Báo cáo thực tập Giải pháp quản lý và gia tăng doanh thu tại Công ty cổ phần Dịch vụ Hàng không sân bay Nội Bài (NASCO) - Pdf 35

TRƯỜNG CĐ CÔNG ĐỒNG HÀ NỘI

Khoa Tài chính ngân hàng

LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay, thương mại đang được quan tâm như là một trong các lĩnh vực
hoạt động quan trọng của nền kinh tế hiện đại. Sự phát triển ngày càng gia
tăng với nhịp độ cao của hoạt động thương mại trong nền kinh tế đã và đang
mở ra những cơ hội hấp dẫn lôi cuốn các tổ chức và các nhà kinh doanh tham
gia vào các hoạt động kinh doanh thương mại để thử thời vận, kiếm lời và tìm
cơ hội thăng tiến trong xã hội. Các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay nói
chung và các doanh nghiệp thương mại nói riêng cũng không nằm ngoài quy
luật này.
Từ khi nền kinh tế nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước thì vấn đề cạnh tranh giữa các doanh nghiệp là tất yếu nhưng
đồng thời cũng mở ra những cơ hội cho sự phát triển của các doanh nghiệp.
Doanh nghiệp thương mại với ý nghĩa là tế bào của nền kinh tế hoạt
động nhằm cung cấp các hàng hoá, dịch vụ để thoả mãn nhu cầu sinh hoạt của
con người và nhu cầu sản xuất kinh doanh của toàn xã hội. Đối với doanh
nghiệp thương mại, tiêu thụ là giai đoạn cực kỳ quan trọng trong mỗi chu kỳ
kinh doanh vì nhờ đó hàng hoá được chuyển thành tiền, đảm bảo thu hồi vốn,
có lãi và tạo điều kiện cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Lúc này doanh
nghiệp mới thực sự thực hiện chức năng của mình là: “cầu nối giữa sản xuất
và tiêu dùng”.
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, tiêu thụ là nghiệp vụ đặc trưng và
cơ bản nhất chi phối mọi loại nghiệp vụ khác. Các chu kỳ kinh doanh có thể
diễn ra liên tục, nhịp nhàng khi doanh nghiệp thực hiện tốt khâu tiêu thụ, đó
cũng là cơ sở để tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp, mà doanh thu chính là
mục tiêu sống còn của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
Với mục tiêu này, doanh nghiệp trước hết phải giải đáp các vấn đề: lựa
chọn kinh doanh hàng hoá nào có lợi nhất? hướng tới đối tượng khách hàng

khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.


Công ty cổ phần là doanh nghiệp mà vốn điều lệ của công ty được

chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cá nhân hay tổ chức sở hữu
cổ phần của doanh nghiệp được gọi là cổ đông và chịu trách nhiệm về các
khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào
doanh nghiệp.


Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên là

chủ sở hữu của công ty, cùng kinh doanh dưới một cái tên chung (gọi là thành
viên hợp danh). Thành viên hợp danh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm
bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Ngoài ra trong
công ty hợp danh còn có các thành viên góp vốn.


Doanh nghiệp tư nhân: doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự

chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh
Dương Đình Đức

TC1-K8

3


TRƯỜNG CĐ CÔNG ĐỒNG HÀ NỘI

và lợi nhuận cho doanh nghiệp.
1.1.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh thương mại
Dương Đình Đức

