang được thử nghiệm và nghiên cứu tiếp.
Phó Đức Đỉnh thử nghiệm đốt trước vật liệu cháy dưới rừng Thông non 2
tuổi ở Đà Lạt [14]. Theo tác giả, ở rừng Thông non nhất thiết phải gom vật

Năm 2001, Bế Minh Châu [6] đã nghiên cứu ảnh hưởng của các điều kiện
khí tượng đến độ ẩm và khả năng cháy và vật liệu cháy dưới tán rừng Thông
ở miền Bắc Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng của các yếu
tố: lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm không khí, số ngày không mưa liên tục, số
ngày mưa liên tục và độ ẩm vật liệu cháy ngày hôm trước tới độ ẩm vật liệu
cháy chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thể hiện qua những phương
trình tương quan.
Tác giả đã nghiên cứu tại 3 khu vực: huyện Hoành Bồ - Quảng Ninh, Hà
Trung - Thanh Hóa và Nam Đàn - Nghệ An, kết quả cho thấy cả 3 khu vực
khi áp dụng các phương trình dự báo độ ẩm VLC để có sai số tích lũy theo
thời gian. Trong 5 ngày, sai số trung bình là 7%, trong 10 ngày liên tục sai số
trung bình là 8.5%, trong 15 ngày liên tục sai số trung bình xấp xỉ 10% và
trong khoảng 20 ngày liên tục sai số trung bình trong cả 3 khu vực là lớn hơn
10%. Do đó để đảm bảo độ chính xác cho công tác dự báo chính xác thì sau
10 ngày phải xác định lại độ ẩm vật liệu cháy bổ sung. Từ đó tác giả đưa ra
được biểu phân cấp cháy rừng theo độ ẩm VLC như bảng 1.7.
Bảng 1.7: Phân cấp cháy rừng theo độ ẩm VLC
Cấp

Độ ẩm

Tốc độ cháy

Biến đổi của

Khả năng xuất hiện cháy

cháy

VLC (%)

0.0038 - 0.0063
0.0064 - 0.0096

Tương đối

Có khả năng cháy,

nhanh

tương đối nguy hiểm

Nhanh

Có nhiều khả năng cháy,
nguy hiểm


15
V

< 10

> 0.0096

Rất nhanh

Rất dễ bắt cháy,
cực kỳ nguy hiểm

Từ năm 2002, trường Đại học Lâm nghiệp phối hợp với Cục Kiểm lâm đã

cháy của vật liệu cháy cho từng trạng thái rừng nên chưa xác định được cấp
cháy cho từng trạng thái rừng, phải kế thừa phân cấp nguy cơ cháy rừng của
các nghiên cứu trước mà chưa có kiểm nghiệm độ chính xác.
Năm 2006, Vương Văn Quỳnh và các cộng sự đã nghiên cứu xây dựng
phần mềm dự báo lửa rừng cho khu vực U Minh và Tây Nguyên. Phần mềm
này khắc phục được một số nhược điểm của phần mềm xây dựng năm 2002 .
Cho đến nay phương pháp dự báo cháy rừng ở nước ta vẫn còn mới mẻ,
trong đó vẫn chưa tính đến đặc điểm của trạng thái rừng, đặc điểm khí hậu và
điều kiện kinh tế xã hội có ảnh hưởng tới cháy rừng từng địa phương.
Năm 2007, Lê Văn Tập nghiên cứu cơ sở khoa học để hiệu chỉnh cấp dự
báo nguy cơ cháy rừng cho các tỉnh vùng Bắc Trung Bộ [24]. Tác giả đã
nghiên cứu trên 3 loại rừng:
Loại 1: là rất dễ cháy bao gồm rừng tre nứa tự nhiên, rừng trồng Thông, tre
luồng và một số trạng thái thực bì như ràng ràng, cỏ tranh, lau lách…
Loại 2: là rừng dễ cháy gồm một số trạng thái rừng trồng ngoài Thông,
trạng thái Ia, Ib.
Loại 3: là rừng ít có khả năng cháy là rừng tự nhiên và rừng ngập mặn.
Qua nghiên cứu tác giả đã đưa ra bảng hiệu chỉnh chỉ tiêu P cho 2 loại
rừng rất dễ cháy và dễ cháy cho khu vực Bắc Trung Bộ, hệ số điều chỉnh
chính là hệ số. Đề tài nghiên cứu đã kết luận: Đặc điểm cấu trúc có ảnh hưởng
rõ rệt đến nguy cơ cháy rừng của các kiểu rừng khác nhau. Nhưng nghiên cứu
mới chỉ đưa ra các yếu tố khí tượng có ảnh hưởng đến biến đổi vật liệu cháy
là nhiệt độ, độ ẩm không khí, lượng mưa mà chưa đưa ra ảnh hưởng của gió
đến vật liệu cháy.
Năm 2007, Hà Văn Hoan đã nghiên cứu một số giải pháp nhằm quản lý
vật liệu cháy cho rừng trồng tại huyện Cam Lộ, Tỉnh Quảng Trị [16]. Tác giả
đã thử nghiệm trên rừng Thông 6 tuổi, 10 tuổi, 20 tuổi và rừng Keo lá Tràm 3
tuổi, 6 tuổi. Nghiên cứu chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến đặc tính đám





