LỊCH sử VIỆT NAM THỜI kỳ 1945 – 1946 - Pdf 35

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG PT VÙNG CAO VIỆT BẮC

CHUYÊN ĐỀ TRẠI HÈ HÙNG VƯƠNG

LỊCH SỬ VIỆT NAM THỜI KỲ 1945 – 1946
MÃ: SU11

Môn: Lịch sử
Người thực hiện: Hoàng Thị Huyền Vũ

Thái Nguyên, tháng 06 năm 2015


A. PHẦN MỞ ĐẦU
I.

Lý do chọn đề tài
Thứ nhất, xuất phát từ vị trí ảnh hưởng của chuyên đề LSVN thời kỳ 1945 –

1946 đối với chương trình dạy học tại các lớp chuyên sử. Nội dung chuyên đề nhằm
cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về lịch sử Việt Nam thời kì 1945 –
1946, đảm bảo chuẩn kiến thức và chuẩn kĩ năng của môn học, vừa đảm bảo tri thức
về lịch sử. Hệ thống các câu hỏi liên quan mật thiết với kiến thức cơ bản được trả lời
một cách khoa học, logic..
Mặt khác, chuyên đề này càng có ý nghĩa quan trọng hơn, quyết định đến chất
lượng thi HSGQG môn lịch sử: hàng năm nội dung liên quan tới lịch sử VN thời kỳ
1945 -1946 được vận dụng nhiều trong các đề thi HSGQG như năm 2003, 2004, 2005,
2011.
Thứ hai, thực tiễn đã xác nhận rằng, trong nhiều năm qua việc lựa chọn nội
dung và phương pháp ôn tập cho HSGQG khi giảng dạy chuyên đề cụ thể theo từng

I – Tình hình nước ta sau cách mạng tháng Tám năm 1945
1. Khó khăn
2. Thuận lợi
II. Bước đầu xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng
1. Về chính trị - quân sự
a, Chính trị
b, Quân sự
c, Ý nghĩa
2. Về kinh tế - tài chính
a, Về kinh tế
b, Ý nghĩa
3. Về văn hóa – giáo dục
4. Ý nghĩa
III – ĐẤU TRANH CHỐNG NGOẠI XÂM VÀ NỘI PHẢN, BẢO VỆ CHÍNH
QUYỀN CÁCH MẠNG
1. Kháng chiến chống thực dân Pháp trở lại xâm lược ở Nam Bộ
2. Đấu tranh với quân Trung Hoa Dân quốc và bọn phản động cách mạng ở miền
Bắc
a,Chủ trương


b,Biện pháp
c,Kết quả
d,Ý nghĩa
3. Hòa hoãn với Pháp nhằm đẩy quân Trung Hoa Dân quốc ra khỏi nước ta
a. Hiệp định Sơ bộ
b, Tạm ước 14-9-1946
VẤN ĐỀ 2 - MỘT SỐ CHỦ ĐỀ CHUYÊN SÂU VỀ TÌNH HÌNH NƯỚC VIỆT
NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA TỪ SAU NGÀY 2-9-1945
ĐẾN TRƯỚC NGÀY 19-12-1946

gay gắt và phức tạp đó. Vừa mới ra đời, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã bị chủ
nghĩa đế quốc và các thế lực phản động liên kết với nhau bao vây, chống phá quyết
liệt.
Giặc ngoài thù trong khó khăn chồng chất khó khăn đè nặng lên đất nước ta, đặt
chính quyền cách mạng trước một tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”!
Vận mệnh độc lập tự do của dân tộc vừa mới giành được đang đứng nguy cơ
mất còn!
Trọng trách nặng nề đối với dân tộc đã giao phó cho Đảng và chính phủ nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa, do Hồ Chí Minh đứng đầu, với tư cách là người lãnh đạo
và quản lí điều hành cao nhất của đất nước.
Căn cứ vào phương hướng và nhiệm vụ, chiến lược và sách lược do Hội nghị
toàn quốc của Đảng và Quốc dân đại hội họp tháng 8 – 1945 đã thông qua, ngay sau
khi về Hà Nội, Ban thường vụ Trung Ương Đảng và Chính phủ đã đề ra những nhiệm
vụ và biện pháp cấp bách đầu tiên để bảo vệ và xây dựng đất nước. Đặc biệt ngày 25 –
11 – 1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra bản chỉ thị quan trọng Kháng
chiến, kiến quốc, xác định nhiệm vụ chiến lược, nhiệm vụ trước mắt và những chính
sách lớn để chỉ đạo hành động của toàn Đảng,toàn dân trong cuộc đấu tranh nhằm giữ
vững quyền độc lập tự do, bảo vệ chế độ mới.
Phân tích cụ thể tình hình thế giới và trong nước, đánh giá thái độ, âm mưu của
các thế lực đế quốc đối với cách mạng Đông Dương, bản chỉ thị xác định: “Cuộc cách
mạng Đông Dương lúc này vẫn là cuộc cách mạng dân tộc giải phóng. Cuộc cách
mạng ấy đang tiếp diễn, nó chưa hoàn thành, vì nước ta chưa hoàn thành độc lập. Khẩu
hiệu vẫn là: “Dân tộc trên hết”, “Tổ quốc trên hết. Kẻ thù chính của ta lúc này là thực
dân Pháp xâm lăng, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng”
Chỉ thị đã đề ra những nhiệm vụ cấp bách, song rất cơ bản của nhân dân ta lúc này là :
1- Củng cố chính quyền cách mạng


