LUẬN văn THẠC sĩ GIẢI PHÁP hạn CHẾ rủi RO tín DỤNG tại NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP và PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM CHI NHÁNH PHÚ mỹ HƯNG - Pdf 35

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỬU
LONG

TRƯƠNG QUỐC VŨ

GIẢI PHÁP HẠN CHÉ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI
NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN VIỆT NAM - CHI NHÁNH
PHÚ MỸ HƯNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ
QUẢN TRỊ KINH DOANH
TRƯƠNG QUỐC VŨ

Vĩnh Long, năm
2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỬU
LONG

GIẢI PHÁP HẠN CHÉ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI
NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN VIỆT NAM - CHI NHÁNH
PHÚ MỸ HƯNG

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ: 60340102


Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Phú Mỹ Hưng”, Tôi đã nhận
được rất nhiều sự giúp đỡ, tạo điều kiện của Ban giám hiệu, Khoa sau đại học, giảng viên,
cán bộ các phòng, ban chức năng Trường Đại Học Cửu Long. Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn
chân thành về sự giúp đỡ đó.
Cám ơn PGS.TS Trương Đông Lộc đã tận tâm hướng dẫn tôi trong suốt quá trình
thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cám ơn bạn bè, đồng nghiệp của Tôi đang công tác tại Agribank
Phú Mỹ Hưng và gia đình đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện và giúp đỡ Tôi trong suốt
quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này.
Vĩnh Long, tháng 02 năm 2016
Người thực hiện

Trương Quốc Vũ


MỤC LỤC

AGRIBANK PHÚ MỸ HƯNG
2.1
2.2
2.1
Tên bảng
2.3
Bảng 2.1: Tình hình hoạt động của Agribank Phú Mỹ Hưng (2012 2014)
2.5
Bảng 2.2: Tổng hợp tình hình huy động vốn.
2.7
Bảng 2.3: Tổng hợp tình hình dư nợ.
2.9
Bảng 2.4: Cơ cấu dư nợ theo thành phần kinh tế.

Tran
2.4
2.6 29
2.8 30
2.1032
2.1233
2.1433
2.1634
2.1835
2.2046
2.2247
2.2462
2.2663
2.2863
64


2.5
2.6
2.7


7

2.8

2.41 ACB
2.42 AMC
2.43 CBT
D

Kho bạc nhà nước Kế hoạch kinh doanh Kiểm
tra kiểm soát nội bộ Ngân hàng Ngân hàng nhà
nước
2.72Ngân hàng Nông nghiệp và Phát Triển
Nông thôn.
2.73Ngân hàng Thương mại
2.74Ngân hàng thương mại cổ phần
2.75Ngân hàng thương mại nhà nước
2.76Quỹ dự phòng rủi ro
2.77Quản trị rủi ro tín dụng
2.78Rủi ro tín dụng
2.79Tổ chức kinh tế
2.80Tổ chức tín dụng
2.81Thương mại cổ phần
2.82Xử lý rủi ro

1. ĐẶT VẤN ĐỀ:
2.9
Hoạt động ngân hàng ngày nay được coi là xương sống của nền kinh tế, sự phát
triển của nó phản ánh đúng thực trạng kinh tế của mỗi quốc gia. Trong những năm gần đây
ngành ngân hàng đã đạt được những kết quả hết sức khả quan và khẳng định là một trung gian
tài chính quan trọng không thể thiếu được của nền kinh tế thị trường. Ngân hàng là tổ chức thu
hút tiết kiệm lớn nhất, đóng vai trò thủ quỹ của toàn xã hội. Với đội ngũ cán bộ giàu kinh
nghiệm, trang thiết bị hiện đại ngân hàng còn là nhà tư vấn, lập kế hoạch tài chính giúp doanh
nghiệp.
2.10
Hoạt động của các ngân hàng thương mại (NHTM) luôn phải đối mặt với nhiều
loại rủi ro trong suốt quá trình hoạt động, ở tất cả các sản phẩm, các lĩnh vực. Kinh nghiệm cho
thấy khó có thể tránh được hết rủi ro mà quan trọng hơn là việc chấp nhận và có biện pháp
phòng ngừa chúng để đạt được kết quả hoạt động tốt dựa trên cơ sở quản lý rủi ro hiệu quả.

