PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Nước ta là một nước nông nghiệp. Kinh tế nông nghiệp chiếm một vị
trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Trong đó đất đai là tư liệu sản xuất
chủ yếu và đặc biệt không gì thay thế được, là điều kiện tiên quyết để phát
triển sản xuất nông nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường
sống, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội và an
ninh quốc phòng.
Lịch sử phát triển xã hội đã khẳng định: Nông nghiệp là một trong hai
ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội. Xã hội loài người muốn tồn tại và
phát triển được thì những nhu cầu cần thiết như ăn, mặc và những tư liệu sinh
hoạt khác không thể thiếu được, những cái đó do nông nghiệp cung cấp.
Đặc biệt với Việt Nam là một nước nông nghiệp, hiện nay vẫn đang
còn trên 70% dân số sống ở nông thôn. Ngành nông nghiệp sử dụng trên 50%
lực lượng lao động xã hội, là một ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Hiện nay nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh, cùng với
sự bùng nổ về dân số, sự gia tăng nhanh chóng của đô thị hóa và việc xây
dựng mở mang các khu công nghiệp… đã tác động nhiều đến quản lý và sử
dụng đất đai. Trong khi đó đất đai lại hạn hẹp, bình quân diện tích đất nông
nghiệp vào loại thấp nhất trên thế giới chỉ vào khoảng 1073m 2/người, lại đang
có xu hướng giảm đi giữa các địa phương, các vùng miền. Mặt khác, việc
phân bố diện tích đất nông nghiệp cũng không đồng đều. Do vậy vấn đề sử
dụng một cách hợp lý có hiệu quả đất đai trong nông nghiệp luôn luôn được
Đảng và Nhà nước chú trọng. Tuy nhiên, việc nghiên cứu đánh giá tình hình
sử dụng ruộng đất mới chỉ có được những kết quả còn rất hạn chế, việc sử
1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng tình hình sử dụng và hiệu quả kinh tế sử dụng
đất trồng rau và hoa màu tại xã Yên Đồng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định
trong thời gian qua và nguyên nhân thực trạng, trên cơ sở đó đề ra các giải
pháp chủ yếu nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh tế sử dụng đất trồng rau
và hoa màu ở địa phương trong thời gian tới.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Hệ thống cơ sở khoa học về hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả
kinh tế sử dụng đất trồng rau và hoa màu nói riêng trong điều kiện sản xuất
hiện nay.
Đánh giá thực trạng hiệu quả kinh tế sử dụng đất trồng rau và hoa
màu tại xã Yên Đồng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định
Tìm ra các nguyên nhân ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế trong sử
dụng đất trồng rau và hoa màu ở địa phương
Đề xuất những định hướng và giải pháp thiết thực, phù hợp nhằm
nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất trồng rau và hoa màu
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu tình hình sử dụng, phương thức sử dụng đất trồng rau và
hoa màu và các loại cây trồng trên đất trồng rau và hoa màu tại xã Yên Đồng,
huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Phạm vi nội dung
Đánh giá các nguồn lực tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa phương, trên
cơ sở đó phát hiện ra những lợi thế cũng như các yếu tố làm cản trở đến việc
sử dụng hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất trồng rau và hoa màu của xã.
PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
2.1.1 Khái niệm về hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế được các nhà kinh tế và thống kê nêu ra với nhiều
quan điểm khác nhau do điều kiện lịch sử và giác độ nghiên cứu từ nhiều phía
khác nhau. HQKT là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của các
hoạt động kinh tế. Mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế xã hội là đáp
ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất và tinh thần của toàn xã hội khi có sự
giới hạn về các nguồn lực. Việc nâng cao chất lượng hoạt động kinh tế có
nghĩa là tăng cường trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có trong một hoạt
động kinh tế. Đây là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội do
nhu cầu vật chất của cuộc sống con nghười ngày càng tăng. Nói cách khác
biện chứng do yêu cầu của công tác quản lý kinh tế cần phải có sự phân tích,
đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng của các hoạt động kinh tế dã
dẫn đến sự xuất hiện của phạm trù hiệu quả kinh tế.