2- Chống thực dân Pháp xâm lược
3- Bài trừ nội phản

Mặt trận Việt Minh được củng cố và chấn chỉnh lại. Một số đoàn thể quần chúng và
đảng phái dân chủ lần lượt ra đời, như Công thương cứu quốc, sinh viên cứu quốc,
Công giáo cứu quốc, Hướng đạo cứu quốc, Viên chức cứu quốc, Cựu binh sĩ cứu
quốc….Các hội Công nhân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc ở Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam
Bộ lần lượt mở hội nghị để thống nhất hệ thống tổ chức.
Số lượng hội viên của đoàn thể cứu quốc trong Việt Minh tăng lên nhanh
chóng.
Công tác vận động tổ chức, đoàn kết các dân tộc ít người được Chủ tịch Hồ Chí
Minh đặc biệt quan tâm. Nha dân tộc thiểu số được thành lập để giúp chính phủ giải
quyết mọi vấn đề liên quan đến các dân tộc thiểu số trong toàn cõi Việt Nam.
Hội nghị các dân tộc thiểu số toàn quốc được tổ chức tháng 12 – 1945 và Hội
nghị đại biểu các dân tộc thiểu số khu vực miền Nam họp tháng 4-1946 đã góp phần
củng cố khối đại đoàn kết dân tộc trong cộng đồng quốc gia thống nhất. Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã nêu rõ: “ Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia – rai hay Ê – đê,
Xơ – đăng hay Ba-na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là
anh em ruột thịt. chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp
nhau…Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta. Vậy
nên tất cả các dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, để ủng
hộ Chính phủ ta. Chúng ta phải thương yêu nhau, phải kính trọng nhau, phải giúp đỡ
nhau để mưu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta. Sông có thể cạn núi
có thể mòn,nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt. Chúng ta quyết
góp chung lực lượng lại để giữu vững quyền tự do, độc lập của chúng ta”.
Do nhu cầu mở rộng hơn nửa cuộc vận động, tổ chức công nhân và lao động,
Tổng liên đoàn lao động Việt Nam đã được thành lập (20-7-1946). Đảng xã hội Việt
Nam ra đời (22-7-1946) nhằm tập hợp, đoàn kết mọi trí thức yêu nước và dân chủ.
Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam thành lập ngày 20-10-1946. Đặc biệt, ngày 29 -5-1946,
Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam đã tuyên bố chính thức thành lập tại Hà Nội. Đây là
một hình thức tổ chức rộng rãi của mặt trận trong thời kì mới, một sự kiện chính trị
quan trọng. Hội có mục đích đoàn kết tất cả các đảng phái yêu nước và các đồng bào
yêu nước không đảng phái, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, xu hướng chính trị,

cách mạng, giải quyết khó khăn của đất nước ta sau Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Câu 5: Cuộc đấu tranh của nhân dân ta với quân Trung Hoa Dân Quốc và bọn
phản cách mạng đã diễn ra như thế nào sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 ?


