Tình hình tội chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh Hải Dương - Pdf 35

Tình hình tội chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh Hải Dương

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 được coi là: “Đại hội đổi mới tư
duy”(1), tạo nền thuận lợi cho các kỳ đại hội sau này, đã đề ra đường lối đổi mới đất
nước một cách toàn diện, sâu sắc. Đại hội xác định xoá bỏ cơ chế kinh tế kế hoạch
hoá tập trung quan liêu bao cấp, xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã
hội chủ nghĩa có sự điều tiết của nhà nước. Nhờ đó mà trong những năm tiếp theo
đất nước ta không ngừng phát triển về mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá
xã hội…
Trong công cuộc đổi mới của đất nước, không chỉ thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí
Minh….mà còn không ngừng phấn đấu phát triển để trở thành những trung tâm
kinh tế, văn hóa của đất nước, trong đó có tỉnh Hải Dương.
Hải Dương nằm trong khu vực đồng bằng sông hồng, với diện tích 1648,4km2, dân
số 1.711.400 người. Là nơi có nền kinh tế đang phát triển, nơi giao lưu của những
trung tâm kinh tế lớn như Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng nên Hải Dương có nhiều
điều kiện thuận lợi để phát triển các mặt của đời sống xã hội.
Tuy nhiên, sự phát triển của nền kinh tế thị trường cũng kéo theo những tiêu cực
đáng kể. Đó là sự thiếu kinh nghiệm, kém ổn định của trật tự kỷ cương xã hội. Đây
chính là điều kiện thuận lợi cho các loại tội phạm phát sinh, phát triển, gây cản trở
cho sự phát triển của đất nước, trong đó phải kể đến nhóm các tội xâm phạm trật tự
quản lý hành chính. Điển hình trong nhóm tội phạm này là tội chống người thi hành
công vụ. Loại tội phạm này đang diễn ra với quy mô rộng ở khắp nơi trên toàn
quốc.Trong đó có tỉnh Hải Dương.


Tại địa bàn tỉnh Hải Dương trong những năm gần đây, diễn biến của loại tội phạm
này hết sức phức tạp, tính chất và mức độ của tội phạm ngày càng nghiêm trọng,
gây nguy hại to lớn cho ổn định trật tự xã hội, ảnh hưởng đến hoạt động bình
thường của các cơ quan nhà nước, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, của
nhân viên cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội.

hình sự 1999 và đấu tranh phòng, chống tội phạm này trên địa bàn tỉnh Hải Dương’’
làm đề tài khoá luận tốt nghiệp đại học của mình.
3. Mục đích và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ dấu hiệu pháp lý của tội chống người
thi hành công vụ, tìm ra những điểm khác biệt với một số hành vi cùng loại là dấu
hiệu của một số tội danh khác, phân biệt giữa tội tội chống người thi hành công vụ
và một số tội phạm có liên quan.
Đồng thời đề tài đi vào phân tích thực trạng, lý giải nguyên nhân và điều kiện của
tình hình tội chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh Hải Dương gắn liền với
những đặc thù kinh tế, chính trị, xã hội ở đây. Từ đó đưa ra một số giải pháp phòng
ngừa và chống tội phạm.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là dấu hiệu pháp lý của tội chống người thi hành
công vụ theo quy định của Bộ luật hình sự 1999; thực trạng, nguyên nhân và điều
kiện của tội chống người thi hành công vụ; một số giải pháp phòng chống loại tội
phạm này trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
4. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tội chống người thi hành công vụ của đề tài là tội
chống người thi hành công vụ được quy định tại Điều 257 và một số dấu hiệu của


tội phạm này được quy định tại điều 93, Điều 104 Bộ luật hình sự 1999, hoạt động
của tội phạm trên địa bàn thành phố Hải Dương và đấu tranh phòng chống tội phạm
này từ năm 2002 đến nay.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả khoá luận tốt nghiệp đã sử dụng một số
phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đây: Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương pháp thống kê hình sự, phương
pháp so sánh, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp phân tích các luận cứ
khoa học để làm sáng tỏ vấn đề được nghiên cứu.
5. Kết cấu của khoá luận
Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn khoá luận

trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu
tháng đến ba năm”…
Qua đó, có thể hiểu tội chống ng¬ười thi hành công vụ là hành vi dùng vũ lực, đe
doạ dùng vũ lực hoặc dùng các thủ đoạn khác nhằm cản trở người thi hành công vụ
thực hiện công vụ của họ cũng như ép buộc họ phải thực hiện hành vi trái pháp luật,
gây trở ngại cho hoạt động bình thường của các cơ quan nhà nước và tổ chức xã
hội.


