Luận văn thạc sĩ quan niệm về thơ trong thơ tố hữu, xuân diệu, chế lan viên - Pdf 36

Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2

LÊ CÔNG THÀNH

QUAN NIỆM VỀ THƠ TRONG THƠ
TỐ HỮU, XUÂN DIỆU, CHÉ LAN VIÊN

Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60 22 0120

LUẬN VĂN THẠC sĩ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: TS. LÊ TRÀ MY

HÀ NỘI, 2015


Luận văn đã được người viết hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình của TS.
Lê Trà My và các thầy cô giáo Tổ lý luận Văn học khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư
Phạm Hà Nội 2 và sự động viên, tin tưởng của người thân và bạn bè.
Trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến TS. Lê Trà My
người đã trực tiếp chỉ bảo và khích lệ tôi trong suốt quá trình triển khai đề tài. Cho
phép tôi được cảm ơn các thầy cô giáo trong Tổ lý luận Văn học, Khoa ngữ văn
Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội 2 vì những ý kiến quý báu của các thầy cô đã giúp
cho luận văn của tôi được hoàn thiện hơn.
Cuối cùng, xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, người thân và bạn bè,
những người luôn kịp thời động viên, chia sẻ giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn.
Hà Nội, tháng 12 nãm 2015
Tác giả


ta hiểu sâu sắc hơn những tác phẩm cụ thể của các nhà thơ này, đặc biệt là các bài thơ
được lựa chọn ở trường phổ thông.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ.
2.1.

Tố Hữu là lá cờ đầu trong thơ ca cách mạng. Sáng tác của ông trở thành đề
tài thu hút công sức nghiên cứu đông đảo giới phê bình. Trước hết phải nói đến
chuyên luận Thơ Tố Hữu của tác giả Lê Đình Kỵ, xuất bản lần đầu vào năm 1979.
Đây có thể coi là công trình đầu tiên nghiên cứu về thơ Tố Hữu một cách hệ thống,
toàn diện cả về nội dung và nghệ thuật. Tác giả Lê Đình Kỵ nghiên cứu thơ Tố Hữu
qua các tập thơ: Từ ấy (1937-1946), Việt Bắc (1946-1954), Gió lộng (1955-1961), Ra
Trận (1962-1971), Máu và hoa (1972-1977). Tác giả đã khái quát những chủ đề lớn
trong thơ Tố Hữu như: chủ đề về Nhân dân - Đất nước - Đảng - Lãnh tụ. Những đặc
điểm phong cách tư tưởng - nghệ thuật trong sáng tác của nhà thơ lãng mạn cách
mạng - trữ tình cách mạng, phong cách dân tộc đậm đà ...Có thể nói Lê Đình Kỵ, đã
có những đánh giá hết sức khái quát, toàn diện về thơ Tố Hữu. Chuyên luận của ông
rất có ý nghĩa trong đời sống phê bình, nghiên cứu văn học. Tác giả của chuyên luận
buớc đầu tiếp cận thơ Tố Hữu về phuơng diện xã hội học là chủ yếu.


6

Tác giả Hà Minh Đức với công trình giới thiệu, phê bình Tố Hữu Cách mạng và
Thơ (NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2004) tập hợp tất cả các bài viết của tác giả trong
khoảng thời gian gần hai muơi năm. Phần Trò chuyện và ghi chép về thơ có ý nghĩa
nhu một món quà của nhà thơ với bạn đọc mà tác giả Hà Minh Đức là nguời trực tiếp
lắng nghe và ghi chép đầy đủ. Trong công trình này Hà Minh Đức có những khái quát
lớn về đời thơ Tố Hữu. Ông đánh giá Tố Hữu là “một tài năng thơ ca thuộc về nhân
dân và dân tộc’’[ 14, tr.73], nêu bật đuợc sáng tác và thành tựu qua những chặng
đuờng thơ. Trong phần Tiểu luận văn học, tác giả có lời giới thiệu tập thơ Ta với ta của