Câu 6 : Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động đối phó với
cuộc chiến tranh xâm lược trở lại của thực dân Pháp (từ sau ngày 2-9-1945 đến ngày
19-12-1946) như thế nào?
Câu 7 : Chủ tịch Hồ Chí Minh với việc giải quyết mối quan hệ Việt – Pháp
bằng con đường hòa bình từ ngày 6-3-1946 đến trước ngày 19-12-1946.
Câu 8 : Vì sao nói sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa ở vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”? Trình bày ý kiến về từng sách
lược của Việt Nam trong việc hòa hoãn với quân Trung Hoa Dân quốc và thực dân
Pháp.
Câu 9 : Trong hơn một năm sau ngày cách mạng tháng Tám thành công, Đảng
và Chính phủ Việt Nam đã giải quyết những khó khăn về chính trị, quân sự như thế
nào? Nêu ý nghĩa của việc giải quyết đó.
Câu 10 : Phân tích những biện pháp của Đảng và Chính phủ nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa nhằm đối phó với quân đội Trung Hoa Dân quốc từ tháng 9 – 1945
đến trước ngày 6-3-1946.
Câu 11: Thiện chí hòa bình của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
trong quan hệ với Pháp từ ngày 6-3-1946 đến trước ngày 19-12-1946 được thể hiện
như thế nào?
Câu 12: Phân tích những thuận lợi và khó khăn của nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa khi mới ra đời.
Câu 13: Dựa vào dữ liệu trong bảng dưới đây, hãy nhận xét những nhiệm vụ
mà Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã giải quyết từ sau ngày Cách mạng
tháng Tám năm 1945 thành công đến trước ngày 19-12-1946. Nêu ý nghĩa của Việc
giải quyết những nhiệm vụ đó.
Thời gian

Chính phủ Pháp bản Hiệp định Sơ bộ.

Ngày 22-5-1946

Chủ tịch Hồ Chí Minh kí với Mu tê – Bộ trưởng Bộ thuộc địa
Pháp bản Tạm ước.

Ngày 9-11-1946

Quốc hội thông qua Hiến Pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa.

Ngày

11-11- Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố “tự giải tán”.

1946
Ngày

23-11- Quốc hội quyết định cho lưu hành tiền Việt Nam trong cả nước

1946

thay cho đồng tiền Đông Dương.
Câu 14: Tình hình nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa sau Cách mạng tháng

Tám năm 1945 có những thuận lợi và khó khăn gì ? Khó khăn nào là lớn nhất ? Vì
sao?
Câu 15: Đảng và Chính phủ cách mạng đã thực hiện chủ trương, sách lược như
thế nào đối với Trung Hoa Dân quốc và Pháp trong thời gian : từ 2/9/1945 đến trước

THDQ ồ ạt kéo vào Hà Nội và hầu khắp các tỉnh Miền Bắc. Âm
mưu của chúng là nhằm tiêu diệt Đảng cộng sản, phá tan Mặt trận
Việt Minh, lật đổ chính quyền Cm còn non trẻ của nhân dân ta,
THDQ sử dụng những phần tử tay sai nằm trong các tổ chức phản
động : Việt Nam quốc dân đảng (Việt Quốc), Việt Nam Cách mạng
đồng minh hội (Việt Cách) với âm mưu xúc tiến thành lập một chính
phủ bù nhìn.
Tuy nhiên, sau khi chiến tranh chống Nhật kết thúc, lực lượng
của Cm TQ đang phát triển mạnh, trực tiếp đe dọa lợi ích chiến lược
của THDQ. Vì thế, sớm hay muộn họ cũng phải rút về nước để đối
phó với lực lượng Cm TQ. Mặt khác nội bộ phía THDQ đang có
mâu thuẫn tranh giành quyền lực. Đây là những khó khăn của quân
THDQ mà VN có thể lợi dụng để hào hoãn, hạn chế những hoạt
động chống phá của chúng.
Như vậy quân THDQ ko phải là kẻ thù nguy hiểm nhất của
CMVN.
-

Đế quốc Mĩ:
Lúc này, Mĩ đang hậu thuẫn cho THDQ để chiếm nước ta. Tuy

nhên sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mĩ đang tập trung đối phó ở
khu vực châu Âu và TQ nên chua có điều kiện can thiệp sâu vào
Đông Dương.
-

Thực dân Anh:
Hơn 1 vạn quân Anh vào miền Nam, dưới danh nghĩa là quân

Đồng minh vào giải giáp quân Nhật, nhưng thực chất là để dọn

công SG, mở đầu cho cuộc xâm lược trở lại nước ta. Lợi dụng tình
hình trên, các lực lượng phản cách mạng miền Nam như Đại Việt,
Tờrốtkít, bọn phản động trong các giáo phái ngóc đầu dậy làm tay
sai cho Pháp.
Như vậy, với ý chí thực dân, cả trong tư duy và hành động, thực
dân Pháp đã bộc lộ rõ dã tâm xâm lược VN. Phân tích về âm mưu
của các đế quốc đối với Đông Dương, Trung ương Đảng nêu rõ “kẻ
thù chính của ta lúc này là thực dân Pháp xâm lược,phải tập trung
ngọn lửa đấu tranh vào chúng”.