TC1-K8

4


TRƯỜNG CĐ CÔNG ĐỒNG HÀ NỘI

Khoa Tài chính ngân hàng

Thương mại là lĩnh vực trao đổi hàng hoá thông qua mua bán trên thị
trường. Sản xuất hàng hoá là tiền đề cho kinh doanh thương mại. Sản xuất
hàng hoá là sản xuất ra sản phẩm để bán, để trao đổi. Khi trao đổi hàng hoá
phát triển đến trình độ xuất hiện tiền tệ làm chức năng phương tiện lưu thông
thì trao đổi hàng hoá được gọi là lưu thông hàng hoá.
Trong lĩnh vực lưu thông hàng hoá, có một loại người chuyên dùng tiền
để mua hàng hoá rồi đem bán, kinh doanh thương mại xuất hiện. Người ta gọi
những người có tiền tổ chức việc mua hàng hoá từ nơi này rồi đem bán hàng
hoá những nơi khác là nhà buôn (thương nhân).
Hoạt động kinh doanh thương mại có chức năng tổ chức việc thực hiện
mua bán trao đổi hàng hoá, cung cấp các dịch vụ nhằm phục vụ sản xuất và
tiêu dùng. Hoạt động kinh doanh thương mại là lĩnh vực hoạt động chuyên
nghiệp trong lưu thông hàng hoá, vì vậy nó có vị trí trung gian cần thiết nối
liền giữa sản xuất và tiêu dùng.
Hoạt động kinh doanh thương mại có các đặc điểm cơ bản sau:
- Đặc điểm về hoạt động: Hoạt động kinh tế cơ bản của hoạt động kinh
doanh thương mại là lưu chuyển hàng hoá. Lưu chuyển hàng hoá là sự tổng

hàng hoá được thực hiện thông qua hoạt động bán hàng của doanh nghiệp nhờ
đó hàng hoá được chuyển thành tiền, thực hiện vòng chu chuyển vốn trong
doanh nghiệp và chu chuyển tiền tệ trong xã hội, đảm bảo phục vụ cho các
nhu cầu xã hội.
Khi tiến hành hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị trường, các doanh
nghiệp trước hết phải giải đáp các vấn đề: kinh doanh hàng hoá gì? hướng tới
đối tượng khách hàng nào và kinh doanh như thế nào?.
Tiêu thụ hàng hoá hiểu theo nghĩa rộng là quá trình bao gồm nhiều hoạt
động: nghiên cứu thị trường, nghiên cứu người tiêu dùng, lựa chọn, xác lập
các kênh phân phối, các chính sách và hình thức bán hàng, tiến hành quảng
cáo các hoạt động xúc tiến và cuối cùng thực hiện công việc bán hàng tại
điểm bán.
Trong doanh nghiệp thương mại tiêu thụ hàng hóa được hiểu là hoạt
động bán hàng. Hoạt động bán hàng là sự thực hiện giá trị và chuyển giao
quyền sở hữu hàng hoá, kết thúc quá trình này người mua nhận được hàng,
người bán nhận được tiền (hoặc ít ra cũng có cơ sở đòi tiền người mua).
Khi mà doanh nghiệp tiêu thụ được sản phẩm hàng hoá, thì doanh nghiệp
sẽ có khoản thu bán hàng hay còn gọi là doanh thu về tiêu thụ sản phẩm.
1.1.3.2 Khái niệm về doanh thu bán hàng
Doanh thu bán hàng và cung ứng dịch vụ là biểu hiện bằng tiền của các
lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được trong kỳ từ tiêu
thụ các sản phẩm hàng hoá và cung ứng dịch vụ. Hay nói cách khác là toàn bộ
Dương Đình Đức

TC1-K8

6


TRƯỜNG CĐ CÔNG ĐỒNG HÀ NỘI

thuê lao động, tiền vốn… trong quá trình kinh doanh để sản xuất và tiêu thụ
hàng hoá đó. Ngoài việc phải bù đắp được chi phí bỏ ra họ mong muốn có
Dương Đình Đức

