SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị…Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh
Mã số: ................................
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI: VẬN DỤNG HIỆU QUẢ PHƯƠNG PHÁP THẢO
LUẬN NHÓM TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC Ở TRƯỜNG
THPT
Người thực hiện: GV Nguyễn Minh Thư
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lý giáo dục
Phương pháp dạy học bộ môn: Hóa
Phương pháp giáo dục
Lĩnh vực khác: .........................................................
Có đính kèm:
Mô hình
Phần mềm
Phim ảnh
Hiện vật khác
Một số vấn đề về dung dịch.
Liên kết hóa học.
Nhiệt – động học.
Ăn mòn kim loại
1 số hiệu ứng hóa học trong hóa học hữu cơ.
Phản ứng hóa hữu cơ.
Các vấn đề quan trọng về “ ĐẠI CƯƠNG HÓA HỮU CƠ –
HIDROCACBON – DẪN XUẤT HIDROCACBON”
BM03-TMSKKN
Tên sáng kiến kinh nghiệm : ‘VẬN DỤNG HIỆU QUẢ PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN
NHÓM TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC Ở TRƯỜNG THPT’
A. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Trong thời đại ngày nay, khi khoa học kĩ thuật ngày càng phát triển thì yêu cầu làm việc
theo nhóm là cần thiết hơn bao giờ hết. Đơn giản là vì không ai hoàn hảo, làm việc theo
nhóm có thể tập trung những mặt mạnh của từng người và bổ sung, hoàn thiện cho nhau
những điểm yếu. Người phương Tây luôn xem công việc và bạn bè là hai khía cạnh
khác nhau, do đó trong khi làm việc họ rất thoải mái. Đối với chúng ta, khái niệm
“teamwork” đã được nói đến nhiều nhưng nó vẫn chỉ được nghe nói chứ chưa được thực
hiện theo đúng nghĩa.
Trên tinh thần đổi mới phương pháp học tập hiện nay, một trong những phương pháp
đổi mới hiện được các trường THPT đánh giá mang lại hiệu quả cao là phương pháp
thảo luận nhóm (TLN). Phương pháp học tập TLN có một vai trò quan trọng trong việc
áp dụng phương pháp dạy học tích cực nói riêng và việc nâng cao chất lượng dạy học
nói chung. Tuy nhiên, hiện nay trên thực tế chúng ta vẫn chưa thực sự coi trọng việc tổ
chức thực hiện phương pháp học tập hợp tác theo nhóm nhỏ hoặc có tổ chức nhưng hiệu
quả đạt được không như mong đợi. Làm sao để tiết dạy hóa học ở trường THPT sử dụng
phương pháp TLN đạt hiệu quả cao? Với kinh nghiệm giảng dạy của Mình, Tôi xin
lối học thụ động đã được hình thành trong nhà trường nhiều năm qua bằng cách khuyến
khích học sinh tham gia một cách chủ động và tích cực trong việc học của mình thông
qua việc cho học sinh thảo luận nhóm ngay trong lớp dưới sự hướng dẫn của thầy giáo
bộ môn.
Hiện nay, thảo luận nhóm đã được áp dụng rộng rãi trong dạy và học ở các trường
THPT. Nếu trước đây, mỗi HS làm việc cá nhân, riêng lẻ thì ở phương pháp này dạy
học tính tập thể được nâng cao rõ rệt. HS được trình bày, thảo luận, tranh luận về những
vấn đề do GV đặt ra nhằm mục đích tự tìm hiểu vấn đề và tự giải đáp trước khi vấn đề
đó được giải quyết dưới sự giám sát, điều chỉnh của nhóm và GV.
Nhưng việc Thảo luận nhóm trong lớp sẽ được tổ chức như thế nào? Mục tiêu của nó là
gì? Cách thực hiện ra sao?... Quả là vấn đề này đang đặt ra rất nhiều thử thách mà người
giáo viên cần phải nghiên cứu giải quyết.