18
giả đã đưa ra bảng phân cấp khả năng xuất hiện cháy rừng theo độ ẩm VLC.
Việc dự báo khả năng cháy rừng và phân cấp mức độ nguy hiểm của cháy
rừng cho từng ngày cụ thể cần phải xác định chính xác độ ẩm vật liệu trong
ngày đó. Nhưng thực tế điều này rất khó làm, nên việc dự báo phải thông qua
yếu tố khí tượng.
Năm 2010, Trịnh Phú Thuận đã nghiên cứu xây dựng các giải pháp quản
lý cháy rừng tại thị xã Uông Bí [30]. Tác giả đã tiến hành nghiên cứu trên
trạng rừng tự nhiên (IIa, IIIa), rừng trồng Keo ở các cấp tuổi, rừng trồng
Thông Bạch đàn ở các cấp tuổi. Ảnh hưởng của vật liệu cháy, điều kiện khí
tượng, điều kiện địa hình ảnh hưởng đến khả năng cháy rừng, xây dựng bản
đồ quản lý cháy rừng cho khu vực Uông Bí. Tác giả cũng đã đề xuất các biện
pháp kỹ thuật: xây dựng đường băng xanh cản lửa, đường băng trắng, quản lý
vật liệu cháy, đốt trước vật liệu cháy… Trong đề tài nghiên cứu đã chỉ ra rằng
những nơi có địa hình dốc trên 250 không nên xây dựng băng trắng cản lửa,
nên xây dựng đường băng xanh, nếu trong trường hợp chưa có điều kiện có
thể làm đường băng trắng 1-2 năm đầu sau đó xây dựng đường băng xanh.
Việc đốt trước có điều khiển cần chú ý đến tuổi rừng, tốc độ gió, chiều cao
dưới cành của tầng cây cao, độ ẩm vật liệu cháy và thời điểm đốt. Tuy nhiên
việc tiến hành nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở một số trạng thái rừng nhất định
chưa được tiến hành trên diện rộng, tập trung ở phường Vàng Danh, Thượng
Yên Công. Chính vì vậy nếu có điều kiện nghiên cứu rộng hơn, thời gian theo
dõi dài thì kết quả nghiên cứu sẽ áp dụng trên diện rộng, chính xác.
Nhìn chung quá trình nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy rằng các tác giả đã
vận dụng những phương pháp của thế giới thay đổi cho phù hợp với điều kiện
của chúng ta. Tuy nhiên thì việc nghiên cứu mới chỉ quan tâm nhiều đến nhân
tố VLC, còn vấn đề quản lý nguồn VLC và các vấn đề kinh tế xã hội thì chưa
được đi sâu nghiên cứu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status