TC1-K8

7


TRƯỜNG CĐ CÔNG ĐỒNG HÀ NỘI

Khoa Tài chính ngân hàng

phần dôi ra để mở rộng sản xuất kinh doanh, trả lãi tiền vay.
Thứ hai: Doanh thu là mục tiêu, là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp
nâng cao năng suất, là một trong những đòn bẩy kinh tế quan trọng tác động
đến việc hoàn thiện các mặt hoạt động của doanh nghiệp. Đó là nguồn thu để
cải thiện điều kiện sản xuất, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người
lao động, góp phần khơi dậy tiềm năng của người lao động vì sự phát triển
vững chắc của doanh nghiệp trong tương lai. Doanh thu còn là nguồn để
doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước, thông qua đó
góp phần vào sự phát triển kinh tế quốc dân. Nền kinh tế như một cơ thể sống,
các doanh nghiệp chính là những tế bào, cơ thể - nền kinh tế - muốn phát triển
lành mạnh, vững chắc thì mỗi tế bào của nó - các doanh nghiệp - phải lớn
mạnh, phải làm ăn có lãi. Bằng việc trích lập một khoản lợi nhuận và doanh
thu vào ngân sách Nhà nước dưới hình thức thuế, các doanh nghiệp có thể
đóng góp một phần đáng kể cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân.
Thứ ba: Doanh thu là nguồn tài chính quan trọng để doanh nghiệp mở
rộng quy mô sản xuất kinh doanh, đổi mới máy móc thiết bị, công nghệ sản
xuất nhằm tiết kiệm chi phí nguyên nhiên vật liệu, tạo ra những sản phẩm chất

tiêu thụ sản phẩm. Khi lợi nhuận giảm sút, nếu loại trừ nhân tố khách quan, có
thể đánh giá rằng doanh nghiệp chưa thực hiện tốt công tác quản lý kinh doanh.
1.1.4 Vị trí, vai trò của hoạt động tiêu thụ hàng hoá và doanh thu bán hàng
trong doanh nghiệp thương mại
Trong nền kinh tế thị trường tiêu thụ có vai trò và ý nghĩa quan trọng đối
với toàn xã hội nói chung và đặc biệt là các doanh nghiệp nói riêng.
Xét về mặt xã hội: tiêu thụ hàng hoá có tác dụng nhiều mặt tới lĩnh vực
tiêu dùng. Tiêu thụ hàng hoá một cách kịp thời, đồng bộ, đúng số lượng chất
lượng, thuân lợi đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Tiêu thụ góp phần kích
thích tiêu dùng, bảo đảm cân đối giữa cung - cầu, điều hoà sự cân bằng giữa
sản xuất và tiêu dùng, giữa nhu cầu và khả năng thanh toán, góp phần ổn định
giá cả,... đồng thời là điều kiện để đảm bảo sự phát triển cân đối trong từng
nghành từng vùng, toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Tiêu thụ là khâu quan trọng nhất trong rất nhiều hoạt động khác nhau
của doanh nghiệp thương mại: tạo nguồn hàng, mua hàng, quản lý dự trữ...
Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào đều nhằm
vào mục tiêu cuối cùng là doanh thu và lợi nhuận, vì vậy nó quyết định và chi
phối các hoạt động nghiệp vụ khác của doanh nghiệp, tạo nên uy tín đối với
khách hàng, và là vũ khí cạnh tranh mạnh mẽ của doanh nghiệp với các đối
thủ cạnh tranh.
Tiêu thụ là cơ sở hình thành nên doanh thu và lợi nhuận, tạo ra thu nhập
để bù đắp chi phí bỏ ra, bảo toàn và phát triển vốn kinh doanh thông qua các
Dương Đình Đức

TC1-K8

9


TRƯỜNG CĐ CÔNG ĐỒNG HÀ NỘI

phải bám sát các yêu cầu sau:
- Nắm chắc sự vận động của các loại hàng hoá trong quá trình nhập,
xuất, tồn kho trên các chỉ tiêu số lượng, chất lượng và giá trị.
Dương Đình Đức