Vậy HQKT là gì? Năm 1878, Sapadonicop và nhiều nhà kinh tế, nhà
thống kê học đã nêu ra các quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế, nhưng
cho mãi đến hơn 30 năm sau, vào năm 1910 mới có văn bản pháp quy đánh
giá hiệu quả kinh tế của vốn đầu tư cơ bản. Đến nay khái niệm HQKT ngày
càng được quan tâm nghiên cứu và là bộ phận quan trọng của kinh tế học
trong nền kinh tế thị trường. có nhiều ý kiến khác nhau về HQKT nhưng có
thể tóm tắt hiệu quả kinh tế thành 3 hệ thống quan điểm như sau:
* Hệ thống quan điểm thứ nhất cho rằng: HQKT được xác định bởi tỷ
số giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
5
Theo quan điểm này, hiệu quả kinh tế biểu hiện ở quan hệ tỷ lệ giữa
phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí, hay quan hệ tỷ lệ
giữa kết quả bổ sung và chi phí bổ sung.
6
H=
∆Q
∆C
Trong đó: ∆Q: Phần tăng thêm của kết quả sản xuất
∆C: Phần tăng thêm của chi phí sản xuất
Hệ thống quan điểm này có ưu thế khi đánh giá HQKT đầu tư sản xuất
theo chiều sâu, HQKT đầu tư tăng thêm, nhưng không xét đến HQKT của
tổng chi phí bỏ ra.
Tuy nhiên, chỉ tập chung vào tỷ số giữa kết quả và chi phí bỏ ra thì
chưa toàn diện. Bởi vì chỉ tiêu này chưa phân tích được tác động ảnh hưởng
của các yếu tố nguồn lực tự nhiên (đất đai, khí hậu, thời tiết).
Như vậy, HQKT cần được bổ xung và mở rộng để mang tính toàn diện
hơn. Tóm lại, HQKT của một hiện tượng, quá trình kinh tế là một phạm trù
kinh tế phản ánh trình độ khai thác các yếu tố đầu tư, các nguồn lực tự nhiên
và các phương thức quản lý. HQKT được thể hiện bằng hệ thống các chỉ tiêu
nhằm phản ánh các mục tiêu cụ thể của các cơ sở sản xuất, phù hợp với yêu
cầu sản xuất.
Ngoài ra khi đề cập đến hiệu quả các nguồn lực trong nông nghiệp như
lao động, đất đat, vốn, hạt giống, phân bón, chúng ta hay nói đến HQKT của
việc sử dụng các nguồn lực đó. Bàn về hiệu quả sản xuất trong nông nghiệp,
nhiều tác giả đã thống nhất cần phân biệt rõ ba khái niệm về hiệu quả, HQKT,
lại cao. Ở đây được biểu hiện rõ nhất giữa các yếu tố đầu vào với các yếu tố
đầu ra bởi nó là kết quả của hiệu quả sản xuất. Muốn khai thác nguồn tài
nguyên có HQKT cao thì phải có phương pháp sử dụng đúng mục đích, làm
sao cho cùng có lợi về mặt kinh tế và môi trường. Tuy nhiên để có được
HQKT cao là điều mong muốn của nền kinh tế nước ta nói chung và của xã
Yên Đồng nói riêng nhưng cần phải biết chú trọng trong việc khai thác để làm
cho đất nước ngày càng phát triển và vững mạnh. Việc sử dụng đất canh tác
nói chung và đất trồng rau và hoa màu nói riêng là nhiệm vụ hết sức quan
trọng qua quá trình khai thác, làm sao vừa có HQKT cao, vừa để lại môi
trường trong sạch và không làm cho các nguồn tài nguyên cạn kiệt. Chính lẽ
đó Nhà nước cần phải có các chính sách đưa ra kịp thời cùng với các ban
chức trách kết hợp lại cùng nhau ngăn chặn những mặt xấu để tiến tới việc sử
dụng đất ngày càng tốt hơn và có hiệu quả hơn.
8
2.1.2.2 Bản chất của hiệu quả kinh tế
Xuất phát từ sản xuất và sự phát triển của một nền kinh tế xã hội là đáp
ứng nhu cầu ngày tăng về vật chất và tinh thần của mỗi thành viên trong xã
hội một cách ổn định. Để làm rõ bản chất của hiệu quả kinh tế cần phải phân
biệt rõ sự khác nhau giữa hiệu quả và kết quả.
Kết quả (kết quả hữu ích) là một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích
con người, được thể hiện bằng nhiều chỉ tiêu, nhiều nội dung, tuỳ thuộc vào
từng trường hợp cụ thể. Do mâu thuẫn giữa sự hữu hạn của tài nguyên và nhu
cầu ngày càng tăng lên không ngừng của con người mà phải xem xét mức chi
phí và kết quả đạt được là thấp hay cao. Chính vì vậy, khi đánh giá kết quả
sản xuất không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải xem xét chất
lượng sản phẩm làm ra và các chi phí bỏ ra để thu được kết quả đó.
