Nhận xét đặc điểm lâm sàng, nội soi, mô bệnh học và kết quả điều trị ung thư bàng quang nông tại bệnh viện bạch mai - Pdf 37

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư bàng quang là bệnh lý khá phổ biến trong ung thư đường tiết
niệu nói riêng cũng như các bệnh ung thư nói chung và chiếm 6-9% các ung
thư thường gặp trên nam giới và 2-3 % các ung thư gặp ở nữ giới. Trên thế
giới, bệnh đứng hàng thứ 2 trong các bệnh ung thư đường Tiêt niệu với tỷ lệ
mới mắc là 10,1/ 100000 cho nam và 2,5/ 100000 cho nữ giới [1]. Một thống
kê tại Hoa Kỳ năm 2003 cho thấy trong năm này có 57 000 trường hợp u bàng
quang mới được phát hiện, trong đó 74% là nam và 26% là nữ [2].
Đến năm 2005, số trường hợp mới tăng lên: hơn 63 000. Còn tại Châu
Âu, số trường hợp mới là hơn 104 000 [3],[4]. Thực tế tại VN cho thấy u bàng
quang vẫn đứng hàng đầu danh sách các loại bướu ác tính thường gặp ở
những bệnh nhân cần nhập viện của các khoa niệu. Tại Bệnh viện Việt Đức,
trong 15 năm 1982-1996 chỉ có 436 trường hợp vào điều trị, nhưng trong
vòng 3 năm 2000-2003 đã có 427 trường hợp, trong đó 51,75% là u tái phát,
48,25% là u mới phát hiện. Bốn năm gần đây, từ 2003-2006 đã có 759 trường
hợp được điều trị, trong đó 58,8% được nội soi cắt u qua đường niệu đạo
(TUR) và 41,2% mổ mở do u to hay xâm lấn, di căn.
Hút thuốc lá, hóa chất công nghiệp, thuốc giảm đau, hóa chất điều trị
ung thư... những yếu tố kích thích mạn tính niêm mạc bàng quang được cho là
các yếu tố nguy cơ gây ra ung thư bàng quang. Tiểu máu đại thể, tái đi tái lại là
triệu chứng gợi ý. Nguyễn Kỳ (1991) báo cáo triệu chứng đái máu chiếm 90% lý
do vào viện của bệnh nhân UTBQN. Theo Pranab Dey (2004) phát hiện sớm
UTBQ tốt nhất là từ khi có dấu hiệu đái máu vi thể, tới khi có triệu chứng đái
máu toàn bãi thì đã muộn. Simon M.A (2003) cho rằng tuy đái máu là dấu hiệu
điển hình và khá đặc hiệu, nhưng việc xác định đái máu do UTBQ còn phải dựa
vào nhiều tiêu chuẩn khác như chụp hệ tiết niệu, siêu âm, soi bàng quang.
Theo hiệp hội Quốc tế chống ung thư (UICC), UTBQN là loại mà
thương tổn còn giới hạn ở lớp niêm mạc hoặc lớp dưới niêm mạc chưa xâm
lấn lớp cơ, gồm các giai đoạn Ta, Tis, và T1 [5],[6]


2.

quang nông.
Nhận xét kết quả bước đầu điều trị ung thư bang quang nông bằng
phẫu thuật nội soi kết hợp với bơm Mytomycin C vào bàng quang.


3

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Giải phẫu và liên quan
1.1.1. Giải phẫu bàng quang
Bàng quang là một túi đựng nước tiểu bài tiết từ thận theo hai niệu quản
xuống trước khi được bài xuất ra ngoài, có dung tích bình thường từ 250- 350
ml. Nó nằm trong chậu hông bé ngoài phúc mạc tiếp nối với thận bằng 2 niệu
quản đổ vào mặt sau dưới BQ cách nhau 2- 3cm. Lỗ niệu đạo ở dưới cùng với
2 lỗ niệu quản tạo thành tam giác cổ BQ (vùng trigone). BQ có 4 thành: thành
trên là vòm BQ, thành trước, thành sau dưới và 2 thành bên [10].
Về mặt cấu tạo BQ chia làm 3 lớp:
-