TC1-K8

10


TRƯỜNG CĐ CÔNG ĐỒNG HÀ NỘI

Khoa Tài chính ngân hàng

- Nắm bắt theo dõi chặt chẽ phương thức bán hàng, từng thể thức thanh
toán, từng loại hàng hoá tiêu thụ và từng loại khách hàng.
- Tính toán đúng đắn kết quả tiêu thụ hàng hoá.
1.2.2 Ý nghĩa và tầm quan trọng của việc đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tăng
doanh thu bán hàng
Trong nền kinh tế thị trường, có sự cạnh tranh khốc liệt giữa các thành
phần kinh tế các đơn vị sản xuất không chỉ có nhiệm vụ sản xuất ra các sản
phẩm mà còn phải tổ chức tiêu thụ sản phẩm đó, trong điều kiện có sự cạnh
tranh gay gắt, nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng ngày càng tăng, vấn đề
tiêu thụ sản phẩm không phải là công việc dễ dàng với bất cứ một doanh
nghiệp nào. Vì vậy, việc đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm tăng doanh thu có ý
nghĩa quan trọng, quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Mục đích đầu tiên của việc tiêu thụ sản phẩm là thu được doanh thu.
Đây là nguồn tài chính quan trọng để doanh thu bù đắp trang trải các chi phí
hoạt động sản xuất kinh doanh như: bù đắp về NVL, tiền công của người lao
động… và làm nghĩa vụ đối với Ngân sách Nhà nước. Nếu như sản phẩm của

toàn, hơn nữa việc trích lập quỹ đầu tư phát triển còn cho phép doanh nghiệp
có thể xây dựng, mua sắm tài sản cố định, tăng cường đầu tư theo chiều sâu.
Doanh thu tăng làm lợi nhuận tăng, từ đó làm tình hình tài chính của doanh
nghiệp ngày càng mạnh hơn, giúp cho doanh nghiệp thực hiện quá trình tái sx
mở rộng, tăng quy mô vốn chủ sở hữu, tăng khả năng tự chủ trong hoạt động
sxkd của mình.
Mặt khác công tác tiêu thụ diễn ra nhanh chóng, kịp thời và ngày càng
tăng còn góp phần thúc đẩy tăng tốc độ chu chuyển vốn lưu động, tiết kiệm
chi phí sản xuất kinh doanh. Với khối lượng sx và tiêu thụ tăng tạo điều kiện
cho chi phí bình quân đơn vị giảm, từ đó hạ được giá thành đơn vị sản phẩm,
tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Ngược lại nếu công tác tiêu thụ sp tiến hành
chậm chạp sẽ kéo dài chu kỳ sx, đồng vốn bị ứ đọng, chậm luân chuyển thì
không những chi phí sx kinh doanh trên một đơn vị sp tăng lên mà doanh
nghiệp còn tốn nhiều thời gian, chi phí để giải quyết lượng hàng tồn đọng.
DTT
L=
VLĐ
Trong đó: DTT là doanh thu thuần từ bán hàng và cung ứng dịch vụ
trong kỳ.
VLĐ là vốn lưu động bình quân trong kỳ.
L là số vòng quay của vốn lưu động.
Khi DTT tăng, VLĐ không đổi thì nó sẽ làm số vòng quay vốn lưu
động tăng. Ngược lại DTT giảm, VLĐ không đổi thì nó sẽ làm cho số vòng
Dương Đình Đức

TC1-K8

12



hiện mục tiêu của doanh nghiệp cũng như đáp ứng cho các nhu cầu của sản xuất
và tiêu dùng xã hội. Tiêu thụ hàng hoá được thể hiện thông qua hoạt động bán
hàng của doanh nghiệp nhờ đó hàng hoá được chuyển thành tiền. Hiện nay các
Dương Đình Đức