Phần II. NỘI DUNG, BIỆN PHÁP THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI
II. 1. Tổng quan về phương pháp thảo luận nhóm
II.1.1. Khái niệm:
Theo Mauuel Bueucousejo Garcia: “Thảo luận là sự gặp gỡ trực diện giữa giáo
viên và học sinh hoặc giữa học sinh với học sinh dưới sự chỉ đạo của giáo viên để trao
đổi tự do những ý tưởng về một chủ đề chuyên biệt”.
A.T. Francisco (1993): “Học tập nhóm là 1 phương pháp học tập mà theo
phương pháp đó, học viên trong nhóm trao đổi , giúp đỡ, hợp tác với nhau trong học
tập.”
Phương pháp thảo luận nhóm hình thành từ môi trường đại học của nhiều nước tiên
tiến trong đầu thập niên 70 của thế kỷ trước, môn học này có tên là “Năng động tập thể”
(tiếng Anh gọi là Group Dynamics). Hầu như học dưới mái trường đại học, trong lớp
cũng như ngoài lớp, các giáo viên đều cho học sinh làm việc theo tổ (nhóm) trước khi
sinh viên ra trường. Cái lợi nhất của phương pháp này là làm cho học sinh quen thuộc
với môi trường làm việc chung trước khi chính thức đi vào làm tại các công ty, nhà
máy, xí nghiệp trong xã hội. Dần dần, phương pháp làm việc theo nhóm nhỏ được mang
cực, chủ động sáng tạo của người học, đồng thời phát huy cao độ khả năng hợp tác, giúp
đỡ học tập lẫn nhau.
Mỗi cá nhân học sinh được liên kết với nhau trong một hoạt động chung nhằm thực hiện
nhiệm vụ học tập. Học sinh học được phương pháp hợp tác, trình bày và bảo vệ ý kiến
của riêng mình.
Dạy học theo nhóm dưới sự tổ chức và điều khiển của giáo viên, học sinh được chia
thành từng nhóm nhỏ liên kết lại với nhau trong một hoạt động chung, với phương thức
tác động qua lại của các thành viên và bằng trí tuệ tập thể để hoàn thành các nhiệm vụ
học tập.
* Dạy học theo nhóm nâng cao tính tương tác giữa các thành viên trong nhóm.
Đây là yếu tố cơ bản của hoạt động nhóm, thường ở dạng “face to face” (mặt đối mặt).
Nó có những tác động tích cực đối với người học như:
- Tăng cường động cơ học tập, làm nảy sinh những hứng thú mới.
- Kích thích sự giao tiếp, chia sẻ tư tưởng, nguồn lực và cách giải quyết vấn đề
- Tăng cường các kĩ năng biểu đạt, phản hồi bằng các hình thức biểu đạt như lời nói,
ánh mắt, cử chỉ…
- Khích lệ mọi thành viên tham gia học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, phát triển mối quan
hệ gắn bó, quan tâm đến nhau
Điểm đặc trưng này của dạy học theo nhóm đòi hỏi bạn phải thiết kế nhiệm vụ cho
nhóm, nhằm tạo ra sự tương tác trực tiếp giữa các thành viên trong nhóm.
* Phát sinh sự phụ thuộc giữa các thành viên trong nhóm
Các thành viên của nhóm cần nhận thức rằng họ cùng trong một nhóm và họ có sự phụ
thuộc lẫn nhau. Cả nhóm phải cùng hoàn thành một nhiệm vụ chung, chính vì vậy, mỗi
thành viên cần phải cố gắng hết sức mình, không phải chỉ vì thành tích cá nhân, mà còn
vì thành công của cả nhóm_cái được tạo nên từ sự cố gắng của từng người và trở thành
niềm vui chung của tất cả. Họ gắn kết với nhau theo phương thức mỗi người cũng như
toàn nhóm không thể thành công nếu mỗi thành viên không cố gắng hoàn thành trách
nhiệm của mình. Làm thế nào để các thành viên trong nhóm phải phụ thuộc tích cực vào
nhau là vấn đề mà bạn cần phải chuẩn bị trước khi thiết kế nhiệm vụ giao cho nhóm.