Lớp ngoài cùng là lớp tổ chức liên kết ( Tunica adventila).
Lớp giữa là lớp cơ ( Tunica muscularis) có lớp cơ dọc ở ngoài, cơ vòng ở giữa
và lớp cơ rối ở trong: nửa trong của lớp cơ còn được gọi là lớp cơ nông, nửa
ngoài là lớp cơ sâu. Lớp cơ là mốc rất quan trọng để phân chia giai đoạn

-


-

mu (trước bàng quang).
Mặt sau: còn gọi là đáy bàng quang, phúc mạc che phủ phần trên của mặt này.
Ở nam phúc mạc từ mặt này lật lên liên tiếp với phúc mạc của trực tràng thành
túi cùng bàng quang- trực tràng, phần dưới của bàng quang liên quan với bóng
ống dẫn tinh, túi tinh, niệu quản và trực tràng. Ở nữ phúc mạc từ đáy bàng
quang lật lại để liên tiếp với phúc mạc tử cung tạo thành túi cùng bàng quang-

-

tử cung. Mặt sau liên quan với thành trước âm đạo và cổ tử cung.
Đỉnh bàng quang: là nơi mặt trên gặp hai mặt dưới bên, có dây chằng rốn giữa

-

( ống niệu rốn) treo bàng quang vào rốn.
Cổ bàng quang: là vùng bao quanh góc hợp bởi đáy và hai mặt dưới bên, tại

-

đây có lỗ niệu đạo trong.
Bàng quang vơi: nấp sau gò mu, hình tam giác dẹt, mặt sau lõm lên trên và ra

-

sau, khi thăm khám lâm sàng không sờ thấy cầu bàng quang.
Bàng quang đầy: có hình quả trứng, vượt lên trên gò mu khoảng 3-4 cm, khi




-

trong.
Thần kinh:
Thần kinh chi phối bàng quang là các nhánh của đám rối bàng quang tách ra
từ đám rối hạ vị đưới và các thần kinh tạng chậu hông, chi phối vận động cho
cơ bàng quang và cảm giác của bàng quang. Đi đái là một động tác vừa làm
theo ý muốn vừa làm theo phản xạ, do bàng quang bị chi phối bởi hai hệ thần
kinh: hệ thần kinh trung ương và hệ thần kinh thực vật.
. Hệ thần kinh trung ương: ảnh hưởng tới động tác đái qua hai cơ quan là
bàng quang và cơ thắt vân.
. Hệ thần kinh thực vật: Dây hạ vị (thần kinh giao cảm), dây chậu ( thần
kinh phó giao cảm) ảnh hưởng tới động tác đái qua hai cơ quan là bàng quang



-

và cơ thắt trơn.
Sinh lý bàng quang:
Hoạt động của bàng quang có bốn tính chất: cảm giác, đàn hồi, trương lực và
co bóp.
Nhận cảm giác:
. Bàng quang có cảm giác nội cảm thụ đầy căng, khi thể tích nước tiểu
lên tới 400ml, và chính cảm giác này làm trỗi dậy phản xạ muốn đi tiểu.
+ Bàng quang có cảm giác ngoại cảm thụ đau và buốt khi niêm mạc
bàng quang bị viêm. Cảm giác đau này tăng lên khi đi tiểu xong, do mặt trước
và mặt sau bàng quang bị cọ xát vào nhau.
+ Đàn hồi: Nhờ tính chất này, mặc dù bàng quang bị căng phồng khi quá

bàng quang. Áp lực bàng quang rỗng là 0 cm H2O, khi nước tiểu có dung
lượng 100ml thì áp lực bàng quang vào khoảng 10cm H2O và sẽ dừng ở đó