TC1-K8

13


TRƯỜNG CĐ CÔNG ĐỒNG HÀ NỘI

Khoa Tài chính ngân hàng

doanh nghiệp thương mại có thể bán hàng theo các phương thức sau:
1.2.4.1 Bán buôn
Bán buôn hàng hoá là phương thức bán hàng cho các đơn vị thương mại
để tiếp tục chuyển bán, hoặc bán ra các nguyên liệu, vật liệu, đầu vào cho các
đơn vị sản xuất để sản xuất ra sản phẩm mới. Đặc điểm của bán buôn là bán
hàng hoá với khối lượng lớn, hàng hoá bán thường phong phú đa dạng như
trong bán lẻ. Hàng hoá sau khi bán vẫn nằm trong lưu thông hoặc trong xản
xuất, chưa đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Bán buôn gồm hai hình thức
chủ yếu:
* Bán buôn qua kho: Hàng hoá được tập trung tại kho của doanh nghiệp
thương mại trước khi tiêu thụ. Phương thức này có 2 hình thức bán sau:
- Bán buôn trực tiếp qua kho: Theo hình thức này, bên mua cử đại diện
đến kho của doanh nghiệp thương mại để nhận hàng. Doanh nghiệp thương
mại xuất kho hàng hoá, giao trực tiếp cho đại diện bên mua. Sau khi đại diện
bên mua nhận đủ hàng, thanh toán tiền hàng hoặc chấp nhận nợ, hàng hoá
được xác định là tiêu thụ.

thương mại chuyển đến cho bên mua theo hợp đồng thì số hàng đó vẫn thuộc
quyền sở hữu của doanh nghiệp và chỉ chuyển quyền sở hữu khi bên mua trả
tiền hoặc thông báo cho bên bán biết đã nhận được hàng và chấp nhận thanh
toán. Nếu bên mua cử đại diện đến nhận hàng trực tiếp (hoặc thông báo cho
bên bán biết đã nhận được hàng và chấp nhận thanh toán) thì khi giao xong
hàng hoá được coi là tiêu thụ.
- Bán buôn vận chuyển thẳng không tham gia thanh toán: Công ty bán
buôn là đơn vị trung gian trong mối quan hệ giữa bên cung cấp với bên mua.
Công ty uỷ nhiệm cho bên mua nhận hàng và thanh toán tiền hàng với bên
cung cấp về số lượng hàng trong hợp đồng mà công ty đã ký kết với bên cung
cấp. Trong trường hợp này, công ty không phát sinh nghiệp vụ mua hàng, bán
hàng. Tuy nhiên, tuỳ theo điều kiện đã ký kết trong hợp đồng mà công ty bán
buôn được hưởng một khoản hoa hồng do bên cung cấp hoặc bên mua trả.
1.2.4.2 Bán lẻ
Bán lẻ là bán hàng hoá với số lượng nhỏ, trực tiếp cho cá nhân người
tiêu dùng nhằm thoả mãn nhu cầu sinh hoạt của người dân. Hàng hoá bán lẻ
sau khi đã bán ra khỏi lĩnh vực lưu thông đi vào lĩnh vực tiêu dùng.
* Bán lẻ thu tiền trực tiếp: Theo hình thức này, nhân viên bán hàng hoàn
toàn chịu trách nhiệm vật chất về số lượng hàng đã nhận để bán ở quầy hàng.
Nhân viên bán hàng trực tiếp thu tiền của khách hàng và giao hàng cho khách
hàng mua hàng. Nghiệp vụ bán hàng hoàn toàn trực diện với người mua và
thường không lập chứng từ cho từng nghiệp vụ bán hàng. Tuỳ thuộc vào yêu
cầu quản lý hàng hoá bán lẻ ở quầy hàng, cuối ca, ngày hoặc định kỳ nhân
Dương Đình Đức

TC1-K8

15




Xuất hàng hóa trả lương thưởng cho CNV, thanh toán thu nhập cho các
bên tham gia liên doanh.

-

Xuất hàng hoá bán nội bộ, bán cho các đơn vị trực thuộc.