* Tính trách nhiệm cá nhân cao.
nhau.
- Thảo luận tăng cường tính linh hoạt tư duy của người học.
- Thảo luận khiến người học chú tâm hơn đến các đề tài đang được bàn thảo.
- Thảo luận giúp cho những ý tưởng và sự thể nghiệm của người học được tôn trọng.
- Thảo luận giúp cho người học hiểu rõ được những đặc điểm của quá trình thảo luận
dân chủ.
- Thảo luận tạo điều kiện cho người học trở thành người tham gia sáng tạo tri thức.
- Thảo luận giúp người học phát triển khả năng trao đổi suy nghĩ và quan điểm một cách
rõ ràng.
- Thảo luận giúp người học hình thành thói quen tương tác trong học tập.
- Thảo luận giúp cho người học trở nên cởi mở và dễ thấu hiểu người khác hơn.
- Thảo luận có thể giúp người học phát triển năng lực phân tích và tổng hợp.
- Thảo luận có thể làm biến chuyển tư duy của người học.
Trong quá trình tham gia thảo luận nhóm, HS sẽ học được tính hòa nhập, chia sẻ để giải
quyết vấn đề một cách nhanh chóng, chủ động. HS biết chia sẻ công việc một cách bình
đẳng, biết cách giao việc cho nhau và có trách nhiệm đối với công việc của mình cũng
như cả nhóm. Đồng thời, thông qua hoạt động thảo luận nhóm sẽ tập cho các em kĩ
năng làm việc theo nhóm, giúp các em tự tin hơn, có kinh nghiệm trong quản lý tổ chức
làm việc nhóm, đặc biệt là tính năng động.
Trong phương pháp hoạt động nhóm nổi lên mối quan hệ giao tiếp học sinh - học
sinh. Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến của mỗi cá nhân được điều
chỉnh, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới.
Hoạt động trong tập thể nhóm sẽ làm cho từng thành viên quen dần với sự phân công
hợp tác trong lao động xã hội, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức cộng
đồng. Mô hình này nhằm chuẩn bị cho học sinh thích ứng với đời sống xã hội trong đó
mỗi người sống và làm việc theo phân công, hợp tác với tập thể cộng đồng.
* Những mặt hạn chế của phương pháp thảo luận.
- Dạy học theo nhóm có thể gây ồn trong lớp khó kiểm soát, vì vậy giáo viên cần chú ý
giáo dục và rèn luyện kỷ năng hoạt động hợp tác trong nhóm cho học sinh.
↓
4. Kết luận đánh giá
4. Tự đánh giá, tự điều chỉnh
Học tập hợp tác theo nhóm nhỏ trong dạy học hoá học được thể hiện khi:
- Nhóm học sinh tiến hành thí nghiệm để rút ra kết luận về tính chất của chất.
- Thảo luận nhóm để tìm ra lời giải, nhận xét, kết luận cho một vấn đề học tập hay một
bài tập hoá học cụ thể.
- Cùng thực hiện một nhiệm vụ do giáo viên nêu ra.
II.1.5. Cách tổ chức phương pháp thảo luận nhóm hiệu quả.
a. Những chuẩn bị cần thiết.
* Chuẩn bị của giáo viên:
Phương pháp Thảo luận nhóm thành công hay không tuỳ thuộc vào sự chuẩn bị của
giáo viên . Nếu giáo viên chuẩn bị tốt, dự kiến được tình huống xảy ra và có những biện
pháp xử lý kịp thời, phương pháp Thảo luận nhóm sẽ mang lại kết quả tốt .