-

cho tới dung lượng nước tiểu 300- 400ml.
Khi đi tiểu: bàng quang sẽ co bóp mạnh và áp lực vọt lên cao 80cm H2O, lúc
này hai miệng niệu quản khép lại, cổ bàng quang mở rộng, nước tiểu thoát ra
ngoài cho tới hết, không còn một giọt nào và áp lực bàng quang lại trở về 0
cm H2O như lúc đầu.
1.1.2. Dịch tễ học và nguyên nhân:
1.1.2.1. Dịch tễ học:


-

Trên thế giới:
Ung thư bàng quang là loại ung thư hay gặp ở hệ tiết niệu, xếp hàng thứ 2 sau
ung thư tuyến tiền liệt. Ở các nước phát triển ung thư bàng quang chiếm tỷ lệ
khá cao. Tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tử vong do bệnh khác nhau tùy từng quốc gia
và nguồn gốc chủng tộc [12]. Theo số liệu của viện ung thư quốc gia Mỹ,
người da trắng chiếm tỷ lệ 17,7/ 100000, da đen 9,2/ 100000, người châu Á
7,5/ 100000 dân. Trong đó nam giới có tỷ lệ là 28,2/ 100000, nữ giới là 7,5/
100000. Tổ chức y tế thế giới ( WHO) công bố năm 2000 có 132.432 người
chết do ung thư bàng quang trên toàn cầu, chiếm tỷ lệ 3,2/ 100000, riêng ở



Mỹ có 12500 người [13],
Việt Nam

-

mãn tính do sán (Bilhariose) gây nên bệnh UTBQ [19].
Mặc dù nông nhưng các ung thư này diễn biến rất phức tạp và đa dạng: ung
thư tại chỗ (Tis) có xu hướng xâm lấn rõ rệt nếu không được điều trị triệt để
ngay từ đầu. Ung thư giai đoạn Ta, T1 với độ biệt hóa G2, G3 thường hay tái
phát và xâm lấn để di căn xa cũng nguy hiểm như ung thư xâm lấn cơ. Do vậy
nguy cơ cắt BQ hay tử vong do di căn xa dễ xảy ra với các loại ung thư này

-

[21].
Về nguyên nhân bệnh sinh, người ta chưa chắc chắn một nguyên nhân cụ thể
nào, nhưng bệnh thường liên quan tới một số yếu tố như: thuốc lá, hóa chất
( Benzen, xenylamine, thuốc nhuộm tóc), những người đang điều trị với các
chất chống ung thư khác (Clonaphazine, Cyclophosphamide…), xạ trị vùng


8

tiểu khung và tình trạng viêm bàng quang mạn tính( do sỏi, do sán, đặt sonde
BQ …) [23].
1.1.3.1. Đại thể:
-

Ung thư biểu mô chuyển tiếp thể nhú: là những u nhú được tạo bởi nhiều nếp
nhú trong những múi thùy, thanh mảnh và hợp nhất lại ( hình dáng của các
nếp gấp niêm mạc). Khối u có màu hồng nhạt, mật độ mềm, mủn và rất dễ
chảy máu khi va chạm. Vì vậy khi soi bàng quang hoặc sinh thiết cần tránh



-

thương của bàng quang gồm:
Ung thư tế bào chuyển tiếp: chiếm trên 90% ung thư bàng quang, biểu hiện
bằng tăng số lớp tế bào biểu mô, có sự rối loạn trật tự sáp xếp các tế bào và


9

mất tính phân cực. Tùy từng giai đoạn mà sự rối loạn về mặt cấu trúc và hình
thái tế bào học từ màng đáy tới lớp bề mặt ở mức độ khác nhau. Đặc trưng
của các tế bào ung thử loại này là : tế bào lớn, nhiều nhân, tỷ lệ nhân trên bào
tương tăng bắt màu đậm, nhiễm sắc thể kết thành khối và tăng hiện tượng
-

phân bào.
Ung thư biểu mô tuyến: khác với ung thư biểu mô tuyến đương tiêu hóa, đây
là ung thư thể tạo keo, thể tế bào hình nhẫn và phần lớn chế tiết ra chất nhày.