Từ khi Bộ luật hình sự 1999 được ra đời đến nay chưa có văn bản ban hành kèm
theo nào hướng dẫn áp dụng tội chống ngư¬¬ời thi hành công vụ. Vì vậy, việc
hướng dẫn áp dụng tội phạm này vẫn theo quy định của Nghị quyết 04/ HĐTP ngày
29/11/1986 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng
một số quy định trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự 1985.
Nội dung của Nghị quyết 04/HĐTP quy định:
“Công vụ là công việc mà cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội giao cho một
người thực hiện”.

“Người thi hành công vụ là người có chức vụ quyền hạn trong cơ quan nhà nước, tổ
chức xã hội thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình và cũng có thể là công dân
được làm nhiệm vụ tuần tra canh gác… theo kế hoạch của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền phục vụ lợi ích chung của nhà nước và xã hội như cán bộ thuế, cảnh
sát, đội viên, dân phòng…”
Hướng dẫn của nghị quyết đã chỉ ra dấu hiệu để xác định một người đang thi hành
công vụ bao gồm:
- Có chức năng và quyền hạn hoặc do cơ quan nhà nước trao cho quyền hạn.
- Công việc đang thực hiện phải là công việc phục vụ lợi ích chung của nhà nước và
xã hội.
- Đang thi hành công vụ
Trên thực tế chúng ta có thể nhận biết được một người đang thi hành công vụ căn



Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội
phạm xâm hại.
Tội chống người thi hành công vụ là một trong những tội xâm phạm đến hoạt động
bình thường của nhà nước và xã hội trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước.
Do vậy, nhóm các quan hệ xã hội bị hành vi chống người thi hành công vụ xâm hại
là các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực quản lý hành chính. Đó có thể là các quan hệ
xã hội phát sinh trong quá trình các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoạt
động chấp hành, điều hành trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Nhưng
cũng có thể là các quan hệ hình thành trong quá trình các cơ quan nhà nước xây
dựng và củng cố chức năng, nhiệm vụ của mình, hay các quan hệ phát sinh trong
quá trình các cá nhân và tổ chức được nhà nước trao quyền thực hiện hoạt động
quản lý hành chính nhà nước trong những trường hợp cụ thể do pháp luật quy định.
Ví dụ: quan hệ phát sinh trong lĩnh vực giữ gìn trật tự đường phố trên địa bàn các
xã, phường mà nhà nước trao cho các đội quản lý trật tự, tổ dân phòng quản lý.
Đối tượng tác động của tội phạm là bộ phận của khách thể bị hành vi phạm tội tác
động của tội chống người thi hành công vụ là người thi hành công vụ. Trong thực
tiễn, tội phạm thường có hành vi chống người thi hành công vụ là cán bộ thuế vụ,
cảnh sát giao thông, đội viên dân phòng, cán bộ công an, kiểm sát, toà án và các cán
bộ chính quyền địa phương khác.
2.2. Mặt khách quan của tội chống người thi hành công vụ
Mặt khách quan của tội phạm bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc
tồn tại bên ngoài thế giới khách quan. Thông qua những biểu hiện đó mà con người
có thể trực tiếp nhận biết được tội phạm. Đó là:
- Hành vi nguy hiểm cho xã hội
- Hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả.