viết bằng thơ của Chế Lan Viên còn có chùm bài viết của PGS-TS Đoàn Trọng Huy:
Suy nghĩ về quan niệm thơ, quan niệm nghệ thuật của Chế Lan Viên (TC Khoa học
ĐHSPHN số 2 /2002), Đôi điều về quan niệm nghệ thuật của Chế Lan Viên (TC
Nghiên cứu văn hóa nghệ thuật số 3/1993), Chế Lan Viên - Nhà văn hóa (TC Nghiên
cứu văn hóa nghệ thuật số 5/1993), Người một đời nghĩ về nghề, nghĩ về thơ, nghĩ...
(TB Khoa học ĐHSPHN số 2/2002) với những suy nghĩ sâu sắc: ‘‘Quan niệm về thơ
của Chế Lan Viên cần được khảo sát, đối sánh trên hệ thống lớn các quan điểm thơ cổ,
kim, đông,tây nhằm chủ yếu để theo dõi khẳng định sự tiếp biến, phát triển một quan
niệm thơ tiến bộ,giàu cá tính sáng tạo” [30, tr.16]. ‘‘Thơ với ChếLanViên là một niềm
đam mê, nỗi ám ảnh mãnh liệt của một đời. Thơ với Chế Lan Viên không chỉ là một
đối tượng thẩm mĩ mà là còn là một đối tượng để phân tích và suy nghiệm. Ông đặt
thơ trong các hệ thống, các mối qua hệ với sự gắn bó hữu cơ và tương tác” [30, tr.17].
‘‘Trong các nhà thơ Việt Nam hiện đại, anh là người đã tưng viết nhiều nhất, bằng thơ
và cả văn xuôi, về quan niệm thơ, về nghề thơ trong đó có những vấn đề đi sâu vào
phép tắc và kĩ thuật thơ”[29]... Trong chùm bài này, chúng tôi đặc biệt chú ý đến bài
viết ‘‘Chế Lan Viên - Lý luận thơ tỏa sáng bằng hình tượng” (Văn nghệ công an
21/7/2007). Bài viết đưa ra một cái nhìn toàn diện: Từ nội dung: ‘‘Dần dần anh viết
thơ về thơ với tất cả mọi phương diện, với một khối lượng khá nhiều, có thể tập hợp
thành một hệ thống ký luận về thơ bằng thơ”, tới những yêu cầu về hình thức: Viết về
thơ cũng có một yêu cầu của một bài thơ bình thường: Hình tượng đẹp, từ ngữ và hàm
súc và có sức gợi, vần điệu thể hiện ý tưởng tình cảm, và phải có tứ như một bài thơ,
dẫu bài thơ ấy có nhiều câu hay chỉ hai câu. Có thế thơ về thơ mới có giá trị”. Đe cập
và giải quyết trực diện vấn đề phải kể tới tham luận ‘‘Thơ về thơ của Chế Lan Viên”
của Hồng
Diệu (Tạp chí Văn hóa văn nghệ công an số 7, 1999). Qua bài viết này, Hồng Diệu
nhận định thơ về thơ ‘Tà một phần trong sự nghiệp văn chương của anh (ChếLan