-

Thể này thường biệt hóa kém và có nguy cơ phát triển xâm lấn rất cao.
Ung thư tế bào vảy: đặc trưng của ng thư tế bào vảy là có các tế bào hóa sừng,
các tế bào này tập hợp thành những hình đồng tâm giống như vảy ngọc trai.
Ung thư tế bào vảy thường có sự biệt hóa tốt, rất hiếm khi di căn vùng hoặc di
căn xa.
1.1.3.3. Sự phát triển của ung thư bàng quang:

-

cuối bãi. Đau có cảm giác nóng rát, khó chịu, bệnh nhân đứng ngồi không
yên, lo lắng bồn chồn.
+ Đái rắt: là đái nhiều lần trong ngày, đái xong lại mót đi ngay, mỗi lần
-

nước tiểu rất ít, thậm chí chỉ vài ml, vài giọt hoặc chẳng được giọt nước tiểu nào.
Đau vùng tiểu khung: đau sau khớp vệ và luôn có cảm giác mót tiểu hoặc tiểu
không tự kiềm chế.
Có triệu chứng tắc nghẽn đường tiết niệu.
Trước một bệnh nhân có nghi ngờ ung thư bàng quang người thầy thuốc
cần phải khám một cách tỉ mỉ về tiền sử bệnh diễn biến bệnh và đáng chú ý là




tiền sử liên quan tới hút thuốc lá, nghề nghiệp, u đường tiết niệu trên.
Toàn thân:
Gầy sút, sốt, thiếu máu, da xanh, niêm mạc nhợt
Thực thể:
Sờ thấy u vùng dưới rốn, thấy hạch bẹn hoặc khối u chèn ép, xâm lấn lỗ
niệu quản gây thận to (giai đoạn muộn).
1.2.2. Cận lâm sàng:


-

Nội soi và sinh thiết:
Một vài nét lịch sử về máy nội soi bàng quang:
+ Máy nội soi đầu tiên do Bozzini ở Frankfurt chế tạo ra vào năm 1804
để soi niệu đạo.

Nội soi bàng quang bình thường có thể phân tích thành 6 phần:
+ Đỉnh bàng quang ( chop bàng quang)
+ Mặt bên phải và bên trái bàng quang
+ Mặt trước bàng quang
+ Mặt sau bàng quang (đáy bàng quang)
+ Tam giác Trigone
+ Cổ bàng quang

-

Niêm mạc bàng quang bình thường: niêm mạc phủ lên toàn bộ mặt trong bàng
quang, nhưng màu sắc, sự phân bố huyết mạch không đồng nhất. Niêm mạc
bàng quang có màu hồng nhạt ở đỉnh, ở mặt trước và hai mặt bên. Đáy bàng
quang, nhất là tam giác Trigone và xung quanh miệng niệu quản có nhiều
mạch máu hơn ở các vùng khác nên có màu hồng đỏ. Niêm mạc cổ bàng

-

quang cũng có màu đỏ.
Tam giác bàng quang (Trigone)
Thường được phân định khá rõ rang bởi hai miệng niệu quản và cổ bàng
quang. Đỉnh ở dưới tương ứng với cổ bàng quang, đáy là hai miệng niệu quản


12

và giải liên niệu quản, giải liên niệu quản ít mạch máu và hơi gồ kên một chút
-

thương dung làm mốc để tìm thấy lỗ niệu quản.

khối u đặc sùi như hình súp lơ, àu trắng ngà, trên bề mặt khối u có thể thấy tổ
chức mủn hoặc lắng đọng canxi gần giống như sỏi. Khi soi có thể bấm sinh



thiết để chẩn đoán mô bệnh học, mức độ biệt hóa và giai đoạn khối u.
Siêu âm:
Đánh giá vị trí, kích thước và mức độ xâm lấn tương đối của u tại thành
bàng quang hoặc ra ngoài. Có thể siêu âm bụng hoặc siêu âm nội soi để phát