Trước khi lên lớp, giáo viên cần chuẩn bị:
- Mục tiêu của hoạt động nhóm trong bài này là gì?
- Những vấn đề thảo luận nhóm là những vấn đề gì?
- Nên chia lớp ra làm mấy nhóm?
- Hoạt động này có phù hợp với số lượng học sinh trong nhóm không?
- Mỗi hoạt động cần bao nhiêu thời gian?
- Tất cả học sinh tham gia có thu được lợi ích từ hoạt động này không?
- Thiết bị cần dùng là những thiết bị gì?
- Dạy trên lớp hay dạy tại phòng máy đèn chiếu?
- Dự kiến tình huống xảy ra và cách giải quyết.
- Học sinh phải chuẩn bị những gì?
- Soạn giáo án cho phù hợp với việc thảo luận nhóm.
- Chuẩn bị những phương án dự bị …
* Chuẩn bị của học sinh:
+ Trong suốt buổi thảo luận nhóm, giáo viên cần đi vòng quanh các nhóm và lắng nghe
ý kiến học sinh. Thỉnh thoảng cũng rất hữu ích nếu giáo viên xen lời bình luận vào giữa
cuộc thảo luận của một nhóm.
Nhiệm vụ của Học sinh:
+ Nhóm trưởng là học sinh đứng đầu một nhóm, được phân công chịu trách nhiêm về:
quản lý nề nếp của nhóm.
phân chia nhiệm vụ cho các thành viên trong nhóm.
hướng dẫn nhóm thảo luận sâu vào các phần quan trọng hoặc các vấn đề
cần làm sáng tỏ.
khuyến khích mọi người làm việc nhiệt tình, đóng góp chia sẻ ý kiến.
Nhóm trưởng có vai trò rất quan trọng, vì thế nên chọn những học sinh lanh lợi, có khả
năng diễn đạt, có uy tín với nhóm để bồi dưỡng một cách có kế hoạch.
+ Những thành viên còn lại của nhóm:
ngồi đúng vị trí và giữ trật tự.
thái độ thân mật, chân tình cởi mở.
chăm chú lắng nghe khi người khác nói.
gánh vác chia sẻ các nhiệm vụ cần làm.
đóng góp ý tưởng cho hoạt động của nhóm.
tôn trọng ý kiến và sự góp ý của các nhóm khác trong lớp.
không được khó chịu khi không cùng quan điểm với người khác hay người
khác không cùng quan điểm với mình.
* Kết thúc hoạt động nhóm :
Một em thay mặt nhóm báo cáo lại kết quả thảo luận của nhóm. Có thể trình bày
dưới hình thức nói, viết hoặc kết hợp cả hai.
Thảo luận và trao đổi ý kiến chung có liên quan tới những vấn đề vừa trình bày.
Sau khi đại diện các nhóm trình bày, giáo viên cho cả lớp góp ý.
Giáo viên tóm tắt lại tất cả các điểm chính và làm rõ những bất đồng ý kiến giữa
các thành viên trong lớp.
trong nhóm (thừơng là học khá – giỏi hoặc tích cực hơn). Như vậy, một số học sinh
khác sẽ biến thành thụ động. Nhóm càng đông càng nhiều em thụ động, nếu giáo viên
không tích cực giám sát khi nhóm thảo luận.
4. Hạn chế về thời gian: Trong 45 phút của một tiết học, người thầy có nhiệm vụ chuyển
tải nhiều nội dung khác nhau của bài học. Nếu thời gian dành cho việc thảo luận nhiều,
giáo viên sẽ không dạy hết bài, nếu thảo luận với thời gian quá ngắn, sẽ không có kết
quả như mong muốn.
5. Lạm dụng thảo luận: Hiện nay, có tâm lý cho rằng bất cứ bài nào cũng cần phải có
thảo luận nhóm để chứng tỏ là có quan tâm đến đổi mới phương pháp. Trên thực tế, chỉ
những bài có tình huống cần thảo luận thì mới nên chia nhóm thảo luận. Còn không thì
không nhất thiết phải có thảo luận nhóm.