8


Theo tác giả Lý Hoài Thu, trong ‘‘Thơ Xuân Diệu trước cách mạng tháng 8-


9

1945”. Trong chuyên luận này tác giả Lý Hoài Thu đã chỉ rõ: ‘‘Xuân Diệu là người có
hệ thống quan niệm tương đối hoàn chỉnh về mục đích vai trò của sáng tạo nghệ thuật,
mặc dầu có lúc ông đã tự mâu thuẫn giữa lời tuyên ngôn với quá trình sáng tác’’[56,
tr.20]. Tác giả còn đưa ra một luận điểm có sức thuyết phục là: Việc khẳng định quan
niệm về sự tồn tại cá nhân, của ‘‘cái tôi” nghệ sĩ đã quyết định và chi phối hệ thống
quan niệm nghệ thuật của chính nhà thơ. Tác giả đã phân tích và lý giải chứng minh
cụ thể không chỉ ở lý luận mà còn trong cả thực tiễn sáng tác. Chẳng hạn khi tác giả
cho rằng: ngoài ‘‘Lời đưa duyên” cho tập ‘‘Thơ thơ” Xuân Diệu còn có hai bài thơ bộc
lộ quan điểm sáng tác của Xuân Diệu. Đó là hai bài ‘‘Cảm xúc”, ‘‘Lời thơ vào tập gửi
hương”.
Những công trình nghiên cứu này phát biểu về thơ qua tiểu luận, phê bình,phát
biểu về thơ được viết trong thơ. Đây là những gợi ý để tôi thực hiện đề tài, nghiên cứu
quan niệm về thơ trong thơ của Tố Hữu, Xuân Diệu, ChếLan Viên. Chọn đề tài quan
niệm về thơ trong thơ của Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Tố Hữu, người viết tiếp tục
hướng đi của các nhà nghiên cứu trước đó với mong muốn thông qua luận văn này
chúng tôi mong muốn có một cái nhìn hệ thống cùng một số ý kiến riêng, đóng góp sự
nghiên cứu chung trên cơ sở học hỏi, kế thừa kết quả lâu nay của giới nghiên cứu.
3. ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM vụ, PHẠM VI NGHIÊN cứu.
Luận văn này tập chung tìm hiểu quan niệm về thơ qua thơ củaT0 Hữu, Xuân
Diệu, Chế Lan Viên. Phần khảo sát là mảng thơ về thơ. Nói một cách chung nhất đó là
những vần thơ Tố Hữu, Xuân Diệu, Chế Lan Viên viết về nghề thơ, nhà thơ, về nghệ
thuật làm thơ... Nó có thể là nằm trong những bài thơ mang chủ đề khác, có khi là
riêng một bài thơ ngắn chỉ một vấn đề của thơ, có khi cả những bài thơ dài với nhiều
vấn đề của thơ được ngắt thành nhiều đoạn nhỏ ...
Văn bản được chúng tôi sử dụng được rút từ các nguồn chính là:Chế Lan Viên

6. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN.
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn chúng tôi được triển khai thành 4
chương lớn:
Chương 1: Nhà thơ và phương thức thể hiện quan niệm về thơ trong thơ Chương
2: Quan niệm về thơ trong thơ Tố Hữu.
Chương 3: Quan niệm về thơ trong thơ Xuân Diệu Chương 4: Quan niệm về
thơ trong thơ Chế Lan Viên


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHÀ THƠ VÀ PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN
1
QUAN NIỆM VỀ THƠ TRONG THƠ
1.1.

Thể loại thơ và hình thức ngôn luận trong thơ

1.1.1.

Đặc trưng thơ.
Thơ là sự thổ lộ tình cảm mãnh liệt đã được ý thức. Đặc trưng nổi bật nhất của

thơ. Vần, nhịp đều cần cho thơ nhưng chưa phải bản chất của thơ. Trong mỹ học,
Hêgel viết “Đối tượng thơ không phải là mặt trời, núi non phong cảnh, cũng không
phải là hình dáng và các biểu hiện bên ngoài của con người, máu thịt, thần kinh....Đối
tượng thơ là hứng thú tinh thần”. “Nhiệm vụ chính của thơ là gợi lên cho ý thức nhận
thấy sức mạnh của cuộc sống tinh thần và tất cả những gì lay động ta, làm xúc cảm
trong các duy vọng và tình cảm nhân tính”.[45, tr.256]. Thơ là biểu hiện các xúc cảm
nội tâm, những tình cảm, cảm nhận con người trước sự việc. Nhà thơ
ChiLêPaloNerudu cũng nói: “Làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt”. Tình cảm là sinh