+ Mục tiêu tổng quát:

2.14
Mục tiêu chung của đề tài này là phân tích thực trạng rủi ro tín dụng của Agribank
Phú Mỹ Hưng, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng của Ngân
hàng.
2.15

+ Mục tiêu cụ thể:

-

Đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng tại Agribank Phú Mỹ Hưng.

-

Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại Agribank Phú Mỹ Hưng.

-

Đề xuất một số iải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Agribank Phú Mỹ Hưng.

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
-

Đối tượng nghiên cứu:
2.16
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là rủi ro tín dụng cho vay các khách hàng của
Agribank Phú Mỹ Hưng.
-


CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN:
1.1.1 Tín dụng ngân hàng:
1.1.1.1

Khái niệm tín dụng ngân hàng

2.25
Tín dụng là một phạm trù kinh tế tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế
xã hội. Ngày nay tín dụng được hiểu là quan hệ kinh tế được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hay
hiện vật, trong đó người đi vay phải trả cho người cho vay cả vốn gốc và lãi sau một thời gian
nhất định.
2.26
Tín dụng ngân hàng: là một giao dịch vay mượn tài sản giữa ngân hàng (bên cho
vay) và khách hàng (bên đi vay), trong đó bên đi vay được sử dụng tài sản của bên cho vay
trong một khoảng thời gian được thỏa thuận trước và phải hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi
cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Nói một cách khác, tín dụng ngân hàng là quan hệ
chuyển nhượng quyền sở hữu vốn giữa ngân hàng và khách hàng trong một thời gian nhất định
với một khoản chi phí nhất định.
2.27 Theo luật các TCTD do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa
XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng
01 năm 2011 , thì “cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền
hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho
vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh NH và các nghiệp vụ cấp tín dụng
khác”
2.28

2.34
+ Giai đoạn kiểm tra sử dụng vốn:
2.35
Ngân hàng xây dựng kế hoạch kiểm tra việc sử dụng vốn vay của khách hàng bao
gồm các nội dung: khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích không? Tình trạng tài sản bảo
đảm như thế nào? Khách hàng có thực hiện các cam kết trong hợp đồng tín dụng không?
2.36

+ Giai đoạn thu hồi nợ:

2.37
Giai đoạn này được tiến hành song song với quá trình kiểm tra sử dụng vốn vay
của khách hàng. Ngân hàng phải kiểm soát chặt chẽ nguồn thu của khách hàng để thu hồi nợ
cũng như theo dõi chặt chẽ việc trả nợ của khách hàng để kịp thời phát hiện và xử lý các khoản
nợ có dấu hiệu không trả đúng hạn hoặc không thu hồi được.
1.1.1.2 Bản chất của tín dụng
2.38
trưng sau :

Bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả và có các đặc

- Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình thức là cho vay
(bằng tiền) và cho thuê (bất động sản và động sản);
- Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy người cho vay khi chuyển giao tài sản cho người
đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn;
- Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách khác người đi
vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc;
- Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở bên đi vay cam kết hoàn
trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
1.1.1.3 Vai trò của tín dụng

- Nguyên tắc: Vốn vay phải hoàn trả đúng hạn cả vốn lẫn lãi; Vốn vay phải sử dụng đúng
mục đích và có hiệu quả; Vốn vay phải đảm bảo giá trị vật tư hàng hóa tương đương.
1.1.1.5

Hoạt động tín dụng

2.40
Hoạt động tín dụng của ngân hàng được hiểu là các nghiệp vụ: cho vay, chiết
khấu, cho thuê tài chính hoặc các nghiệp vụ tài trợ vốn khác của ngân hàng cho khách hàng theo
nguyên tắc thỏa thuận và có hoàn trả.
2.41

Theo Luật các Tổ chức tín dụng thì:

- Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, vốn huy động để
cấp tín dụng;
- Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận cho khách hàng sử dụng một khoản tiền
với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính,
bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác;
- Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử
dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với
nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi.
1.1.1.6

Phân loại tín dụng ngân hàng

2.42
Việc phân loại tín dụng dựa trên một số tiêu thức nhất định tùy theo yêu cầu của
khách hàng và mục tiêu quản lý của ngân hàng. Sau đây là một số cách phân loại chủ yếu:
2.43

2.47
+ Thấu chi: là việc ngân hàng cho phép người vay được chi vượt số dư tiền gửi
thanh toán của mình đến một giới hạn và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được
gọi là hạn mức thấu chi.
2.48
+ Cho vay từng lần: là hình thức cho vay của ngân hàng đối với các khách hàng ít
có nhu cầu vay thường xuyên.
2.49
+ Cho vay theo hạn mức: là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng thỏa thuận cấp
cho khách hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất
kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng.
2.50
+ Cho vay luân chuyển: là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hóa.
Ngân hàng cho doanh nghiệp vay để mua hàng và sẽ thu nợ khi bán hàng.
2.51
+ Cho vay trả góp: là hình thức tín dụng mà khách hàng trả gốc làm nhiều lần
trong thời hạn tín dụng đã thỏa thuận.
- Bảo lãnh: là việc ngân hàng cam kết dưới hình thức bằng văn bản với Bên có quyền (Bên
nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (Bên được bảo
lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết
với Bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng số tiền đã
được trả thay. Phân theo mục tiêu có các loại bảo lãnh như sau:
2.52
+ Bảo lãnh dự thầu: là cam kết của ngân hàng với chủ đầu tư (hay chủ thầu) về
việc trả tiền phạt thay cho bên dự thầu nếu bên dự thầu vi phạm các quy định dự thầu.
2.53
+ Bảo lãnh thực hiện hợp đồng: là cam kết của ngân hàng về việc chi trả tổn thất
thay khách hàng nếu khách hàng không thực hiện đầy đủ hợp đồng như cam kết gây tổn thất cho
bên thứ ba.
2.54

- Tín dụng không có tài sản bảo đảm: là loại tín dụng được cấp dựa trên uy tín và khả năng
tài chính lành mạnh của khách hàng hoặc được bảo lãnh bằng uy tín của bên thứ ba.
* Phân loại khác :
-

Theo mục đích sử dụng vốn có tín dụng sản xuất, tín dụng tiêu dùng...

- Theo đối tượng tín dụng sử dụng vốn phục vụ cho sản xuất kinh doanh có tín dụng vốn
lưu động và tín dụng vốn cố định.
- Theo đối tượng cho vay tiêu dùng: tín dụng nhà đất (cho vay mua nhà, đất, xây dựng/sửa
chữa nhà), cho vay mua ô tô, cho vay du học...
2.57
Cách phân loại này cho thấy tính đa dạng trong sản phẩm tín dụng của ngân hàng
và cho phép ngân hàng theo dõi được danh mục cho vay, rủi ro và sinh lợi gắn liền với những
lĩnh vực tài trợ để có chính sách lãi suất, bảo đảm, hạn mức, chính sách quản lý phù hợp.
1.1.2 Rủi ro tín dụng
2.58
Rủi ro trong ngân hàng có xu hướng tập trung chủ yếu vào hoạt động tín dụng.
Đây là rủi ro lớn nhất và thường xuyên xảy ra, có thể khiến ngân hàng rơi vào trạng thái tài
chính khó khăn nghiêm trọng.
2.59
“Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là tổn thất
có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách
hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của
mình theo cam kết.”- theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21 tháng 01 năm 2013 của Thống
đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam.
2.60
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân
hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn
cho ngân hàng.

phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường.
2.65

* Rủi ro từ môi trường kinh doanh

2.66
- Chu kỳ kinh tế: sự tăng trưởng kinh tế có tính chu kỳ do đó hoạt động sản xuất
kinh doanh của người đi vay tốt hay xấu phụ thuộc rất lớn vào từng giai đoạn phát triển kinh tế.
Trong thời kỳ kinh tế tăng trưởng, các ngành nói chung đều kinh doanh thuận lợi hơn, tỷ lệ thu
hồi nợ vì thế tăng đồng thời dư nợ đối với nền kinh tế tăng làm giảm tỷ lệ các khoản nợ xấu.
Nhưng trong thời kỳ suy thoái, các ngành kinh doanh đặc biệt kinh doanh bất động sản...sẽ gặp
khó khăn hơn, các món vay, đặc biệt là trung, dài hạn được quyết định dễ dãi trong thời kỳ tăng
trưởng sẽ trở thành nợ khó đòi vài năm sau đó. Các ngân hàng cần lưu ý yếu tố này trước khi
quyết định cho vay.
- Nền kinh tế VN vẫn còn lệ thuộc quá nhiều vào sản xuất nông nghiệp và công nghiệp
phục vụ nông nghiệp (nuôi trồng, chế biến thực phẩm và nguyên liệu), dầu thô, may gia
công,. vốn rất nhạy cảm với rủi ro thời tiết và giá cả thế giới, nên dễ bị tổn thương khi thị
trường thế giới biến động xấu.
- Nền kinh tế thị trường thị trường tất yếu sẽ dẫn đến cạnh tranh, các nhà kinh doanh sẽ tìm
kiếm ngành nào có lợi nhất để đầu tư và sẽ rời bỏ những ngành không đem lại lợi nhuận
cho họ và do đó có sự chuyển dịch vốn từ ngành này qua ngành khác và đây cũng là một
hiện tượng khách quan. Tuy nhiên ở nước ta thời gian qua, sự cạnh tranh đã phát triển
một cách tự phát, hoàn toàn không đi kèm với sự quy hoạch hợp lý, hợp tác, phân công
lao động, chuyên môn hoá lao động, sự bất lực trong vai trò của các hiệp hội nghề nghiệp
và sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước. Điều này dẫn đến sự gia tăng quá đáng vốn đầu tư
vào một số ngành, dẫn đến khủng hoảng thừa, lãng phí tài nguyên quốc gia.


1
5

hàng. Nội dung và phương pháp thanh tra, giám sát chậm đựơc đổi mới, khả năng kiểm
soát thị trường tiền tệ và giám sát rủi ro còn yếu. Thanh tra ngân hàng chủ yếu xử lý vụ
việc đã phát sinh, ít có khả năng ngăn chặn, cảnh báo phòng ngừa rủi ro và vi phạm.
Những sai phạm về cho vay, cấp tín dụng ở một số NHTM có thể đã được ngăn chặn
ngay từ đầu nếu bộ máy thanh tra phát hiện và xử lý kịp thời.
* Rủi ro do hệ thống thông tin
2.68
Những thách thức cho hệ thống ngân hàng là việc thiếu thông tin tương xứng để
làm cơ sở trong việc mở rộng và kiểm soát tín dụng cho nền kinh tế, do đó nếu các ngân hàng cố
gắng chạy theo thành tích, mở rộng tín dụng trong điều kiện môi trường thông tin không cân
xứng thì sẽ gia tăng nguy cơ nợ xấu cho hệ thống ngân hàng.
2.69
Việt Nam chưa có một cơ chế công bố thông tin đầy đủ, đáng tin cậy về doanh
nghiệp và ngân hàng. Trung tâm thông tin tín dụng ngân hàng (CIC) của NHNN cũng chỉ cung
cấp thông tin về tình hình hoạt động tín dụng nhưng chưa phải là cơ quan định mức tín nhiệm
doanh nghiệp một cách độc lập và hiệu quả, thông tin cung cấp còn đơn điệu, chưa đáp ứng


được đầy đủ yêu cầu tra cứu thông tin.