6. Chưa có cột điểm cho việc thảo luận nhóm.
Hiện nay cũng chưa có văn bản nào quy định cho việc đánh giá thảo luận nhóm (hoặc
làm việc theo nhóm học tập ở trường và ở nhà). Đây cũng là một hạn chế không phải
nhỏ bởi lẽ nếu có điểm số đánh giá, thì chất lượng thảo luận nhóm chắc là sẽ khác vì nó
bắt buộc học sinh phải cố gắng tối đa.
c. Biện pháp khắc phục
a) Chống tâm lý ỷ lại trong nhóm
Mỗi nhóm đều có một nhóm trưởng và cứ thường thì nhóm trưởng phụ trách luôn
cả việc phát biểu trước lớp về những ý kiến của nhóm mình . Đây chính là cơ sở để cho
những thành viên còn lại trong nhóm ỷ lại. Để khắc phục điều này, tôi đề nghị là thầy cô
nên thỉnh thoảng cử học sinh không phải là nhóm trưởng phát biểu. Cứ làm thế vài lần
là tâm lý ỷ lại sẽ giảm bớt đi và buộc thành viên nào trong nhóm cũng phải chú ý.
b) Về chỗ ngồi trong lớp chưa phù hợp
Không thể đòi hỏi có bàn ghế phù hợp ngay được. Nên chăng với bàn ghế hiện
tại, ta chia lớp ra làm nhiều nhóm, cứ 4 em là một nhóm.
Nếu lẻ thì có thể 5 vì 4 học sinh rất tiện lợi cho việc sinh hoạt vì sẽ ngồi quay đầu
vào nhau rất nhanh chóng. Nếu lớp 48 học sinh, sẽ có 12 nhóm nhỏ. Trong 12 nhóm
một tiết học nên giáo viên phải biết tổ chức hợp lí và học sinh đã quen với hoạt động
này thì mới có kết quả tốt. Mỗi tiết học chỉ nên tổ chức từ một đến ba hoạt động nhóm,
mỗi hoạt động cần 5 - 10 phút.
Ta cần chú ý đến yêu cầu phát huy tính tích cực của học sinh và rèn luyện năng lực hợp
tác giữa các thành viên trong hoạt động nhóm. Cần tránh khuynh hướng hình thức và
lạm dụng phương pháp này khi cho rằng tổ chức hoạt động nhóm là dấu hiệu tiêu biểu
nhất của đổi mới phương pháp dạy học hoặc hoạt động nhóm càng nhiều thì càng chứng
tỏ phương pháp dạy học càng đổi mới.
Tại sao giáo viên không tin tưởng vào phương pháp thảo luận?
Nhìn chung, giáo viên khi mới tiếp xúc với phương pháp thảo luận thường rất dễ mất
lòng tin vào phương pháp này, nhưng sau khi đã tìm hiểu mức độ phức tạp của phương
pháp này, bạn sẽ không còn cảm thấy ngạc nhiên nữa. Bởi vì nếu như bạn thử áp dụng
phương pháp này trong giảng dạy và đạt được những thành công ngay từ đầu thì đó mới
thật sự là một điều đáng để ngạc nhiên.
Một số nguyên nhân phổ biến mà các giáo viên cho rằng chúng có thể dẫn đến thất bại
khi áp dụng phương pháp thảo luận trong dạy học:
1. Người dạy không thật sự kỳ vọng nhiều vào phương pháp này.
2. Người dạy không yêu cầu người học chuẩn bị đầy đủ trước khi thảo luận.
3. Người dạy chưa coi trọng các nguyên tắc cơ bản khi tiến hành thảo luận.
4. Người dạy chưa thật sự tạo được mối liên hệ giữa thảo luận và sự tưởng
thưởng mà nó mang lại.