mặt riêng của mỗi con người. Thơ gắn liền với ý niệm về cái tôi thi nhân của nhà thơ
là điều hiển nhiên. Đối với các nhà thơ lãng mạn thì cái tôi là một nguyên tắc cơ bản
của thơ. Nhà thơ nào cũng đặt nhiệm vụ đi tìm biểu hiện cái tôi: “Tôi làm con nai
chiều bị đánh lưới”, “Tôi là một cô hồn”, “Tôi là một chiếc thuyền say”, “Tôi là khách
bộ hành phiêu lãng”, “Tôi là kẻ lạc loài”...Cái tôi là yếu tố tất yếu để chiếm lĩnh đời
sống, nhưng không có nghĩa rằng cái tôi chính là nội dung của thơ. Nội dung của thơ
phải mang ý nghĩa nhân loại. Thơ cần tình cảm, nhưng tình cảm trong thơ không phải
là tình cảm cá nhân, mà là tình cảm xã hội, nhân loại, nhưng cá nhân tạo nên ác tính
cho tình cảm ấy. Cái tôi trong thơ là một vũ trụ riêng, khác với cái tôi thực tại của nhà
thơ. Cái tôi này là trong tâm giá trị thẩm mĩ, là cái tôi thứ hai của nhà thơ.
Điều đặc biệt trong nội dung thơ là chất của thơ. Người xưa thường nói chất thơ
nằm ở ngoài (ý tại ngôn ngoại). Thơ không nói ở những điều nó viết ra, mà nói ở
những chỗ trống không viết ra, ở chỗ trống, chữ im lặng giữa các câu chữ, các lời. Cái
ý nghĩa có tình thơ là nghĩa ngoài lời, ngoài hình ảnh, do chính lời và hình ảnh gợi lên.
Nhà mĩ học Pháp là Jacques Maritain có viết: “Cái giá trị ý niệm hàng đầu, cơ bản
nhất của thơ là cái ý nghĩa mang tính thơ. Bởi vì ý nghĩa mang tính thơ gần gũi nhất
với cội nguồn sáng tạo một thứ ý nghĩa trong bầu trời đêm của trực giác khi khái niệm
biểu thị trực tiếp và ý thức chủ quan của nhà thơ” [48, tr.265].


Thơ biểu hiện bằng biểu tượng, mang các ý tượng, hình ảnh ngụ ý. Hegel nói:
“Thơ cũng như nhạc đều xây dựng trên nguyên tắc dùng nội cảm để tri giác nội cảm”,
1 kiến trúc, trong điêu
Trần Đình Sử nhấn mạnh “tức là một nguyên tắc không có trong
khắc và trong hội họa. Hơn thế nữa, thơ còn mở rộng đến mức độ dùng các biểu
tượng, các trực giác và các tình cảm bên trong đặng dựng lên một thế giới quan”[45,
tr.266]. Có thể nói thơ là nghệ thuật của biểu tượng, là cái làm nên giá trị họa của thơ:
Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông chăng đó

Nắng soi ngõ vắng
Thềm cũ ra đi lá rụng đầy
(Sáng mắt trong như sáng năm xưa)

Ngôn từ thơ không có tính liên tục và tính phân tích như ngôn từ văn xuôi,
ngược lại nó có tính nhảy vọt, gián đoạn, tạo thành những khoảng lặng giàu ý nghĩa:


Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn
Trơ cái hồng nhan với nước non Chén
rượu hương đưa say lại tỉnh Vừng