Câu 3 (3 điểm) : Sự câu kết giữa thực dân Pháp với quân Anh và quân Trung
Hoa Dân Quốc trong việc xâm lược Việt Nam sau Chiến tranh thế giới thứ hai diễn ra
như thế nào?
Câu

Đáp án
- Sau CMT8, ở VN đã có mặt các nước đế quốc Pháp, Anh, Trung
Hoa Dân quốc cùng các đảng phái phản động của chúng. Tuy mỗi
đế quốc có âm mưu riêng, song đều thống nhất trong mục đích là
muốn lật đổ chính quyền Cách mạng VN, ngăn chặn chủ nghĩa
cộng sản lan xuống khu vực Đông Nam Á.
-

Sự câu kết giữa Anh và Pháp:

+ Ngày 6-9-1945, quân Anh với danh nghĩa Đồng Minh vào giải
giáp quân đội Nhật đến Sài Gòn, kéo theo sau là một đại đội quân
Pháp. Vừa đến SG, quân Anh yêu cầu ta giải tán lực lượng vũ
trang, thả hết tù binh Pháp do Nhật giam giữ sau ngày 9-3-1945,

- Sau CMT8, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta.
Ngày 2-9-1945, trong khi nhân dân SG – Chợ Lớn mít tinh
chào mừng “Ngày độc lập”, thực dân Pháp đã cho quân bắn
vào đoàn dự mít tinh làm 47 người chết và nhiều người khác bị
thương. Ngày 23-9-1945, được sự giúp đỡ của quân Anh, thực
dân Pháp nổ súng đánh úp trụ sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ và
cơ quan tự về SG, mở đầu cuộc xâm lược nước ta lần thứ hai.
Như vậy, âm mưu và hành động của thực dân Pháp đã chứng tỏ
dã tâm dùng vũ lực để quay lại xâm lược nước ta của chúng.
- Nhận thức được ý đồ xâm lược của thực dân Pháp, ngay trong
bản Tuyên ngôn độc lập (2-9-2945), chủ tịch Hồ Chí Minh đã
vạch rõ : “Nước VN có quyền được hưởng tự do và độc
lập…..độc lập ấy”
- Ngay khi thực dân Pháp xâm lược trở lại nước ta lần thứ hai
(23-9-1945), xứ ủy Nam Kì đã tổ chức cho nhân dân SG – Chợ
Lớn cũng như nhân dân Nam Bộ đứng lên chống quân xâm
lược. lực lượng vũ trang của ta đột nhập sân bay Tân Sơn Nhất,
phá kho tàng, triệt phá nguồn tiếp tế, dựng chướng ngại vật
trên đường phố…. Bao vây và tấn công quân Pháp trong thành
phố.
- Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng nhân dân cả
nước hướng về Nam Bộ - “Thành Đồng Tổ quốc”, đồng thời,
tích cực chuẩn bị đối phó với âm mưu của Pháp muốn mở rộng
chiến tranh ra cả nước. Các đoàn quân “Nam tiến” sát cánh
cùng nhân dân Nam Bộ và Nam Trung Bộ kháng chiến.
- Cuộc chiến đấu của quân dân Nam Bộ đã ngăn chặn được

Điểm



+ Việc kí Hiệp định Sơ bộ, tạm thời hòa hoãn với Pháp là chủ
trương đúng đắn và kịp thời của chính Phủ Cm.


+ Ta tránh được cuộc chiến đấu bất lợi vì phải chống lại nhiều
kẻ thù cùng một lúc, nhanh chóng gạt 20 vạn quân THDQ và
tay sai ra khỏi nước ta, có thêm thời gian hòa bình để củng cố
chính quyền Cm, chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến lâu
dài chống thực dân Pháp.
+ Với Hiệp định Sơ bộ (6-3-1946), dã tỏ rõ thiện chí hòa bình
của nhân dân ta để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân
Pháp và nhân dân tiến bộ trên thế giới.
- Sau Hiệp định Sơ bộ ta tiếp tục đấu tranh ngoại giao với Pháp
để đi đến kí kết một hiệp chính thức, cuộc đàm phán chính
thức giữa hai chính phủ VN và Pháp đã được tổ chức ở
Phôngtennơblô (7-1946). Cuộc đàm phán thất bại vì phía Pháp
ko chịu công nhận độc lập và thống nhất cảu nước ta. Trong
lúc đó, tại Đông Dương, quân Pháp tăng cường hoạt động
khiêu khích. Quan hệ Việt – Pháp căng thẳng, có nguy cơ nổ ra
chiến tranh.
- Với tư cách thượng khách sang thăm nước Pháp theo lời mời
của Chính phủ Pháp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động kí với
Mute (đại diện chính phủ Pháp) bản tạm ước 14-9-1946, ta tiếp
tục nhân nhượng cho Pháp một số quyền lợi về kinh tế - văn
hóa ở VN. Việc kí tạm ước 14-9-1946 nhằm mục đích kéo dài
thời gian hòa hoãn, tích cực chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng
chiến. Qua đó, còn thể hiện thiện chí hòa bình của Chính phủ
và nhân dân VN trong việc giải quyết cuộc xung đột Việt –
Pháp.
c, Chủ động kháng chiến toàn quốc (19-12-1946)