Hiệu quả là đại lượng dùng để xem xét kết quả được tạo ra như thế nào,
Trong nông nghiệp chu kỳ sản xuất dài, nên chịu nhiều ảnh hưởng của
biến động giá cả, mức độ trượt giá, gây khó khăn trong việc xác định các loại
chi phí sản xuất.
Các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên tác động lớn đến quá trình sản
xuất nông nghiệp và hiệu quả của nó. Tuy nhiên mức độ tác động của các yếu
tố này vẫn chưa có phương pháp xác định chuẩn.
- Những khó khăn trong việc xác định yếu tố đầu ra
Các kết quả sản xuất về mặt vật chất có thể lượng hoá để tính và so
sánh trong thời gian và không gian cụ thể nào đó. Tuy nhiên xác định đúng và
đủ những kết quả về mặt xã hội, môi trường sinh thái, độ phì của đất, khả
năng cạnh tranh trên thị trường của một doanh nghiệp, của một vùng nông
nghiệp là khó khăn bởi nó không thể lượng hoá được và chỉ được bộc lộ trong
thời gian dài.
2.1.3 Phân loại hiệu quả kinh tế
Bất kỳ một hoạt động sản xuất nào của con người đều nhằm mục đích
cuối cùng là đạt hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, kết quả hoạt động đó không
chỉ đơn thuần đạt được về mặt kinh tế mà còn tạo ra nhiều kết quả có liên
10
quan đến đời sống kinh tế xã hội của con người cũng như ảnh hưởng đến môi
trường sinh thái. Xét trên phạm vi cá biệt, một hoạt động kinh tế có thể đem
lại HQKT cho một cá nhân, một đơn vị, một địa phương, nhưng xét trên phạm
vi toàn xã hội nó lại ảnh hưởng đến lợi ích và hiệu quả chung. Vì vậy khi
đánh giá HQKT cần phải phân loại và làm rõ mối liên hệ giữa chúng.
* Căn cứ vào nội dung, bản chất của HQKT có thể chia thành HQKT,
hiệu quả xã hội, hiệu quả kinh tế xã hội và hiệu quả phát triển bền vững.
- HQKT: thể hiện mối tương quan giữa các kết quả đạt được về măt
kinh tế và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Do đó, xác định HQKT phải
- Hiệu quả sử dụng đất đai.
- Hiệu quả sử dụng lao động.
- Hiệu quả sử dụng công nghệ kỹ thuật mới.
Các cách phân loại trên làm cơ sở để chúng ta đánh giá HQKT một
cách đúng đắn. Như vậy khi đánh giá hiệu quả phải xem xét một cách toàn
diện cả về mặt thời gian và không gian trong mối quan hệ hiệu quả chung của
nền kinh tế quốc dân với hiệu quả bộ phận của các đơn vị, xí nghiệp, địa
phương, quan hệ giữa vấn đề kinh tế - xã hội với kỹ thuật của sản xuất và môi
trường sinh thái, quan hệ giữa HQKT hiện tại với tương lai. Hiệu quả đó bao
gồm cả HQKT và xã hội, có mối quan hệ mật thiết đến nhau như một thể
thống nhất không thể tách rời.
2.1.4 Đặc điểm, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất trồng rau
và hoa màu và ý nghĩa của nó
2.1.4.1 Đặc điểm của đất đai trong sản xuất nông nghiệp
Đất nông nghiệp, theo quan điểm của người sử dụng và nghiên cứu
kinh tế với nghĩa thông thường là toàn bộ đất đai được sử dụng trong quá
trình sản xuất nông nghiệp. Đất nông nghiệp bao gồm đất được sử dụng
vào trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản và nghiên cứu thí nghiệm về
nông nghiệp.
12
Đặc điểm của đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất chủ yếu đặc biệt, có
độ phì và không thể thay thế được. Đất đai được gọi là tư liệu sản xuất đặc
biệt vì nó vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động. Chỉ có thông
qua đất, các tư liệu sản xuất mới tác động đến cây trồng và sử dụng đất đai
đúng hướng.
Diện tích đất đai có giới hạn về mặt tự nhiên, nên con người không thể
tự ý tăng diện tích lên một cách vô hạn như các tư liệu sản xuất khác.