- Các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành vi phạm tội (Thời gian, địa

Quang đuổi theo và doạ sẽ đâm anh Bình nếu còn quay lại. Được sự giúp đỡ của
đông đảo mọi người ở chợ, anh Bình không bị Quang đuổi tiếp, y đã bị mọi người
giữ lại và lấy được con dao(2).
Qua vụ án trên cho thấy việc Quang cầm dao đuổi theo và doạ đâm anh Bình khiến
anh Bình hoàn toàn có căn cứ để tin rằng việc đe doạ trên sẽ trở thành hiện thực, sự
chống đối của Quang mang tính chất quyết liệt khiến cho anh Bình đã không thực
hiện được nhiệm vụ của mình là bảo vệ trật tự trong chợ.
Trong tội chống người thi hành công vụ, hành vi đe doạ dùng vũ lực có thể ngay tức
khắc (như rút dao dí vào cổ cán bộ chiến sĩ công an và yêu cầu nếu mọi người khác
không tránh ra cho người đó chạy thì người đó sẽ đâm chiến sĩ công an này) nhưng
cũng có thể có khảng cách về mặt thời gian như ví dụ trích từ bản án số 1210 ngày
20/11/2004 của TAND TP Hải Dương. ở ví dụ này, sức mãnh liệt của sự đe doạ
chưa đến mức làm tê liệt ý chí kháng cự của người bị đe doạ. Người bị đe doạ còn
có điều kiện để suy nghĩ cân nhắc và quyết định hành động.
* Hành vi ép buộc người thi hành công vụ phải thực hiện hành vi trái pháp luật
ép buộc người thi hành công vụ phải thực hiện hành vi trái pháp luật là hành vi
chống chế người thi hành công vụ phải làm những việc trái với chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn của họ (như: buộc phải trả lại tang vật phạm pháp, huỷ hoá đơn xử
phạt) hoặc không làm những việc thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của họ
(như: Để xe chở hàng lậu đi qua trạm gác…)


Trên thực tế, biểu hiện của hành vi ép buộc này thường là sử dụng những thông tin
có ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người thi hành công vụ như bí
mật đời tư hoặc có thể là hành vi vi phạm pháp luật của người đang thi hành nhiệm
vụ…nếu như người bị đe doạ (người thi hành công vụ) không thoả mãn yêu cầu của
người kia đưa ra nhằm giúp cho người đó thực hiện hành vi trái pháp luật như:
không thực hiện việc xử lý vi phạm, xử lý các hành vi vi phạm ở mức độ thấp,
không thực hiện nghĩa vụ mà người thi hành công vụ phải thực hiện và có điều kiện
để thực hiện.

Khoảng 17 giờ ngày 16/5/2005, sau khi nhận được điện báo có vụ tiêm chích ma
tuý tại nhà Nguyễn Thị Mai, xã X huyện Kim thành – Hải Dương, đồng chí Đỗ Văn
Long trưởng công an huyện cùng ba đồng chí khác tiến hành bao vây bắt quả tang.
Ba đồng chí kia ở ngoài canh trừng cửa trước, cửa sau, còn đồng chí Long vào
trong. Thấy vậy, Mai chốt ngay cửa lại, tự cởi bỏ quần áo ôm chặt anh Long. Thị đã
bị anh Long đẩy ngã, lập tức thị giở trò kêu la “có người cưỡng bức tôi”… Anh
Long hô các chiến sĩ vào vây bắt. Nhân lúc đó bọn tiêm chích lẻn qua cửa sau chạy
trốn.Nhưng sau khi bị đuổi đến cuối xã thì chúng bị bắt.
Như ví dụ trên, ta có thể thấy rằng hành vi tự cởi bỏ quần áo trước mặt chiến sĩ
công an đang thi hành nhiệm vụ (bắt quả tang ổ tiêm chích mà tuý) và ôm chặt
chiến sĩ công an của Nguyễn Thị Mai đã khiến cho việc thi hành công vụ của các
chiến sĩ công an gặp khó khăn.
Qua thực tế, chúng ta có thể thấy thủ đoạn mà người thực hiện hành vi phạm tội rất
phức tạp, đa dạng. Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng những thủ đoạn đó phải thực sự
làm cho người thi hành công vụ khó có khả năng thực hiện và hoàn thành được
nhiệm vụ của mình, tránh trường hợp người phạm tội có những hành vi tác động
nhưng không đủ khả năng cản trở người thi hành công vụ. Người thi hành công vụ
vẫn khắc phục được tình trạng đó để hoàn thành công vụ. Nhưng họ đã lợi dụng sự
việc đó để không thi hành đúng công vụ dẫn đến không hoàn thành được nhiệm vụ