1
6

1.1.3.2 Rủi ro tín dụng do nguyên nhân chủ quan
* Rủi ro do các nguyên nhân từ phía khách hàng vay
- Do sự thay đổi của chính sách, pháp luật, cơ chế của nhà nước ảnh hưởng bất lợi đến hoạt
động kinh doanh của doanh nghiêp.
- Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay:
2.70
Đa số các doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án kinh doanh

Việt Nam hiện nay còn rất hạn chế và hầu hết là phi chính thức.
2.75
* Rủi ro do các nguyên nhân từ phía ngân hàng
- Các ngân hàng không có được một chính sách quản trị tín dụng hợp lý:
2.76
Hoạt động tín dụng mang lại nguồn thu chủ yếu cho các ngân hàng, do vậy một
chính sách tín dụng phù hợp với đặc điểm nguồn vốn, nguồn nhân lực, mạng lưới, khả năng


1
7

quản trị rủi ro,.... Sẽ giúp hoạt động tín dụng đạt hiệu quả cao hơn. Một chính sách tín dụng tốt
phải là một ứng dụng thông minh của những nguyên tắc tín dụng thích hợp với những thay đổi
của các nhân tố và môi trường kinh tế. Các ngân hàng cần phải làm tốt công tác dự báo và định
hướng cho các đơn vị trực thuộc của mình trong từng giai đoạn phát triển kinh tế. Nếu không
thực hiện tốt thì những khuyến cáo về ngành hàng nào không nên hoặc hạn chế cho vay thường
chỉ được đưa ra khi RRTD đã phát sinh ở một số chi nhánh khác hay tín dụng đã tăng trưởng
đến mức nóng.
2.77
Chính sách tín dụng của Hội sở chính là rất cần thiết nhưng chưa đủ, bản thân mỗi
đơn vị thành viên cũng phải đề ra được một chính sách tín dụng phù hợp với địa bàn hoạt động
và khai thác tốt nhất năng lực lõi của mình.
2.78
Tầm nhìn không tốt của các ngân hàng cũng là nguyên nhân của tình trạng cạnh
tranh thu hút khách hàng bằng cách giảm tiêu chuẩn xét duyệt cho vay dẫn đến rủi ro tín dụng.
- Quy trình cấp tín dụng và mô hình quản trị rủi ro chưa phù hợp:
2.79
Quy trình tín dụng là bảng tổng hợp mô tả các bước cụ thể từ khi tiếp nhận nhu
cầu vay vốn của khách hàng cho đến khi ngân hàng quyết định cho vay, giải ngân, thu nợ và

1
8

cơ hội kinh doanh mới và mở rộng cơ hội kinh doanh. Tuy nhiên trong thời gian qua các NHTM
chưa thực hiện tốt công tác này. Công tác giám sát món vay, đánh giá lại định kỳ về khách hàng,
khoản vay và tài sản thế chấp bị buông lỏng, đặc biệt đối với những khách hàng có quan hệ tín
dụng lâu dài, cán bộ tín dụng thường có tâm lý cả nể, tin khách hàng và bỏ qua chế độ kiểm tra
định kỳ, phương pháp kiểm tra không khoa học, không phát hiện được những dấu hiệu bất
thường trong hoạt động của khách hàng.
- Sự hợp tác giữa các NHTM quá lỏng lẻo, vai trò của CIC chưa thực sự hiệu quả:
2.84
Trong quản trị tài chính, khả năng trả nợ của một khách hàng là một con số cụ thể,
có giới hạn tối đa của nó. Nếu do sự thiếu trao đổi thông tin, dẫn đến việc nhiều ngân hàng cùng
cho vay một khách hàng đến mức vượt quá giới hạn tối đa này thì rủi ro chia đều cho tất cả chứ
không chừa một ngân hàng nào.
2.85
Trong tình hình cạnh tranh giữa các NHTM ngày càng gay gắt như hiện nay, vai
trò của CIC là rất quan trọng trong việc cung cấp thông tin kịp thời, chính xác để các ngân hàng
có các quyết định cho vay hợp lý.
- Định giá khoản vay không theo mức độ rủi ro của khách hàng:
2.86
Việc định giá khoản vay không đúng mức độ rủi ro của khách hàng, làm thiếu hụt
nguồn bù đắp rủi ro của ngân hàng và làm tăng mức độ RRTD từ cả hai phía ngân hàng và
khách hàng. Chính sách lãi suất không khoa học đã để ngân hàng ở hai thái cực: (1) cho vay dễ
dãi với lãi suất thấp, không đủ nguồn bù đắp rủi ro mà phải từ 7 đến 10 năm sau mới bộc lộ, (2)
đến khi hết nguồn thì yêu cầu lãi suất cho vay cao cộng với điều kiện khắt khe dẫn đến mất dự
án có độ an toàn và chấp nhận khách hàng có độ rủi ro cao.
- Tâm lý ỷ lại tài sản thế chấp:
2.87
Liên quan đến tài sản đảm bảo nợ vay, rủi ro thường xảy ra ở các tình huống: (i)