Nhược điểm: dễ bị khô hạn do có tổng thể tích khe hở lớn, nghèo mùn,
dễ bị đốt nóng và mất nhiệt nên bất lợi cho sinh vật phát triển, kết cấu rời rạc,
dễ cày bừa, nhưng đất dễ bị lắng rẽ, bí chặt, khả năng hấp phụ thấp, giữ nước
và giữ phân kém do chứa it keo, nên nếu bón nhiều phân vào một lúc, cây
không sử dụng hết thì sẽ bị rửa trôi. Khi bón phân hữu cơ phải vùi sâu để
tránh sự đốt cháy.
Đối với đất trồng rau thường có thành phần cơ giới nhẹ hơn, lắm cát
hơn, (do bộ rễ của rau yếu và chu kỳ sản xuất thấp hơn) do đó nó đòi hỏi chế
độ chăm sóc kỹ hơn và phức tạp hơn đất hoa màu và các loại đất khác.
2.1.4.2 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất trồng rau, hoa màu
và ý nghĩa của nó
Hiện nay, tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả kinh tế vẫn còn đang là một
vấn đề phức tạp và còn có nhiều ý kiến chưa thống nhất. Tuy nhiên đa số các
nhà kinh tế đều cho rằng tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi đánh giá HQKT
là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí tiêu hao
các nguồn lực. Vì nhu cầu thì rất đa dạng, lại thay đổi theo thời gian và tuỳ
thuộc vào trình độ khoa học công nghệ - kỹ thuật được áp dụng vào sản xuất,
nên ở mỗi thời kỳ phát triển khác nhau, tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả cũng
khác nhau. Nhìn chung có thể coi lượng kết quả thu được tối đa trên một đơn
vị chi phí là tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả kinh tế hiện nay.
Trong nền sản xuất nông nghiệp, đất đai là nguồn lực quan trọng nhất,
là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thiếu được. không có đất đai thì không
thể tiến hành sản xuất nông nghiệp. Nhưng nguồn lực này lại bị giới hạn và
đang có nguy cơ giảm dần về diện tích và chất lượng. Chính vì vậy yêu cầu
14
nguồn nước tự nhiên. Các quy luật sinh học và điều kiện ngoại cảnh tồn tại
độc lập với ý muốn chủ quan của con người. Nếu như điều kiện tự nhiên
thuận lợi, cây trồng vật nuôi sẽ sinh trưởng phát triển mạnh, cho năng xuất và
chất lượng cao. Ngược lại, nếu điều kiện tự nhiên không thuận lợi sẽ gây ảnh
hưởng không tốt đến sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng dẫn đến năng
suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế đạt được thấp và các quá trình
đó gắn liền với đất đai cùng với việc sử dụng nó. Chính vì vậy trong quá
trình sử dụng đất canh tác, nhất là trong quá trình sử dụng đất trồng rau và
hoa màu sẽ không đạt được hiệu quả nếu như chúng ta không nắm vững các
quy luật của tự nhiên và sinh vật để có thể hạn chế các tác hại, đồng thời lợi
dụng để tác động một cách phù hợp tới cây trồng, vật nuôi sinh trưởng, phát
triển theo chiều hướng có lợi cho con người.
2.1.5.2 Nhóm nhân tố công nghệ và kỹ thuật
Đây là một trong những nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả và
hiệu quả trong sản xuất ngành trồng trọt và nó đồng hành với quá trình sử
dụng đất. Công nghệ trong nông nghiệp là tập hợp các tri thức khoa học nông
nghiệp áp dụng vào quá trình sử dụng đất. Công nghệ áp dụng trong nông
nghiệp cần theo hướng làm giảm sự lệ thuộc quá mức vào việc sử dụng các
sản phẩm hóa học của người nông dân. Nhờ áp dụng công nghệ và kỹ thuật
mới vào sản xuất, đã giúp cho quá trình sản xuất đạt hiệu quả cao hơn, giúp
cho con người sản xuất ra nhiều sản phẩm hơn, với số lượng nguồn lực không
đổi, thậm chí còn ít hơn. Tuy nhiên, việc áp dụng công nghệ và kỹ thuật mới
cần phải kết hợp hài hoà với công nghệ cổ truyền đang có trong dân, đồng
thời phải chú ý đến môi trường sinh thái.