-

Xuất hàng hoá làm quà biếu, tặng.
Hao hụt hàng hoá, tổn thất trong khâu bán theo hợp đồng do bên mua

chịu.
Dương Đình Đức

TC1-K8

16


TRƯỜNG CĐ CÔNG ĐỒNG HÀ NỘI

Khoa Tài chính ngân hàng

1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới tiêu thụ sản phẩm và doanh thu bán
hàng
1.3.1 Các nhân tố bên trong của doanh nghiệp
Trong điều kiện nền kinh tế phát triển như hiện nay, hoạt động tiêu thụ
sản phẩm ngày càng sôi động và phức tạp, sản phẩm sản xuất có được tiêu thụ



TRƯỜNG CĐ CÔNG ĐỒNG HÀ NỘI

Khoa Tài chính ngân hàng

+ Chất lượng, mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm đưa ra tiêu thụ.
Trong cơ chế cũ chất lượng sản phẩm hàng hoá chỉ có một vị trí khiêm
tốn trong việc thúc đẩy, kìm hãm công tác tiêu thụ và doanh thu tiêu thụ.
Người tiêu dùng bắt buộc phải sử dụng sản phẩm hàng hoá mà người sx tạo
ra, hầu như không có sự lựa chọn nào, về phía người sx chỉ biết sx theo kế
hoạch.
Ngày nay, trong cơ chế thị trường các doanh nghiệp cạnh tranh gay gắt
với nhau để tiêu thụ được sản phẩm, chiếm lĩnh được thị trường. Nên vấn đề
chất lượng sản phẩm được đặt lên hàng đầu và trở thành công cụ đắc lực
chiến thắng trong cạnh tranh. Các nhà sản xuất kinh doanh đều hiểu rằng chất
lượng và uy tín sản phẩm đi liền với doanh thu và lợi nhuận. Sản phẩm hàng
hoá có chất lượng cao sẽ có sức mua lớn, do đó doanh nghiệp bán được nhiều,
làm tăng doanh thu từ đó tăng lợi nhuận. Ngược lại, chất lượng sản phẩm
kém, sản phẩm sản xuất ra không bán được, giảm doanh thu, làm vốn bị ứ
đọng gây khó khăn về vốn cho sản xuất.
+ Kết cấu mặt hàng sản phẩm hàng hoá tiêu thụ.
Kết cấu mặt hàng tiêu thụ là tỷ trọng tính theo doanh thu từng loại sản
phẩm chiếm trong tổng doanh thu tiêu thụ sản phẩm tiêu thụ. Kết cấu mặt
hàng tiêu thụ thay đổi có thể làm thay đổi doanh thu tiêu thụ. Mỗi loại sản
phẩm đều có tác dụng nhất định trong việc làm thoả mãn nhu cầu người tiêu
dung. Trong nền kinh tế thị trường, nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng
cao, ngày càng phong phú, do đó để tồn tại và phát triển thì doanh nghiệp phải
đưa ra một kết cấu mặt hàng tiêu thụ phù hợp nhất để đáp ứng tối đa nhất nhu
cầu ngày càng đa dạng của khách hàng, từ đó sẽ làm tăng khối lượng tiêu thụ

được vũ khí sắc bén và hữu hiệu trong cạnh tranh.
1.3.2 Các nhân tố thuộc về thị trường, đổi thủ cạnh tranh và phương
thức thanh toán
Trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp phải luôn hoạt động theo
phương châm: "bán cái thị trường cần". Do vậy để tiến hành tiêu thụ được thì
công việc nghiên cứu thị trường và xác định đối tượng phục vụ của doanh
nghiệp rất quan trọng. Nghiên cứu về thị trường thì yếu tố sức mua của dân
cư là nhân tố ảnh hưởng lớn nhất đến khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh
nghiệp, có những vùng thị trường mà thu nhập của người dân cao thì cái họ
cần là chất lượng và chức năng của sản phẩm chứ không phải là giá cả, nhưng
ngược lại cũng có vùng thị trường mà thu nhập của người dân thấp thì cái họ
quan tâm là số lượng và giá cả hàng hoá. Do vậy thông qua nghiên cứu thị
trường sẽ giúp doanh nghiệp đưa ra cách ứng xử phù hợp. Bên cạnh đó doanh
nghiệp phải quan tâm đến thị hiếu tiêu dùng để đáp ứng tối đa nhu cầu của thị
trường, trên cơ sở đó tăng khối lượng bán, mở rộng thị trường.
Dương Đình Đức