Giám sát từng khoản cấp tín dụng nhằm phát hiện các “dấu hiệu cảnh báo sớm” để
có biện pháp khắc phục kịp thời là thực hiện kiểm tra giám sát khách hàng. Trong thực tế, có
nhiều biểu hiện của khoản cấp tín dụng sẽ gặp khó khăn như sau:
-

Thu nhập của khách hàng vay không ổn định, công việc thay đổi thường xuyên

- Khách hàng chậm chễ trong việc nộp các báo cáo tài chính cho ngân hàng như báo cáo
luân chuyển vốn, báo cáo kết quả kinh doanh, bảng cân đối kế toán...mà không có sự giải
thích minh bạch, thuyết phục.
-

Khách hàng cố tình trì hoãn hoặc gây khó khăn, trở ngại đối với cán bộ tín dụng trong
việc kiểm tra theo định kỳ (hay đột xuất) tình hình sử dụng vốn vay, tình hình tài chính
và hoạt động sản xuất kinh doanh tại trụ sở, cơ sở sản xuất của mình.

-

Khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích.

-

Khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích nhưng nhận vốn trong tình trạng chậm trễ so
với kế hoạch, có thể do khách hàng tìm kiếm được nguồn vốn khác rẻ hơn. Hoặc cũng có
thể do hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có chiều hướng phát triển không
lành mạnh.

-

Có sự gia tăng bất thường của lượng hàng tồn kho.

Các dấu hiệu trên đây là biểu hiện của những khó khăn về tài chính từ phía khách
hàng, sự xuất hiện của chúng báo hiệu khả năng khó hoàn trả vốn cho ngân hàng. Vì vậy, nhận


2
0

biết những dấu hiệu này sẽ giúp ngân hàng tìm biện pháp điều chỉnh và ngăn ngừa kịp thời trước
khả năng phát sinh rủi ro tín dụng của ngân hàng. Giám sát tổng thể danh mục tín dụng - phân
tích tổng thể danh mục tín dụng nhằm phát hiện tập trung tín dụng
2.92
Những vấn đề liên quan tới tín dụng có thể nảy sinh do việc tập trung trong danh
mục tín dụng. Tập trung tín dụng có thể có nhiều hình thức và có thể phát sinh khi có một số lớn
các khoản tín dụng đều có chung những đặc điểm rủi ro tương tự nhau. Tập trung tín dụng xảy
ra khi danh mục tín dụng tập trung vào:
- Một đơn vị hoặc một nhóm các đơn vị liên kết nhau;
- Một ngành kinh tế nhất định;
- Khu vực địa lí;
- Dạng hợp đồng tín dụng;
- Dạng tài sản bảo đảm;
- Các khoản cho vay cùng một thời gian đến hạn hoặc cùng một loại ngoại tệ.
1.1.5 Những thiệt hại do rủi ro tín dụng ngân hàng gây ra
1.1.5.1 Thiệt hại đối với ngân hàng
- Ứ đọng vốn: đến hạn thanh toán, khách hàng không thực hiện được cam kết thanh toán
của mình, vì vậy ngân hàng sẽ thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ của khách hàng hoặc
phải chuyển nợ quá hạn. Ngân hàng sẽ bị ứ đọng vốn. Các khoản nợ quá hạn hay cơ cấu
lại thời hạn trả nợ làm cho NHTM rơi vào tình trạng đến hạn phải trả cho người gửi tiền
nhưng vẫn chưa thu được nợ từ người vay. Việc bị mất khả năng thanh toán tạm thời của
NHTM sẽ làm giảm uy tín kinh doanh của ngân hàng một cách nghiêm trọng, có thể dẫn
đến hiện tượng những người gửi tiền đồng loạt đòi rút tiền, đẩy Ngân hàng đến bờ vực