1

trăng bóng xế khuyết chưa tròn Xiên
ngang mặt đất rêu từng đám Đâm toạc
chân mây đá mấy hòn
(Tự Tình II - Hồ Xuân Hương)
Ngôn từ thơ không phải là ngôn từ tuyến tính mà là ngôn từ phức hợp:
Trăng nhập vào giây cung nguyệt lạnh,
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần
Đàn buồn, đàn lạnh, ôi đàn chậm!
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân.
(Nguyệt Cầm - Xuân Diệu)
Ngôn từ thơ giàu nhạc tính với những âm thanh luyến thanh, những từ ngữ
trùng điệp, sử dụng các biện pháp tư từ: ẩn dụ, nhân hóa, so sánh.............sự phối hợp
bằng trắc với những cách ngắt nhịp có giá trị gợi cảm:
Câu thơ hiền như nước Xanh như

Lác đác mây chiều ngơ ngác trôi

một bóng chiều ôm ấp một trái đủ gợi trăm truyện trong cõi sống bên trong. Tâm hồn
người có biết bao nhiêu là truyện ... Truyện chỉ là đời, mà đời phải nhường chỗ cho
mơ, cái bên ngoài lùi lại sau nội tâm, sau nỗi lòng”.
Truyện ngắn “Đời Thừa” nhà văn Nam Cao đã thông qua nhân vật Hộ, nhà văn
giàu khát vọng nhưng đồng thời cũng là một tuyên ngôn nghệ thuật. Qua nhân vật Hộ,
Nam Cao đã gửi gắm những suy tư về những quan niệm sâu sắc của mình về nghề viết
văn và sứ mạng của người cầm bút, ông viết “Văn chương không cần những người thợ
khéo tay làm, theo một vài kiểu khuôn mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp được
những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo
những gì chưa ai có”.
Ở mảng văn xuôi Xuân Diệu cũng có tác phẩm “Chú lái khờ” để bộc lộ quan
niệm về nghệ sĩ “Thi sĩ ghé vào dân gian trọ một vài đêm, tìm đôi an ủi ...Và họ lấy
chưa vừa ủ, thì người thi sĩ trẻ tự tay lấy vào cái lõi sống còn của mình, để mà phân
phát”.


Chế Lan Viên cũng có một tập bút ký văn chương - triết luận như để hoàn
thành chân dung của nhà thơ đó là tập văn “Vàng sao”. Tập văn vừa chứa đựng những
1
kí thác, kỳ vọng của người thi sĩ trẻ mới bước vào địa hạt văn chương: “Trong ba chữ
tên rõ ràng cái nợ hồ của cả một đời kết đọng. Ta ngỡ đấy là một viên ngọc rạng ngời
và nó chói ngời lên cho đến hư vô” vừa thể hiện mong muốn xây dựng cá tính riêng,
tạo lập một cõi riêng trong văn giới: “Một kiếp sống phụng khai thần bút. Thế là cuộc
đời mở cửa, bao nhiêu sức mạnh trong sáng ùa ra, ruộng đất khởi sự cày bừa, sông
suối bắt đầu tuôn chảy”. Tập văn này “xuyên qua sự phức tạp và đầy tính trừu tượng
của ngôn ngữ tùy bút - triết lý, đây đó sáng lên những ý tưởng sâu sắc và độc đáo của
người thi sĩ trẻ nhất thơ mới. Lệ, Chiều tư tưởng, Trốn lửa, Đêm giao thừa, Tuổi vàng,
Khai bút ...mỗi bài là một mảng tâm tưởng, một lời tự thú, là những dằn vặt muôn đời
của người nghệ sĩ nhạy cảm hơn ai hết trong việc đi tìm lẽ tồn tại của con người”. [1,
tr.40]