TC1-K8

19


TRƯỜNG CĐ CÔNG ĐỒNG HÀ NỘI

Khoa Tài chính ngân hàng

Một yếu tố khác ảnh hưởng không nhỏ đến tiêu thụ sản phẩm là hoạt
động của đối thủ cạnh tranh. Do có sự cạnh tranh khóc liệt làm giảm doanh
thu tiêu thụ của doanh nghiệp khác trong cùng một lĩnh vực hoạt động. Do đó,
một doanh nghiệp càng biết nhiều và chi tiết các thông tin về hoạt động của



TRƯỜNG CĐ CÔNG ĐỒNG HÀ NỘI

Khoa Tài chính ngân hàng

doanh nghiệp thường áp dụng để tăng chất lượng sản phẩm là: Đầu tư dây
chuyền công nghệ hiện đại, sử dụng nguyên liệu đầu vào có chất lượng cao,
nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động... Tiêu chuẩn hoá và kiểm tra
chất lượng sản phẩm cũng là công việc mà doanh nghiệp phải tiến hành
thường xuyên và chặt chẽ nhằm duy trì và nâng cao được chất lượng của sản
phẩm, đảm bảo giữ vững uy tín của doanh nghiệp với người tiêu dùng. Tuy
nhiên, việc nâng cao chất lượng sản phẩm thường dẫn đến giá sản phẩm tăng
do các chi phí đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh lớn, lúc này doanh
nghiệp dễ phải đương đầu với khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm do khách
hàng phản đối việc nâng giá. Do vậy, để sản phẩm sản xuất ra tiêu thụ được
thuận lợi, các doanh nghiệp phải tổ chức hiệu quả quá trình sản xuất có như
vậy mới tạo ra các sản phẩm không những có chất lượng cao mà còn có giá
thành hạ, được người tiêu dùng chấp nhận.
Kết quả tiêu thụ hàng hoá trong các doanh nghiệp kinh doanh thương
mại được biểu hiện qua chỉ tiêu “Lợi nhuận” hay “Lỗ” từ tiêu thụ. Đó chính là
phần chênh lệch giữa doanh thu thuần với giá vốn hàng tiêu thụ (giá mua và
chi phí thu mua), và chi phí quản lý, được xác định bằng công thức:
Lợi nhuận (lỗ) =

Doanh thu

-

Giá vốn


Chi phí

-

bán hàng

Chi phí
quản lý
DN

Doanh thu
hàng bán bị
trả lại

-

Thuế
TTĐB,
Thuế XK

21


TRƯỜNG CĐ CÔNG ĐỒNG HÀ NỘI

Khoa Tài chính ngân hàng

CHƯƠNG II: THỰC TẾ QUẢN LÝ BÁN HÀNG VÀ GIA
TĂNG DOANH THU BÁN HÀNG TẠI CÔNG TY CP DỊCH


: 8865555

- Tài khoản tại

: Ngân hàng ngoại thương Viềt Nam,

ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh Sóc Sơn, Đông Anh.
Công ty hoạt động dựa trên cơ sở pháp lý là điều lệ về tổ chức và hoạt
động của công ty dịch vụ cụm cảng hàng không sân bay miền Bắc số 2856
QĐ/TCCB ngày 14/02/1994 của Bộ Giao Thông Vận Tải.
2.1.1 Quá trình ra đời và phát triển
Ra đời ngày 01/07/1993 với tên gọi đầu tiên là Công ty dịch vụ Cụm
cảng Hàng không sân bay miền Bắc, trong bối cảnh Việt Nam đang bước đầu
hình thành nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, quy mô
và cơ sở vật chất của Sân bay Quốc tế Nội Bài lúc đó còn nghèo nàn. Lưu
Dương Đình Đức