2.94
Tóm lại, rủi ro tín dụng của một ngân hàng xảy ra ở mức độ khác nhau: nhẹ nhất
là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất khi ngân hàng
không thu được vốn và lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn. Nếu
tình trạng này kéo dài không khắc phục được, ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm
trọng cho nến kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng. Chính vì vậy đòi hỏi các nhà
quản trị ngân hàng phải hết sức thận trọng và có những biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu rủi
ro trong cho vay.
1.1.6

Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng của ngân hàng

2.95
Theo quyết định Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21 tháng 01 năm 2013 của
Thống đốc Ngân hàng nhà nước Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích
lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín
dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì các khoản cho vay của các NHTM sẽ được chia thành
05 nhóm như sau:
* Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
- Nợ trong hạn và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng
2.96 hạn;
- Nợ quá hạn dưới 10 ngày và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi bị
quá hạn và thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn;
-

Nợ được phân loại vào nhóm 1 theo quy định tại khoản 2 Điều này.

* Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:
-


2

chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cấp tín dụng theo quy định của
pháp luật;
2.98
+ Nợ được bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng hoặc công ty con
của tổ chức tín dụng hoặc tiền vay được sử dụng để góp vốn vào một tổ chức tín dụng khác trên
cơ sở tổ chức tín dụng cho vay nhận tài sản bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng
nhận vốn góp;
2.99
+ Nợ không có bảo đảm hoặc được cấp với điều kiện ưu đãi hoặc giá trị vượt quá
5% vốn tự có của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi cấp cho khách hàng
thuộc đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng theo quy định của pháp luật;
2.100
+ Nợ cấp cho các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng hoặc doanh
nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát có giá trị vượt các tỷ lệ giới hạn theo quy định
của pháp luật;
2.101
+ Nợ có giá trị vượt quá các giới hạn cấp tín dụng, trừ trường hợp được phép vượt
giới hạn, theo quy định của pháp luật;
2.102
+ Nợ vi phạm các quy định của pháp luật về cấp tín dụng, quản lý ngoại hối và các
tỷ lệ bảo đảm an toàn đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài;
2.103
+ Nợ vi phạm các quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý tiền vay, chính sách dự
phòng rủi ro của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
-

Nợ đang thu hồi theo kết luận thanh tra;


quyết định thu hồi;

2
3

- Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi trên 60 ngày mà
vẫn chưa thu hồi được;
- Nợ của khách hàng là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước công bố đặt vào tình
trạng kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bị phong tỏa vốn và tài sản;
2.107 Như vậy, chất lượng các khoản vay sẽ được chia thành năm (05) mức theo cách
phân nhóm nợ với nhóm 1 là những khoản vay tốt nhất và nhóm 5 là những khoản vay xấu nhất.
Rủi ro tín dụng sẽ tỷ lệ nghịch với chất lượng khoản vay với nhóm 1 là những khoản vay có rủi
ro thấp nhất và nhóm 5 là những khoản vay có rủi ro cao nhất.
2.108

1.2. LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

2.109 Đã có rất nhiều nghiên cứu về rủi ro trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng
thương mại, chúng tôi xin trình bày một số nghiên cứu, tài liệu có liên quan làm cơ sở cho đề tài
nghiên cứu.
- Trương Đông Lộc, Nguyễn Thị Tuyết (2011) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến rủi
ro tín dụng của NHTMCP Ngoại thương Chi nhánh TP Cần Thơ. Áp dụng mô hình
Probit, kết quả phân tích đã xác định các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của ngân
hàng bao gồm : Khả năng tài chính của khách hàng đi vay, việc sử dụng vốn vay, kinh
nghiệm của cán bộ tín dụng, số lần kiểm tra giám sát khoản vay của cán bộ tín dụng và
việc đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của khách hàng vay. Kết quả của nghiên cứu này
cung cấp những bằng chứng thực tế rất có giá trị nhằm giúp các NHTM nói chung và
Vietcombank nói riêng hiểu rõ hơn các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng.
- Trương Đông Lộc (2010) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của các
NHTM nhà nước ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Số liệu thu thập từ