người”.
Ngoài tự sự, kí, văn xuôi ...thì trong kịch thì nhà văn xây dựng bi kịch để thể
quan niệm của mình như trong vở kịch “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đà” của Nguyễn Huy
Tưởng đã xây dựng hình tượng Vũ Như Tô một người nghệ sĩ có tài, một kiến trúc sư
tài hoa nhưng rơi vào bi kịch xuất phát từ nhận thức và hành động mù quáng, lầm lạc
không hiểu được hoàn cảnh cụ thể. Khát vọng nghệ thuật của Vũ Như Tô lớn lao
nhưng tách khỏi hiện thực cuộc sống, đi ngược lại quyền lợi thiết thực và trước hết
của nhân dân. Do đó, người nghệ sĩ phải trong lòng cuộc sống, trên lập trường của
nhân dân. Tác phẩm nghệ thuật không thể chỉ mang cái đẹp thuần túy, nó phải có mục
đích chân chính là phục vụ nhân dân, phục vụ cuộc đời. “Văn chương không chỉ là
văn chương mà thực chất là cuộc đời là nơi xuất phát và là nơi đi tới của văn chương”.
Thơ có lẽ là một trong những lĩnh vực nghệ thuật hấp dẫn vừa mời gọi những
đào sâu tìm tòi lại như cách thức cần phải vượt qua. Quan niệm về thơ xưa nay xuất
hiện nhiều với những hình thức đặc biệt phong phú. Song thơ lại là lĩnh vực mơ hồ,
khó nắm bắt, đôi khi chỉ có thể cảm nhận về nó mà không sao diễn đạt được. Đây
chính là hình thức nhưng đồng thời cũng lại là sức hấp dẫn riêng của thơ. Ở khía cạnh


này, quan niệm về thơ được biểu hiện bằng thơ chính là cách nhìn, một tiếng nói riêng
độc đáo. Thơ ở dạng ý tưởng trìu tượng mà được diễn đạt bằng hình thức thơ dưới các
1
hình thức như dùng hình ảnh, biểu tượng, dùng các biện pháp nghệ thuật tu từ, tứ thơ
hay nhạc tính để diễn đạt ý thơ.
Trong bài thơ “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên trùng điệp các hình ảnh
biểu tượng trong đó nổi bật nhất là biểu tượng con tàu và biểu tượng Tây Bắc: Đất
nước mêng mông đời anh nhỏ hẹp Tàu gọi anh đi sao chửa ra đi Chẳng có thơ đâu
giữa lòng đói khép Tâm hồn anh chờ gặp anh trên kia.
Hay:
Ôi chim én bay không chim én Đến
những đảo xa đến những đảo mờ ở đâu

Viết đi, chữ không còn là chữ Viết chỉ
như ý nghĩ Lách qua khe cửa hẹp trong
đầu Vội vã ùa về với lẻ sầu Âm u lòng
mẹ
Khao khát được ngủ yên như thế
Không phải ra đời
Viết nỗi sống buồn của tôi

Hoàng Tố Nguyên đã dùng biện pháp nghệ thuật so sánh để ví thơ của mình
như chiếc hôn dầu:
Thơ tôi như chiếc hôn dầu Gò
Công yêu dấu, đâu nào má em?
(Gò Me - Hoàng Tổ Nguyên)
Hay:
Câu thơ hiền như nước Xanh như lá
Lác đắc mây chiều ngơ ngác trôi
(Ngoảnh lại - Lâm Thị Mỹ Dạ)
Trần Quang Long - một cây bút sinh viên Sài Gòn cũng sử dụng biện pháp nghệ
thuật tu từ so sánh để nói lên nhận thức của mình, đồng thời cũng là lớp lớp tuổi trẻ
miền Nam trong trách nhiệm với non sông Lạc Hồng:
Con sẽ vuốt nhọn thơ thành chông
Xuyên vào gan lũ giặc
Con sẽ mài thơ như kiếm sắc