TC1-K8

22


TRƯỜNG CĐ CÔNG ĐỒNG HÀ NỘI

Khoa Tài chính ngân hàng

lượng hành khách, tần suất chuyến bay qua lại Cảng hàng không thấp, chủ
yếu là các chuyến bay nội địa. Do đó, các hoạt động thương mại dịch vụ phục
vụ hành khách còn rất sơ khai, chủ yếu là tự phát, không có tính kế thừa,



TRƯỜNG CĐ CÔNG ĐỒNG HÀ NỘI

Khoa Tài chính ngân hàng

phục vụ khách hàng trong các hoạt động kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh
đối với các đối thủ cạnh tranh.
Ngày 21/05/2005, công ty Dịch vụ Hàng không sân bay Nội Bài được
chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty cổ phần theo quyết định số
3798/QĐ-BGTVT của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải.
Ngày 12/02/2006, Đại hội đồng cổ đông của Công ty đã thông qua điều
lệ tổ chức và hoạt động của Công ty cổ phần Dịch vụ Hàng không sân bay
Nội Bài.
Ngày 05/04/2006, Công ty cổ phần Dịch vụ Hàng không sân bay Nội Bài
chính thức đi vào hoạt động.
Theo Quyết định số 1921/QĐ/TCCB-LĐ ngày 25/10/1994 của Bộ
trưởng Bộ Giao thông vận tải, một phần của cục Hàng Không Dân Dụng Việt
Nam tại sân bay Nội bài được tách ra thành lập công ty Cụm Cảng Hàng
Không sân bay miền Bắc trực thuộc cục Hàng Không dân dụng Việt Nam-Bộ
Giao Thông Vận Tải.
Theo Quyết định số 32/CP ngày 22/05/1995 của Thủ Tướng Chính Phủ,
cục Hàng không dân dụng Việt Nam chuyển từ đơn vị chủ quản là Bộ Giao
Thông Vận Tải về trực thuộc chính phủ để giúp chính phủ tiến hành chức
năng quản lý nhà nước chuyên ngành hàng không dân dụng. Và công ty dịch
vụ Hàng không sân bay miền Bắc được đổi tên thành công ty cổ phần dịch vụ
Hàng không sân bay Nội Bài, là một đơn vị trực thuộc Tổng công ty Hàng
Không Việt Nam thuộc Bộ giao thông vận tải. Tổng số cán bộ công nhân viên
hiện nay của công ty là 880 người tính đến ngày 31/12/2015.
-Biên chế: 04.

8
9
10

Đơn vị

Lãnh đạo Công ty
Văn phòng Công ty
Phòng Tổ chức & PTNNL
Phòng Kế hoạch – Thị trường
Phòng Tài chính – kế toán
Trung tâm Dịch vụ Hàng không
TT Thương mại HKNB
TT Vận tải ô tô HKNB
TT Dịch vụ Taxi hàng không
Phòng kinh doanh hàng miễn thuế
Tổng cộng

Năm

Năm

Năm

2013

2014

2015


251
364
189
135
1172

2.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh, tổ chức quản lý của Công ty cổ phần
dịch vụ Hàng Không sân bay Nội Bài (NASCO)
2.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của Công ty
- Kinh doanh thương mại: ăn uống, hàng tiêu dùng, đồ lưu niệm, văn hoá
phẩm...
- Kinh doanh hàng miễn thuế phục vụ khách xuất nhập cảnh.
- Vận chuyển hành khách, hàng hoá.
- Thực hiện dịch vụ kỹ thuật ô tô, xe máy, cung cấp phụ tùng thay thế và
xăng dầu ô tô.
- Đại lý bán vé máy bay, đại lý dịch vụ vận chuyển hàng hoá, dịch vụ
hành khách và các dịch vụ khác tại cảng hàng không.
Dương Đình Đức
TC1-K8

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status