5. Trước khi tổ chức cho người học thảo luận, người dạy chưa tổ chức cho người
học thảo luận mẫu, hoặc cho dù có tổ chức thì đó cũng chỉ là sự ưu tiên đặc quyền
cho những người thích hùng biện hoặc có tiếng nói lớn trong buổi thảo luận.
Khả năng tiến hành một buổi thảo luận tốt luôn dựa vào một kế hoạch chu đáo và việc
nhận thức đầy đủ các ưu điểm của phương pháp thảo luận nói trên, qua đó đánh giá
chính xác giá trị của thảo luận đối với người học. Tôi luôn là những người ủng hộ
phương pháp thảo luận, vì nó có thể mang lại sự hứng thú học tập cho học sinh, đồng
thời khiến cho không khí học tập luôn sôi động.
Phần III. MỘT SỐ ÁP DỤNG CỤ THỂ
hợp chất với H của các nguyên tố chu kì 2, chu kì 3 và nhóm IIIA) và hệ thống câu hỏi
thảo luận, hệ thống câu hỏi kiểm tra kiến thức sau bài học.
HS: đọc kĩ bài học trước ở nhà.
III. Phương pháp dạy học: thảo luận nhóm, diển giảng, đàm thoại, trực quan sinh
động.
Cách thức thực hiện:
Chia lớp học thành 4 nhóm. Mỗi bàn 4 HS, hai bàn kề nhau làm thành 1 nhóm, khi thảo
luận bàn trên sẽ quay xuống cùng trao đổi với các bạn ngồi ở bàn dưới.
- Tất cả các nhóm cùng nghiên cứu 1 nội dung.
- Thời gian để các nhóm tự làm việc khoảng 10 phút/ nội dung.
TT
Nội dung thảo luận
Thời gian làm
việc nhóm
Nghiên cứu kĩ cấu hình e của các nguyên tố cùng 1 chu
7 phút
kì (từ chu kì 2 đến chu kì 7) thuộc nhóm A. Cho biết sự
1
biến đổi cấu hình e của chúng như thế nào? Đưa ra dẫn
chứng cụ thể để minh họa .
Từ sự biến đổi cấu hình e lớp ngoài cùng, điện tích hạt
10 phút
nhân nguyên tử của các nguyên tố, suy luận để rút ra sự
biến đổi 1 số đại lượng : bán kính nguyên tử, độ âm điện
2
của các nguyên tố theo chu kì và nhóm A. Đưa ra dẫn
chứng cụ thể để minh họa .
Tìm mối quan hệ giữa độ âm điện, bán kính nguyên tử
10 phút
với tính kim loại, tính phi kim, rút ra sự biến đổi tính kim
sunfuric đặc nóng lại có tính chất đặc biệt là tính oxi hóa mạnh.
Vai trò của H2SO4 đối với nền kinh tế quốc dân.
Phương pháp sản xuất H2SO4 trong công nghiệp.
Tính tan của muối sunfat, phương pháp nhận biết gốc sunfat.
Học sinh hiểu:
- H2SO4 loãng có tính axit gây ra bởi ion H+ và tính oxi hóa cũng được quyết định bởi
ion H+
- Axit sunfuric đặc, nóng : tính oxi hóa mạnh gây ra bởi gốc sunfat, trong đó S có số
oxh cao nhất +6.
2/ Về kĩ năng:
HS vận dụng viết được phương trình hóa học của phản ứng chứng tỏ H2SO4 đặc nóng
có tính oxi hóa mạnh (tác dụng với các chất khử : kim loại, một số phi kim và 1 số hợp
chất có tính khử), giải quyết được các dạng toán liên quan.
II. Chuẩn bị:
Giáo viên :
Hóa chất làm thí nghiệm: H2SO4 đặc, H2SO4 loãng, Fe, Cu, giấy quỳ tím, C, đường cát,
FeO, dd NaOH đặc, Fe2O3 , CaCO3.