13

hiện u. Tuy nhiên, siêu âm không phải lúc nào cũng nhìn thấy được u đặc biệt



trong trường hợp có máu cục hay u có kích thước nhỏ.
Chụp UIV:
Đánh giá tình trạng bàng quang, chức năng thận, niệu quản.
Chụp CT hoặc MRI:
Xác định u, kích thước u và đánh giá mức độ xâm lấn của u tại thành
bàng quang hoặc xâm lấn di căn ra ngoài. Tuy vậy các kỹ thuật này không
phải là phù hợp nhất để chẩn đoán ung thư bàng quang nông mà có giá trị hơn




trong ung thư bàng quang xâm lấn.
Xét nghiệm tế bào học nước tiểu:


-

Ta: Ung thư biểu mô nhú không xâm lấn
Tis: Ung thư tại chỗ dạng phẳng
T1: U xâm lấn lớp dưới niêm mạc
T2 : U xâm lấn lớp cơ
T2a : U xâm lấn cơ nông ( nửa trong)
T2b : U xâm lấn lớp cơ sâu ( nửa ngoài)
T3 : U xâm lấn tổ chức xung quanh
T3a : Xâm lấn vi thể
T3b : Xâm lấn đại thể (có u ngoài bàng quang nhìn thấy bằng mắt thường)
T4: U xâm lấn bất kỳ cơ quan sau: tuyến tiền liệt, tử cung, âm đạo, thành


-

chậu, thành bụng.
Hạch vùng ( N):
Nx: Hạch vùng không đánh giá được
No: Không có di căn hạch vùng
N1: Di căn một hạch vùng, kích thước hạch < 2cm
N2 : Di căn một hạch kích thước > 2 cm, nhưng < 5cm. Hoặc di căn nhiều


-

hạch, kích thước < 2cm.
N3: Di căn một hay nhiều hạch, kích thước > 5cm.
Di căn xa (M):


15

ung thư bàng quang xâm lấn, cắt bàng quang kết hợp với hóa chất toàn thân
hay xạ trị là cần thiết.


Điều trị ung thư bàng quang nông:

Ung thư bàng quang nông gồm các giai đoạn Ta, T1, Tis và được chia
-

thành 3 nhóm theo nguy cơ phát triển xâm lấn.
Nhóm nguy cơ thấp: u đơn độc, có cuống, nhỏ hơn 3cm, và TaG1.
Nhóm nguy cơ cao: Ta nhiều u hoặc Ta tái phát, T1, TisG3.
Nhóm nguy cơ trung bình: gồm tất cả các u khác như u lớn hơn 3cm không
cuống, TaG2, Ta tái phát sớm trong vòng 2 năm đầu.
Điều trị ung thư bàng quang nông phải đạt được 3 mục đích là: loại bỏ
được sự hiện diện của bệnh, dự phòng u tái phát và phòng u phát triển xâm
lấn.
Điều trị phẫu thuật:
Cắt u qua nội soi có thể cắt bỏ hết các khối u ( một ổ hay nhiều ổ ung
thư), loại bỏ hoàn toàn sự hiện diện của bệnh nhưng vẫn bảo tồn tối đa chức
năng của bàng quang, dùng máy nội soi với ánh sang lạnh, tỏng điều kiện vô
cảm tốt, khối u được cắt đốt tới lớp cơ bàng quang và cầm máu kỹ. Những
mảnh cắt được đánh giá mô bệnh học sau mổ kỹ về mức độ xâm lấn, độ ác tính
của khối u để chẩn đoán đúng thể bệnh, giai đoạn bệnh từ đó chọn biện pháp
điều trị bổ trợ tích cực. Trên những bệnh nhân ung thư bàng quang tái phát
nhưng còn ở giai đoạn ung thư bàng quang nông vẫn có thể cắt đốt u qua nội soi
nhằm mục đích điều trị và vừa để chẩn đoán xác định giai đoạn ung thư bàng