TMCP Ngoại thương Việt Nam Chi nhánh Nam Sài Gòn.
- Trần Đức Tuấn (2001) dựa vào số liệu thứ cấp, ý kiến cán bộ ngân hàng và những thông
tin từ báo chí, từ đó phân tích đề tài đã nêu ra một số nguyên nhân gây ra RRTD của các
NHTM quốc doanh tại Cần Thơ là: Ngân hàng chủ quan trong cho vay, cán bộ tín dụng
thiếu thông tin và năng lực phân tích thông tin, do hoạt động sản xuất kinh doanh của
khách hàng gặp thiên tai...Đề tài cũng đã đề ra một số biện pháp nhằm kiểm soát RRTD
của các NHTM quốc doanh tại cần Thơ.
- Trần Quang Phương (2000) đã nêu ra một số nguyên nhân gây ra RRTD đối với các
NHTM tỉnh Cần Thơ là: Công tác quản lý của ngân hàng yếu, ngân hàng thiếu thông tin
về khách hàng, ngân hàng thực hiện không nghiêm quy chế tín dụng...Trên cơ sở phân
tích, đánh giá đề tài cũng đề ra một số giải pháp nhằm hạn chế RRTD.
- Ali và Daly (2010) điều tra sự tương tác giữa các tác động theo chu kỳ mặc định tổng hợp
trong một nền kinh tế và vốn cổ phần (tổng lượng vốn) của một ngân hàng. Nghiên cứu
làm một phân tích so sánh của hai quốc gia, có nền kinh tế tương đối miễn dịch từ cuộc
khủng hoảng gần đây - Úc và Mỹ trong một khoảng thời gian. Nghiên cứu những biến
kinh tế vĩ mô nào là quan trọng đối với cả hai quốc gia và xem xét tác động của những cú
sốc bất lợi với nền kinh tế vĩ mô đến lãi suất mặc định ở cả hai nước. Sử dụng dữ liệu
chuỗi thời gian hàng quý trong 14 năm (1995Q1 đến 2009Q2) với các biến kinh tế vĩ mô:
lãi suất mặc định, GDP, lãi suất trái phiếu (lãi trái phiếu kho bạc kỳ hạn 6 tháng), chỉ số
sản xuất công nghiệp và tỷ lệ nợ so với GDP. Kết quả cho thấy, cùng một tập hợp của các
biến số kinh tế vĩ mô nhưng hiển thị lãi suất mặc định khác nhau ở hai nước. Đặc biệt,
GDP, lãi suất ngắn hạn và tổng nợ giải thích cho rủi ro vỡ nợ của hai nền kinh tế. Ngoài
ra, nghiên cứu cho thấy so với Úc, nền kinh tế Mỹ nhạy cảm hơn với những cú sốc kinh
tế vĩ mô bất lợi. Nói rộng hơn, bài nghiên cứu đưa ra vấn đề cuộc khủng hoảng tài chính
gần đây đặt ra nhiều thách thức đối với kinh tế vĩ mô và chính sách. Trong số những
thách thức đó là sự hội nhập của tín dụng và chu kỳ tài chính vào các mô hình kinh tế vĩ
mô chính thống, nâng tầm hiểu biết của chúng ta về liên kết tài chính vĩ mô và công cụ
phát triển cho quy định bảo đảm an toàn.
2.111 - Phạm Phú Nhân (2011) nghiên cứu với mục tiêu là tìm ra các nhóm nguyên nhân
chính dẫn đến RRTD tại các NHTM. Hướng tiếp cận rủi ro của tác giả là từ nghiên cứu khách


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status