Đáp án
- Nước VNDCCH vừa ra đời mong muốn được các nước công
nhận quyền tự do, độc lập, nhưng Pháp âm mưu thôn tính và chia
cắt nước ta một lần nửa…(hs lấy dẫn chứng)
- Ngày 28-2-1946, thực dân Pháp và THDQ kí Hiệp ước Hoa –
Pháp để cho quân Pháp ra miền Bắc làm nhiệm vụ giải giáp quân
đội Nhật. Hiệp ước Hoa – Pháp đặt VN trước một cuộc chiến
tranh trên quy mô cả nước.
- Chủ tịch HCM và Ban Chấp hành Trung ương Đảng khai thác
mọi khả năng, chủ động đàm phán với Pháp để đẩy lùi nguy cơ

Điểm


chiến tranh, tiếp tục phát triển thực lực cách mạng mọi mặt để
đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược và làm cơ sở cho cuộc
đấu tranh ngoại giao.
- Ngày 3-3-1946, Hội nghị Ban thường vụ Trung ương Đảng do
Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì họp, đưa ra quyết định chọn giải
pháp “hòa để tiến”. Ngày 6-3-1946, tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí
Minh thay mặt Chính phủ ta kí với đại diện chính phủ Pháp bản
Hiệp định Sơ bộ: …(hs cần ghi rõ nội dung bản Hiệp định)
- Việc kí Hiệp định Sơ bộ, tạm thời hòa hoãn với Pháp là chủ
trương đúng đắn và kịp thời của Chính phủ Cm. Ta đã ngăn chặn
được âm mưu bắt tay của thực dân Pháp với THDQ, nhanh
chóng gạt 20 vạn quân THDQ và tay sai về nước, tránh được
một cuộc đụng độ nổ ra quá sớm và bất lợi cho ta, tạo thời gian
hòa hoãn để chuẩn bị lực lượng cho cuộc chiến đấu về sau.
- Sau Hiệp sơ bộ, ta tiếp tục đấu tranh ngoại giao với Pháp để đi

Nhận thức được vai trò của chuyên đề trong việc giảng dạy bồi dưỡng HSGQG,
vì vậy, trong đề tài “Lịch sử Việt Nam thời kì 1945-1946”, chúng tôi tập trung làm rõ
các vấn đề quan trọng như: Việc lựa chọn nội dung cơ bản; một số chủ đề chuyên sâu
ôn tập cho HSG khi giảng dạy chuyên đề Lịch sử Việt Nam thời kì 1945- 1946. Đề
xuất phương pháp kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển năng lực HS (theo tinh thần
của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản và toàn diện giáo
dục và phù hợp với bối cảnh chuẩn bị quá trình đổi mới chương trình, sách giáo khoa
phổ thông, đề án đổi mới kiểm tra, đánh giá sau năm 2015 của Bộ GD – ĐT)
Chuyên đề có tham khảo các nguồn tư liệu liên quan như SGK lịch sử – Nâng
cao, lớp 12; Lịch sử Việt Nam toàn tập – NXB giáo dục (GS. Trương Hữu Quýnh –
chủ biên), Tài liệu tập huấn: dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo định
hướng phát triển năng lực học sinh (vụ giáo dục Trung học – năm 2014)….nhằm hỗ
trợ thêm cho các đồng nghiệp THPT chuyên khi ôn tập chuyên đề Lịch sử Việt Nam
thời kì 1945 -1946 và cùng trao đổi, thảo luận về nhận thức mới kĩ thuật biên soạn câu
hỏi/ bài tập theo định hướng năng lực…Từ đó, đi đến thống nhất chung về nội dung cơ
bản, các chủ đề chuyên sâu và đặc biệt là hệ thống câu hỏi/ bài tập theo định hướng
năng lực có thể áp dụng chung cho các trường THPT chuyên trong cả nước để đem
đến hiệu quả cao hơn trong công tác bồi dưỡng HSGQG môn lịch sử.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng chắc chắn vẫn có những hạn chế và thiếu
sót. Rất mong nhận được sự góp ý của các bạn đồng nghiệp để chúng tôi hoàn thiện đề
tài.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status