dụng từ những năm 1960 của thế kỷ XX, qua nhiều năm nghiên cứu điều trị,
tới nay đã có rất nhiều hóa chất khác nhau được sử dụng . Tại khoa ung bướu
Bệnh viện Bạch Mai hay sử dụng Mitomycin C.
+ Thiotepa (Triethylenethiophosphoramide): đây là tác nhân được sử
dụng bơm bàng quang cổ điển nhất vẫn còn được sử dụng cho tới ngày nay.
Thường với liều 30- 60mg một tuần kéo dài 6- 8 tuần và duy trì một tháng
một lần trong vòng 1 năm. Thiotepa làm giảm tái phát từ 73% ( TUR đơn
thuần) xuống còn 47%, u phát triển xâm lấn từ 16% xuống còn 11%. (49L)
Thiotepa có trọng lượng phân tử thấp (198), nên thấm rất nhanh qua biểu mô
bàng quang làm tăng tác dụng phị toàn thân từ 15- 20% do vậy ngày nay ít
được sử dụng.
+ Doxorubicin (Adriamycin) là một kháng sinh hóa trị liệu với trọng
lượng phân tử 580, do trọng lượng phân tử cao nên nó rất ít vượt qua thành
bàng quang để vào máu và hầu như không có tác dụng phụ toàn thân. Tuy
nhiên, tác dụng phụ tại chỗ như viêm BQ (25%) thì phổ biến và nhiều hơn các
tác nhân khác. Liều thường dùng từ 30- 100mg 3 lần 1 tuần trong 3 tháng. Tỷ
lệ đáp ứng hoàn toàn là 47%.
+ Epirubicin: giống như Doxorubicin nó thường được sử dụng với liều
30- 80mg. Tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn với thuốc xấp xỉ 50% nhưng tác dụng phụ
thì gặp ít hơn so với các tác nhân hóa chất khác.


17

+ Mitomycin C: đây là một kháng sinh chống ung thư có trọng lượng
phân tử trung bình (329) nên dễ khuếch tán tại thành BQ nhưng lại khó vào
vòng tuần hoàn, do vậy ít gây nên tác dụng phụ toàn thân cũng như tại chỗ.
Mitomycin C được dùng với liều 20- 60mg trong 8 tuần và sau đó duy trì 1
tháng một lân trong vòng 1 năm. Đây là tác nhân được sử dụng khá rộng rãi
để điều trị carcinoma in situ và dự phòng u tái phát, phát triển xâm lấn Ta, T1

nhiên trong phần lớn các nghiên cứu thường không rõ rang và rất khó đánh
giá so sánh với các tác nhân khác. Bên cạnh đó tác dụng phụ do IFN gây ra
cũng rất lớn và được so sánh như với hóa chất.
+ Interleukin 2: IL2 có thể làm thoái lui u trong một số bệnh nhân
UTBQ.(1) Cũng giống như IFN, IL2 tác động lên các tế bào UTBQ cũng
giống như vai trò của các cytokine được tạo ra trong điều trị BCG. Tuy nhiên
cho tới nay liều lượng và kế hoạch điều trị vẫn chưa được thống nhất, nghiên
cứu vẫn còn ít nên chưa đánh giá được hiệu quả lâu dại.
+ Tumor necrosis factor- alpha: đây là yếu tố hoại tử u, nhiều thử nghiệm
lâm sàng đánh giá TNFa có hiệu quả trong điều trị UTBQN, thậm chí cả
những trường hợp không đáp ứng với những tác nhân khác. Tuy nhiên các
nghiên cứu còn nhỏ thiếu số liệu thuyết phục và đánh giá được kết quả lâu
dài.
+ BCG ( Bacillus Calmet- Guerin): đây là một loại trực khuẩn lao bò
được Calmett và Guerin nuôi cấy và phân lập không còn động lực nhưng vẫn
còn tính kháng nguyên. (11,17) BCG được áp dụng điều trị dự phòng UTBQN
tái phát sau TUR từ 1976. Cho tới nay nó là tác nhân hay sử dụng chiếm 58%
trong điều trị UTBQN.
Ngoài ra còn một số tác nhân miễn dịch khác như Keyhole limpet
hemocyanin, Bropirimine, Rubratin, Transforming growth factor- alpha đã
được báo cáo là có hiệu lực đối với UTBQN, nhưng đang ở giai đoạn 1 hoặc 2
của thử nghiệm nên chưa đánh giá hết được kết quả trước mắt cũng như lâu
dài và độc tính của nó.
Nhiều tác nhân miễn dịch đã được áp dụng nhưng hiệu quả thấp hoặc
chưa rõ rang còn đang trong giai đoạn thử nghiệm và độc tính lại cao. Bởi vậy
cho tới nay Mitomycin C vẫn là tác nhân được xác định là có hiệu quả nhất
trong điều trị cũng như dự phòng ung thư biểu mô nông BQ tái phát và phát