được giao, thì cần xem xét để xử lý hành vi đó của người thi hành công vụ. Nếu gây
ra hậu quả nghiêm trọng (như thiệt hại về tài sản hoặc làm cho uy tín của cơ quan
nhà nước, tổ chức xã hội bị giảm sút) có thể bị xử lý về tội thiếu trách nhiệm gây
hậu quả nghiêm trọng (Điều 185 BLHS)
Tóm lại, các dạng hành vi khách quan của tội chống người thi hành công vụ biểu
hiện rất phức tạp trên thực tế. Việc xem xét để đánh giá đúng mức độ để truy cứu
trách nhiệm hình sự hoặc áp dụng các biện pháp xử lý khác nhiều khi rất khó khăn.
Theo quy định tại Điều 257 khoản 1 Bộ luật hình sự tội phạm được coi là hoàn
thành kể từ khi người phạm tội đã thực hiện một trong các hành vi kể trên.

không hoàn thành công vụ được giao.
Trong trường hợp người phạm tội không biết hoặc có nghi ngờ về tính hợp pháp của
người đang thi hành công vụ thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà xác định người đó
có lỗi không. Tuy nhiên, việc xem xét nhận thức của người phạm tội trong những
trường hợp này cần phải cẩn trọng. Bởi nhiều trường hợp người phạm tội tuy nhận
thức được rõ ràng là người thi hành công vụ nhưng vẫn cố tình thể hiện là mình
không biết. Ví dụ:
Ngày 3/3/2005, sau khi nhận được lệnh bắt Trần Thanh Bình vì tội nhận hối lộ, ba
đồng chí công an huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương thi hành lệnh bắt và mời công an
xã chứng kiến. Khi đến nhà Bình đồng chí Nguyễn Văn Thịnh giới thiệu thành phần
người có mặt thi hành lệnh bắt giam. Lúc đó Trương Thị Hải – vợ Bình chạy ra
hô:“ối làng nước ơi công an bắt người vô cớ”. Ngay lúc đó bảy người hàng xóm
chạy sang nhà Bình. Em trai Bình là Trần Thanh Trung đòi kiểm tra giấy tờ. Sau đó


trung vò nát tập giấy tờ trong tay và nói “công an bắt người vô cớ, không có bằng
chứng lại còn làm lệnh giả nữa, mọi người trói chúng lại đánh cho một trận”.
Qua ví dụ trên, có thể thấy rõ ràng Hải, Trung nhận thức được đó là những người
đang thi hành công vụ nhưng vấn cố tình giả vờ như không biết và thực hiện việc
cản trở người thi hành công vụ, khiến cho các thời đã gây ra một dư luận xấu và gây
mất trật tự trị an xã hội.
*Động cơ và mục đích của người phạm tội
Động cơ của người phạm tội rất phong phú da dạng nhưng thường mang tính chất
cá nhân, tư lợi, lợi ích có thể là vật chất cụ thể hoặc uy tín ảnh hưởng của cá nhân
họ trước một bộ phận quần chúng, có thể cũng qua đó mà có được lợi ích vật chất.
Người thực hiện hành vi phạm tội nhằm chống lại người đang thi hành công vụ để
cản trở hoặc ép buộc người đó không thực hiện công vụ thì người này có thể không
bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chống người thi hành công vụ mà bị truy cứu
trách nhiệm hình sự về tội khác. Ví dụ như dùng gậy đập vào đầu của người đang
thi hành công vụ nhằm cướp tài sản, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướp

phạt tương ứng với mức độ nguy hiểm cho xã hội mà người phạm tội thực hiện.
3.1. Phạm tội có tổ chức
Phạm tội có tổ chức là trường hợp phạm tội trong đó có sự cấu kết chặt chẽ giữa
những người cùng phạm tội. Sự cấu kết ở đây thể hiện sự liên kết chặt chẽ về mặt
chủ quan, sự phân hoá vai trò về mặt khách quan của những người phạm tội. Thậm
chí ở đây còn có sự điều khiển chung thống nhất cho phép người phạm tội có điều