2.1.5.3 Nhóm nhân tố kinh tế tổ chức
2.1.5.3.1 Trình độ sản xuất của người dân
Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, nhưng
trình độ của người sản xuất có ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất của cây
17
2.1.5.3.5 Các chính sách liên quan đến sản xuất nông nghiệp
Các chính sách của chính phủ được đưa ra nhằm tác động vào một lĩnh
vực cụ thể của nền kinh tế. Đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp, điều này
được thể hiện rõ. Nếu chính sách đúng đắn phù sẽ góp phần thúc đẩy sản xuất
phát triển, và ngược lại nếu chính sách không phù hợp sẽ góp phần kìm hãm
sự phát triển của sản xuất. Trên thực tế chúng ta đã thấy rõ điều này ở thời kỳ
bao cấp. Hiện nay, một số chính sách nông nghiệp mới ra đời như chính sách
trợ giá nông sản, chính sách khuyến nông… đã góp phần thúc đẩy việc phát
triển sản xuất nông nghiệp, đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn, sử dụng hợp lý
và có hiệu quả các nguồn lực hơn.
2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.2.1 Tình hình nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác trên
thế giới
Cho tới nay, trên thế giới đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu đưa ra
nhiều phương pháp đánh giá để tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng đất canh tác. Các nước Đông Nam Á đã áp dụng các phương pháp
như: phương pháp chuyên khảo, phương pháp mô phỏng, phương pháp phân
tích kinh tế… vào việc áp dụng đánh giá hiệu quả sử dụng đất canh tác thông
qua việc tập chung hướng nghiên cứu vào việc đánh giá hiệu quả đối với từng
loại cây trồng, từng giống cây trồng, để từ đó sắp sếp, bố trí một công thức
luân canh phù hợp hơn, khai thác một cách tối ưu tiềm năng của đất.
Các nhà khoa học nghiên cứu trên thế giới đã đưa ra một số cây trồng
mới có năng suất và chất lượng cao, giúp cho việc sử dụng đất ngày càng có
hiệu quả hơn. Tạp chí Farming JaPan của Nhật Bản ra hàng tháng đã giới
thiệu nhiều công trình của các nước trên thế giới về các hình thức sử dụng đất
đai. Các nhà khoa học Nhật Bản hệ thống hoá tiêu chuẩn hiệu quả sử dụng đất
Dự báo tới năm 2025, 2/3 đất canh tác ở Châu phi sẽ biến mất cùng với
1/3 đất canh tác ở Châu Á và 1/5 của Nam Mỹ. Các khu vực bị ảnh hưởng
19
nhiều nhất là vùng khô cằn nằm cạnh những sa mạc hiện nay, bao gồm nhiều
vùng ở cận shahara (Châu Phi) hay sa mạc Gobi ở Trung Quốc.
Tài nguyên đất dùng vào sản xuất nông nghiệp trên thế giới vốn đã
không nhiều, nhưng lại ngày càng bị thu hẹp bởi sự gia tăng của mục đích phi
nông nghiệp, trong khi đó khả năng mở rộng không còn nhiều.
Do vậy, phát triển nông nghiệp nhằm đảm bảo nhu cầu nông sản và
luơng thực cho gần 7 tỷ người trên trên trái đất này yêu cầu chúng ta cần phải
nghiên cứu các biện pháp sử dụng đất nông nghiệp tối ưu theo hướng thâm
canh tăng vụ trên cơ sở bố trí hệ thống cây trồng hợp lý là cần thiết.
2.2.2 Tình hình nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất canh tác nói chung ở
nước ta hiện nay
2.2.2.1 Vài nét về tình hình sử dụng đất canh tác nước ta
Việt Nam có nhiều nét đặc thù với các nước trên thế giới với diện tích
đất ít, người đông, trình độ phát triển kinh tế thấp, tốc độ đô thị hoá tăng
nhanh. Hiện nay nước ta có khoảng 9,382 triệu ha đất nông nghiệp, chiếm
khoảng 28,5% tổng diện tích đất tự nhiên của cả nước với khoảng 70% dân số
sống ở nông thôn và 50% lao động đang hoạt động ở lĩnh vực nông nghiệp,
lâm nghiệp và ngư nghiệp. Tốc độ tăng dân số bình quân hàng năm là 2%.
Theo dự kiến nếu tốc độ tăng dân số đạt kế hoạch từ 1 – 2%/năm thì dân số
Việt Nam sẽ là 100,8 triệu người vào năm 2015, trong khi quỹ đất nông
nghiệp hầu như không tăng.
Dựa vào nguồn đất đai hiện có, theo phương pháp đánh giá của FAO
các nhà nghiên cứu đã xác định một số loại hình sử dụng đất chính sau.