19

lấn.
1.3.1. Lịch sử nghiên cứu và điều trị
MMC lần đầu tiên được tìm thấy trong dịch nuôi cấy Streptomyces
caespitosus bởi Hata và cộng sự tại Viện nghiên cứu Kitasato năm 1955. Từ


20

đó cho tới nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu so sánh TUR + MMC và
TUR, nghiên cứu so sánh MMC với các tác nhân hóa chất hoặc miễn dịch
khác nhằm đánh giá hiệu quả thực tế trên lâm sàng của MMC. (65,66,67)
(Fuessel S, Meye A, Kraemer K, Kunze D, Hakenberg OW, Wirth MP. (2007),
Vào những thập niên 80- 90 của thế kỷ XX, ở giai đoạn đầu nghiên cứu
đã có nhiều tác giả ( Herr H, 1985; Lamm DL, 1980; Mekelos MD, 1985) so
sánh TUR+ MMC với TUR đơn thuần đều thu được kết quả rất khả quan;
TUR+ MMC làm giảm tỷ lệ tái phát và tỷ lệ xâm lấn từ 3-4 lần so với TUR
đơn thuần trong cùng thời gian theo dõi. Đặc biệt nếu TUR+ MMC có duy trì
thì kết quả thu được còn tốt hơn không duy trì. ( Yammoto, 1990; Pagano,
1991; Somogyi, 1993).
Những năm gần đây khi hiệu quả của MMC được khẳng định, nhiều tác
giả tiến hành nghiên cứu so sánh cới tác nhân hóa chất hay miễn dịch khác.
Jimenez Cruz (1997) (64L). nghiên cứu so sánh MMC và IFNa bơm vào BQ
sau TUR dự phòng u tái phát kết luận MMC có hiệu quả hơn IFNa cả về làm
giảm tần số, thời gian và tỷ lệ tái phát.
Witjes JA (1998); Bohle A ( 2004) (45); Shelley (2004); Chiwai Cheng
(2005), qua 3 giai đoạn nghiên cứu và điều trị UTBQN bằng MMC, giai đoạn
1 so sánh giữa TUR đơn thuần và TUR+ MMC, giai đoạn 2 là điều trị ung thư
tại thỗ in situ, giai đoạn 3 là so sánh MMC với các tác nhân có hiệu quả tốt
nhất trong điều trị cũng như dự phòng u tái phát và phát triển xâm lấn.
1.3.2. Chỉ định, kế hoạch điều trị và phương pháp áp dụng MMC:


luôn tồn tại tế bào u trong nước tiểu bằng xét nghiệm Cytology sau mổ.
Ung thư xâm lấn xuống lớp dưới niêm mạc (T1): Với bất kỳ độ mô học nào từ

-

G1- G3.
Ung thư tại chỗ (Tis): dù khối u rất nhỏ vẫn phải chi định bơm MMC ngay từ


-

đầu khi chẩn đoán xác định hoặc sau TUR.
Các giai đoạn của UTBQN không đáp ứng với hóa trị liệu trong BQ.
Kế hoạch và liều lượng:
Liều lượng: thông thường được dùng để đề phòng tái phát, bơm bàng quang
4- 10mg Mitomycin C mỗi ngày hay cách ngày. Để trị liệu, bơm BQ 1040mg mỗi ngày. Liều này có thể được điều chỉnh tùy theo tuổi tác của bệnh