Con xin nguyện trọn đời Dùng chính
quả tim làm trái phá Sống chết một
2

lần thôi

2
thơ trong sáng vang lên nhạc điệu khác thuờng”. [27, tr.243]. Nhóm Xuân Thu nhã
tập, Đinh Hùng và nhóm Dạ Đài cũng rất chú ý đến nhạc điệu trong thơ. Các nhà thơ
tuợng trung cho rằng, để thế giới tiên nghiệm cần phải đem tinh thần âm nhạc vào thơ
ca. Câu thơ phải có nhạc điệu và âm huởng để đi sâu vào trực giác con nguời. Nhà thơ
Bích Khê xem nhạc là yếu tố hàng đầu, đem lại sự linh diệu cho thơ. Theo Bích Khê,
thơ phải gắn với nhạc:
Đàn và thơ kết thành dây tinh huyết Có
nguồn thơ trào vọt miếng phong trần
Cho ta xin ý điệu của tình cảm Là giãi
hết bí huyền nuơng bóng tối
(Ẩn mày, Tinh huyết)
Thơ và âm nhạc có sự kết hợp mật thiết với nhau đến mức Bích Khê gọi thứ thơ
là “đàn thơ”:
Đây đàn thơ ai sáng kiến cho ra?
Đây đàn từ điệu, sắp ngân nga Cho vàng
ngọc của hông va sảng sốt
(Cô gái ngây thơ, Tinh huyết)
Đây đàn thơ rất xốn sang Là đôi mắt
biếc của mơ màng
Mùa thu lướt mướt trong làn sóng
Run rẩy căm hờn nức nở than
(Châu, Tinh huyết)
Lưu Trọng Lư nhấn mạnh yếu tố âm điệu. Trong bức thư thứ nhất gửi lên Khê
Thượng cho Tản Đà tiên sinh, Lưu Trọng Lư viết: “....Cái điệu thơ có quan hệ đến bài
thơ. Sống trong cuộc đời mới mẻ, lòng thấy và cái tình cảm khác muốn diễn tả cho
hết, không thể không tìm đến những cái điệu rộng rãi, mềm mại hơn” [67, tr.185].


“Cái điệu rộng rãi, mềm mại hơn” mà thi nhân nói ở đây chính là nhạc điệu. Thơ là

hậu,chí mà ở sự nghệp thì tất là nhả ra khí phách hào hùng, chí ở rừng suối, gò hang
thì thích giọng thơ liêu tịch, chí ở gió mây trăng tuyết thì thì thích vẻ thanh cao, chí ở
nỗi uất úc thì làm ra lời thơ ưu tư, chí ở niềm cảm thương thì ra điệu thơ ai oán”.
Lê Qúy Đôn còn coi thơ: “Thơ ca là việc làm khi nhàn rỗi của các bậc thánh


nhân”.Đồng thời ông bàn thêm về quá trình sáng tạo thơ.Trong “Lời đề tựa” của “Tân
Việt thi lục” ông viết: “ý thú tiên lập,từ tòng điêu chí” tức là:ý tứ lập trước còn từ điệu
2
theo sau. Ngôn ngữ thơ phải phục tùng ý đồ tư tưởng và quan niệm của tác giả.
Nguyễn Văn Siêu cũng đã từng quan niệm đúng đắn, và đầy sức thuyết phục về
chức năng và của văn học: “Văn chương có loại đáng thờ, có loại không đáng thờ.
Loại đáng thờ là loại chuyên chú ở văn chương”.
Trong thơ ca trung đại, “tư duy thơ không được quan niệm như là sự phát triển
tự do của trí tưởng tượng phóng túng, tài hoa mà là sự học tập theo khuôn phép cổ
nhân” [51, tr.39]. Cho nên một trong những đặc điểm cơ bản của thơ ca trung đại là
mang tính ước lệ, tượng trưng với dày đặc các điển tích, điển cố. Lê Qúy Đôn viết:
“Nếu muốn học làm thơ, tất phải theo cổ nhân từng bước, lấy đáy làm khuôn mẫu, ra
công mài giũa lâu ngày, tự nhiên phép luật và âm vận hợp thơ cổ” [51, tr.39].
Với quan niệm‘‘sùng cổ” lấy cổ nhân làm khuôn vàng thước ngọc cho nên thơ bị
trói buộc bởi nguyên tắc, quy chuẩn hà khắc. Nhà thơ khi sáng tác phải hết sức giữ gìn
thận trọng trong dùng chữ, đặt câu, luyện ý. Lê Hữu Kiều viết: “Này, làm thơ, nên lập
ý không linh hoạt thì mắc vào việc phù phiếm, luyện cách điệu không trang nhã thì
mắc vào bệnh quê mùa, đặt câu không sắc sảo thì mắc vào bệnh thô lỗ, kém cỏi, dùng
chữ không âm hưởng thì mắc vào bệnh tầm thường, tục tằn”. Mang ý nghĩa tiến bộ,
quan niệm “Thi dĩ ngôn chí” coi thơ cũng là sản phẩm tinh thần gắn liền với chue thể
sáng tạo. Bởi thế, thơ đôi khi là sự phản ánh trực tiếp những tình cảm, tâm trạng cá
nhân ở từng thời điểm nhất định. Các bài thơ “Cảm tác”, ‘‘Ngôn hoài ”, “Tức cảnh” là
một minh chứng cho thực tế trên. Nhưng nhìn chung, người xưa vẫn quan niệm thơ là
một công cụ để gióa huấn đạo đức, gũi gìn phong hóa, kỉ cương,tôn trọng trật tự xã