kiện chuẩn bị tốt hơn về mọi mặt, có khả năng thực hiện tội phạm liên tục, lâu dài,
cản trở triệt để hơn việc thi hành công vụ của người đang thi hành công vụ. Ví dụ:
Ngày 16/7/2003, công an thành phố Hải Dương đã truy bắt được một nhóm tội
phạm gồm 7 tên, do Nguyễn Văn Khang cầm đầu. Theo kết quả điều tra của công
an thành phố và lời khai của Khang: Nhóm tội phạm này được thành lập vào cuối
năm 2002, tiến hành cướp tài sản 16 lần trong và ngoài tỉnh Hải Dương. Trước khi
tiến hành cướp, bọn chúng đều vạch kế hoạch chu đáo, chuẩn bị kĩ lưỡng về công
cụ, phương tiện phạm tội, thời gian thực hiện tội phạm, có tới 4 lần bị công an, tổ
trưởng tổ dân phố phát hiện kịp thời và tiến hành đuổi bắt. Nhưng do có sự thống
nhất của chúng là nếu công an đuổi thì cứ phân tán chạy chốn, nếu bị cản thì đâm
thẳng, nên lần thứ 4 này mới bị bắt. Trong 3 lần trước, khi bị công an đuổi bắt, chặn
đường, chúng đã lao xe thẳng vào 2 đồng chí công an, dùng côn quật 1 đồng chí bị
chấn thương sọ não và sau đó đã chết….
Như vậy, với sự câu kết chặt chẽ, chuẩn bị chu đáo về phương thức chạy chốn….
Nhóm tội phạm này đã 4 lần tấn công, cản trở người thi hành công vụ, đến lần thứ 4
mới bị bắt.
3.2. Phạm tội nhiều lần
Đây là trường hợp phạm tội mà trướ đó người này đã phạm tội đó ít nhất 1 lần
nhưng chưa bị xét xử.
Trong trường hợp phạm tội chống người thi hành công vụ nhiều lần, người phạm tội
đã thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ từ 2 lần trở lên và chưa bị xét
xử. Mỗi lần thực hiện hành vi phạm tội đó đều thoả mãn đầy đủ những dấu hiệu của

tưởng rằng việc “đòi tiền vô lí đó” nhằm làm cho xưởng gỗ hoạt động khó khăn,
con em họ thất nghiệp, cậy quyền áp bức dân….
Hành vi kích động, lừa dối của Thắng không chỉ xâm hại đến hoạt động bình
thường của cơ quan nhà nước, hoạt động công vụ của các chiến sĩ công an nhân dân
mà còn xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của người thi hành công vụ. Hành vi đó
đã gây ra dư luận xấu, mất niềm tin vào pháp luật của quần chúng nhân dân, gây
mất trật tự trị an xã hội.
3.4. Gây hậu quả nghiêm trọng
Nghị quyết 04/HĐTP ngày 29.11.1986 của Hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối
cao hướng dẫn: “Hậu quả nghiêm trọng có thể là người thi hành công vụ không
hoàn thành được nhiệm vụ, việc chấp hành pháp luật ở địa phương hoặc khu vực trở
nên lỏng lẻo, kẻ xấu lợi dụng cơ hội reo rắc dư luận ảnh hưởng xấu”.
Ví dụ: Lê Ngọc Duy sau khi trộm cắp tài sản nhà chịNguyễn Thị Thu đã bị phát
hiện và báo công an. Khi bị công an huyện Thanh Hà đuổi bắt, Duy đã chốn vào
nhà chị gái là Lê Thị Minh. Minh mở cổng sau cho Duy chạy thoát và còn thả chó
ngăn không cho các chiến sĩ công an vây bắt Duy. Đến 3 hôm sau Duy đã bị bắt.
Như vậy, Minh đã biết hành vi giúp đỡ người phạm tội chạy chốn của mình là trái
pháp luật, việc này đã gây ra hậu quả nghiêm trọng là người phạm tộ (Duy) đã chạy
thoát, tới 3 ngày sau mới bị bắt, công an huyện đã không hoàn thành được nhiệm vụ
của mình. Bị cáo Lê Thị Minh bị kết án về tội chống người thi hành công vụ theo
khoản 2 điểm b Điều 257 Bộ luật Hình sự.
3.5. Tái phạm nguy hiểm
Điều 49 khoản 2 Bộ luật Hình sự 1999 quy định:


“Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm”.
a. Đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được
xoá án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý.
b. Đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do ý.
Theo qui định Khoản 2 Điều 257 Bộ luật Hình sự thì mức độ cao nhất của khung