- Loại hình sử dụng đất bền vững:
1994
2000
2010
3
1. Đất nông nghiệp
10 ha 6913.4 6942.2 6993.2 7367.2 8072.6 8821.5
- Đất canh tác
103ha 5974.2 5625.8 5339.0 5463.8 5630.0 5876.4
- Đất lúa
103ha 4672.5 4296.6 4108.8 4230.1 4230.0 11000 >13500
6
- Năng suất lúa
10 tấn
27.8
31.9
35.6
38-40
tăng 207%).
Chương trình quy hoạch tổng thể vùng đồng bằng sông Hồng
(VIE/89/032) đang nghiên cứu đề xuất dự án phát triển đa dạng hoá nông
nghiệp đồng bằng sông Hồng. Nội dung quan trọng nhất là phát triển hệ thống
cây trồng để nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp từ năm 1993 – 2010.
Nghiên cứu hệ thống cây trồng trên đất dốc nhằm nâng cao năng suất
cây trồng và bảo vệ môi trường sinh thái ở nước ta với các công trình nghiên
cứu như: Nguyễn Ngọc Bình (1987), Nguyễn Tử Siêm(1993), Nguyễn Thanh
Trà (1996).
22
Kết quả nghiên cứu, bố trí luân canh cây họ đậu trên đất 3 vụ làm
tăng HQKT sử dụng đất hoa màu và nâng cao độ phì của đất bạc màu ở
tỉnh Sóc Sơn.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu cũng như thực tiễn khai thác
tiềm năng đất đai hiện nay mới giải quyết được phần nào những vấn đề đang
đặt ra của việc sử dụng đất đai. Nhiều mô hình canh tác có năng suất cây
trồng cao, bảo vệ môi trường nhưng hiệu quả kinh tế đem lại thấp. Trong khi
đó có mô hình đạt hiệu quả kinh tế cao nhưng chưa có gì đảm bảo cho việc
khai thác lâu dài ổn định. Vì vậy để nâng cao hiệu quả sử dụng đất đòi hỏi
phải có những biện pháp kinh tế kỹ thuật đồng bộ phù hợp.
23
PHẦN III
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
đến tháng 4 năm sau, nhiệt độ hàng tháng giao động trong khoảng từ 12 0C
đến 240C. Nhiệt độ trung bình trong năm khoảng 23 0C. Vào mùa Hè nhiệt độ
tăng cao, trời nắng nhiệt độ trong ngày cao nhất có thể lên tới trên 37 0C. Vào
mùa Đông nhiệt độ xuống thấp, trời rét, nhiệt độ trong ngày có thể xuống tới
dưới 60C. Trung bình trong năm có khoảng hơn 200 ngày có nhiệt độ từ 20 0C
đến 300C, nhiệt độ thích hợp cho cây trồng vật nuôi phát triển. Độ ẩm trung
binh 86%, lượng mưa trung bình cả năm 1563,3mm, có khoảng 150 đến 170
ngày mưa. Mùa mưa ẩm, nóng kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, lượng mưa
trong mùa mưa chiếm 80% đến 85% lượng mưa cả năm. Trong khi đó lượng
mưa vào mùa khô chỉ chiếm 20 – 25% tổng lượng mưa cả năm. Do lượng
mưa không đều giữa các tháng trong năm nên thường gây ra các hiện tượng
hạn hán vào mùa khô và úng lụt vào mùa mưa.
Nhìn chung, điều kiện thời tiết khí hậu của xã Yên Đồng tương đối
thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, có điều kiện thâm canh gối vụ,
chuyển đổi cơ cấu các loại cây trồng, vật nuôi. Tuy nhiên việc phòng chống
và giảm nhẹ thiên tai cũng là một vấn đề đặt ra đối với xã Yên Đồng.
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội của xã Yên Đồng – Ý Yên – Nam Định
3.1.2.1 Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai
Xã Yên Đồng có tổng diện tích đất tự nhiên là 1071.87 ha, diện tích
này hầu như không thay đổi qua 3 năm, (nguyên nhân do xã không có sông
ngòi lớn chảy qua nên hàng năm hầu như không có sự bồi đắp). Chỉ có sự
biến động giữa các loại đất. Diện tích đất nông nghiệp giảm dần qua 3 năm,
năm 2007 là 764.03 ha, đến năm 2008 chỉ còn 762.60 ha giảm 0.15%. Diện
25