1.2,2,

Một số quan niệm về thơ thời hiện đại.
Đây là thời kỳ văn học chỉ diễn ra chưa đầy nửa thế kỷ nhưng có một vị trí hết

sức quan trọng trong tiền trình phát triển của lịch sử văn học Việt Nam. Với đặc điểm
của nền văn học đag được hiện đại hoá mạnh mẽ, phát triển với một nhịp độ đặc biệt
đạt được nhiều thành tựu rực rỡ và có sự phân hóa phức tạp nhiều khu vực và trào lưu,
quan niệm văn học thế kỷ XX đã có những chuyển biến một cách rõ rệt. Khi nói văn


học hiện đại hóa là nói văn học thoát ra khỏi hệ thống thi pháp của văn học cổ phong
kiến. Nói chung, quan niệm thẩm mỹ thời phong kiến, lấy chuẩn mực cái đẹp trong
2
thiên nhiên và chân lý quá khứ, ý thức cá nhân có điều kiện phát triển, cá tính không
được coi trọng, cái “tôi” bị xem thường. Người làm thơ phải tuân thủ theo cả hệ thống
ước lệ chung của cả cộng đồng, của những “tao nhân mặc khách”. Do vậy tính chất
uyên bác và cách điệu hóa, tính sung cổ và phi ngã đã chi phối quan niệm về thơ văn
trong sáng tác.
Bước sang đầu thế kỷ XX-1945, cùng với những hình ảnh to lớn của mưa Âu,
gió Á. Giờ đây đội ngũ sáng tác văn học không phải chỉ là những nhà nho uyên thâm
Hán mà chủ yếu là lớp tâng lớp tri thức Tây học tử tư sản ở các đô thị.Công chúng văn
học cũng thay đổi, chữ Quốc ngữ và kỹ thuật in ấn ra đời ...đã làm nên những thay đổi
sâu sắc và to lớn đời sống văn học. Phan Bội Châu cũng như các sĩ phu yêu nước đã
đưa đến cho lịch sử văn học dân tộc một kiểu mẫu về quan niệm văn chương. Văn
chương không đẻ lập thân mà là đẻ truyền quan điểm chính trị. Với Huỳnh Thúc
Kháng thì “đối với ông không có cái văn chương nào hơn cái văn chương làm cho dân
khôn và nước mạnh.Khách đa tình thì thiên lệch về tình. Nhà thi sĩ thì thiên lệch về
nước”. [49, tr.4].
Theo Lưu Trọng Lư, sự khác nhau về đời sống tinh thần, về quan điểm thẩm mỹ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status