Như đã phân tích ở phần 2.1 khách thể của tội chống người thi hành công vụ là xâm
phạm đến trật tự quản lý hành chính nhà nước. Còn khách thể tội giết người quy
định tại Điều 93 Bộ luật Hình sự là xâm phạm đến quyền được sống, quyền được
tôn trọng và bảo vệ về tính mạng con người. Đối tượng của tội phạm là người đang
sống, đang tồn tại trong thể giới khách quan.
Như vậy, khách thể và đối tượng tác động của tội giết người và tội chống người thi
hành công vụ khác. Nhưng cũng có trường hợp người phạm tội không chỉ xâm
phạm đến trật tự quản lý hành chính nhà nước mà còn xâm phạm đến tính mạng,
sức khoẻ của người thi hành công vụ.
Như vậy, chỉ với hành vi chống người thi hành công vụ, người phạm tội cùng một
lúc đã xâm phạm đến nhiều quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Nếu người
phạm tội giết người thi hành công vụ nhằm cản trở việc thi hành công vụ thì họ sẽ


bị xử lí theo qui định tại Điểm d khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự , Vì như vậy mới
phản ánh được đầy đủ bản chất và tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.
+ Mặt khách quan:
Khi nghiên cứu mặt khách quan của tội chống người thi hành công vụ, ta thấy hành
vi khách quan của tội này rất phong phú và phức tạp, có thể là dùng vũ lực như
đánh, đấm, bắt trói, hoặc đe doạ dùng vũ lực, thủ đoạn khác tác động đến người thi
hành công vụ, thậm chí ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật với những công
cụ phương tiện phạm tội khác nhau như vũ khí, tài liệu, ảnh, giấy tờ….
Hành vi khách quan của tội giết người là hành vi tước đoạt tính mạng của người
khác một cách trái pháp luật gây ra cái chết cho con người với tư cách thực thể đang
sống, đang tồn tại. Hành vi tước đoạt tính mạng có thể là dạng hành động như: đâm,
chém, bắn… hoặc không hành động như: bác sĩ đã cố tình không cho bệnh nhân
uống thuốc đã dã đến hậu quả là người bệnh tử vong.
Nếu như ở tội chống người thi hành công vụ, hậu quả không phải là dấu hiệu bắt
buộc, tức là người thi hành công vụ không hoàn thành công việc mà mình được
giao; thì ở tội giết người, hậu quả chết người là dấu hiện bắt buộc. Trường hợp

luật Hình sự
4.2.1. Về khái niệm
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác là hành vi
cố ý gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác dưới dạng thương tích hoặc tổn
thương khác.


Tội chống người thi hành công vụ là hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc
các thủ đoạn khác nhằm cản trở người thi hành công vụ hoặc ép buộc họ phải thực
hiện hành vi trái pháp luật, gây trở ngại cho hoạt động bình thường của cơ quan nhà
nước và tổ chức xã hội.
4.2.2. Về dấu hiệu pháp lí
+ Khách thể:
Khách thể của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người
khác là quyền được tôn trọng và bảo vệ về sức khoẻ. Theo giải thích của tổ chức y
tế thế giới (WHO): Sức khoẻ là “tình trạng thoải mái của con người về thể lực, tinh
thần và xã hội”. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người
khác được hiểu là làm biến đổi tình trạng thoải mái đó theo chiều hướng tiêu cực.
Khách thể của tội chống người thi hành công vụ là trật tự quản lí hành chính Nhà
nước. Có thể phân biệt rõ khách thể của hai tội phạm này. Tuy nhiên có trường hợp
mỗi tội phạm này không chỉ xâm hại đến một quan hệ xã hội với tư cách là
kháchthể trực tiếp của tội phạm mà còn có thể xâm hại đến những quan hệ xã hội
khác. Ví dụ: Bằng hành vi chống người thi hành công vụ, người phạm tội đã gây
thương tích hoặc tổn hại cho sức khoẻ của người thi hành công vụ… Người phạm
tội đã không chỉ xâm hại đến trật tự quả lí hành chính Nhà nước mà còn xâm phạm
đến quyền cơ bản của con người.
+ Mặt khách quan:
Hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích là hành vi có khả năng gây thương
tích hoặc tổn thương khác làm tổn hại đến sức khoẻ của người khác. Người phạm
tội có thể sử dụng dao, súng… Khi xâm phạm đến thân thể của người khác, người


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status