-

nhân và tình trạng bệnh lý. (66,67)
Kế hoạch: liệu trình điều trị MMC bơm vào BQ 1 tuần 1 lân trong 6 tuần là
bắt buộc trong tất cả các trường hợp. Điều trị duy trì hay không duy trì còn
tùy thuộc vào giai đoạn, độ biệt hóa tế bào và kinh nghiệm của thầy thuốc


-

cũng như hiệu quả của đợt điều trị bân đầu.
Thời gian và kỹ thuật áp dụng:

trong nhóm chứng có tái phát ( P= 0,0001). 4 bệnh nhân trong nhóm MMC và
11 trong nhóm chứng tái phát sớm trong vòng 2 năm. 1 BN trong nhóm chứng
xuất hiện tiến triển của khối u ( T2G3). Điều trị MMC có liên quan với giảm
31% nguy cơ tuyệt đối của tái phát.
Jung SJ (2011) đã phân tích tác động ngay lập tức khi bơm BQ
Mitomycin C sau khi cắt bỏ u BQ qua nội soi niệu đạo trên BN tái phát và
tiến triển của khối u ở BN bơm Mitomycin định kỳ. Nghiên cứu hồi cứu được
thực hiện từ 6/2000 tới 6/2006 trong tổng số 115 BN có khối u BQ ban đầu
được điều trị 6 tuần Mitomycin C bơm thuốc sau khi TUR. Các BN chia
thành 2 nhóm: 53 BN trong nhóm Mitomycin C ngay lập tức ( I-MMC) được
điều trị bằng cách bơm ngay MMC sau khi TUR và bơm thuốc định kỳ ( 6
lần, 1 lần mỗi tuần), và 62 BN trong nhóm các nhóm bơm MMC định kỳ.
Khối u tái phát và tiến triển được so sánh trong hai nhóm. Trong khoảng thời


23

gian theo dõi trung bình là 46,5 tháng ở nhóm I-MMC và 47,2 tháng ở nhóm
MMC, tái phát sớm trong vòng 1 năm xảy ra ở 6/53 BN ( 11,3%) trong nhóm
I-MMC và 18/62 BN ( 29%) trong nhóm MMC ( p
- Các bệnh nhân UTBQN đã được điều trị bằng phương pháp TUR+
MMC nhưng mất liên lạc hoặc không theo dõi được cho tới thời điểm kết thúc
nghiên cứu.
- Các bệnh nhân UTBQN điều trị bằng phương pháp TUR+ MMC nhưng
kết hợp với hóa chất, tia xạ hoặc các tác nhân miễn dịch khác.
- Các bệnh nhân UTBQ ở giai đoạn muộn khi đã xâm lấn gồm giai đoạn
T2 trở đi theo UICC.
- Các BN có suy giảm miễn dịch toàn thân mắc phải hay bẩm sinh.
- Các BN đang mắc các bệnh lao tiến triển, suy thận hoặc đang mắc các
bệnh toàn thân mãn tính khác.
2.2. phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu hồi cứu ứng dụng điều trị ung thư bàng quang nông bằng
phương pháp phẫu thuật cắt u nội soi qua niệu đạo kết hợp với bơm


25

Mitomycin C sau phẫu thuật tại khoa Ngoại bệnh viện Bạch Mai từ 1/20126/2015 với thời gian theo dõi từ 6- 48 tháng.
2.2.2. Cỡ mẫu:
Lấy mẫu thuận tiện, lựa chọn tất cả các BN đủ tiêu chuẩn nghiên cứu
2.3. Các bước tiến hành nghiên cứu
2.3.1. Xây dựng đề cường nghiên cứu
- Xây dựng tên đề tài, mục tiêu nghiên cứu
- Tìm tài liệu liên quan
- Thiết kế bệnh án mẫu thu thập số liệu
2.3.2. Thu thập số liệu
Thu thập thông tin, số liệu lấy từ hồ sơ bệnh án lấy từ phòng lưu trữ hồ
sơ Bệnh viện Bạch Mai theo mẫu thống nhất: Các bệnh nhân UTBQN khi tới
viện được làm hồ sơ bệnh án đầy đủ về mặt hành chính như tên tuổi, giới,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status