Dụng cụ: ống nghiệm, đèn cồn, giá thí nghiệm.
Học sinh: chuẩn bị bài trước ở nhà
IV. Phương pháp dạy học: thảo luận nhóm, diển giảng, đàm thoại, trực quan sinh
động.
Chia lớp học thành 4 nhóm. Mỗi bàn 4 HS, hai bàn kề nhau làm thành 1 nhóm. Tất cả
các nhóm cùng nghiên cứu 1 nội dung.
TT
Nội dung thảo luận
Thời
gian làm
việc
nhóm
LI” , tiết 6 (HÓA 11- CƠ BẢN)
I. Mục đích yêu cầu:
1. Về kiến thức:
- Học sinh hiểu bản chất của phản ứng xảy ra trong dung dịch các chất điện li là phản
ứng giữa các ion.
- Để xảy ra phản ứng trao đổi ion trong dung dịch các chất điện li phải có ít nhất một
trong các điều kiện sau: tạo thành chất kết tủa; tạo thành chất điện li yếu; tạo thành chất
khí.
2. Về kỹ năng:
- Quan sát hiện tượng thí nghiệm để biết có phản ứng hóa học xảy ra.
- Dự đoán kết quả phản ứng trao đổi ion trong dung dịch các chất điện li.
- Viết được phương trình ion đầy đủ và thu gọn.
- Tính khối lượng kết tủa và khối lượng khí sau phản ứng, tính % các chất trong hỗn
hợp, tính nồng độ mol ion thu được sau phản ứng.
II. Chuẩn bị:
1. Giáo viên: Dụng cụ : Ống nghiệm, ống nhỏ giọt, kẹp ;
Hóa chất: các dung dịch : Na2SO4, BaCl2, NaOH, HCl , Na2CO3, giấy
quỳ tím.
2. Học sinh: Xem trước bài học
3. Phương pháp: - Dạy học nêu vấn đề.
- Sử dụng thí nghiệm theo phương pháp nghiên cứu theo nhóm
- Đàm thoại.
Chia lớp học thành 4 nhóm.
Giáo viên chuẩn bị sẵn 4 khay hóa chất, ống nghiệm, mỗi nhóm 1 khay. Sau khi mở đầu
bài học, giáo viên yêu cầu học sinh:
- Tiến hành các thí nghiệm:
Dung dịch BaCl2 + dung dịch Na2SO4;
Dung dịch NaOH + dung dịch HCl;
cồn.
- Hóa chất: lá Cu mỏng cắt nhỏ, đinh sắt rữa sạch, dung dịch HNO3 đặc, dung
dịch HNO3loãng, dung dịch NaOH đặc, than, bột FeO, giấy quỳ tím, CaCO3
* Học sinh: chuẩn bị bài trước ở nhà.
III. Phương pháp dạy học: thảo luận nhóm, diển giảng, đàm thoại, trực quan sinh
động.
Chia lớp học thành 4 nhóm. Mỗi bàn 4 HS, hai bàn kề nhau làm thành 1 nhóm, khi thảo
luận bàn trên sẽ quay xuống cùng trao đổi với các bạn ngồi ở bàn dưới.
Giáo viên chuẩn bị sẵn 4 khay hóa chất, dụng cụ. Mỗi nhóm 1 khay.
- Tất cả các nhóm cùng nghiên cứu 1 nội dung.
TT
Nội dung thảo luận
Thời gian làm việc
nhóm
Hs quan sát dung dịch HNO3đ và thử tính tan trong
3 phút
nước của nó. Nêu 1 số tính chất vật lý quan trọng
1
của HNO3. Tại sao dung dịch HNO3 để lâu có màu
vàng?
Viết phương trình điện li của dung dịch HNO3trong
3 phút
nước. Cho biết số oxi- hoá của N trong gốc nitrat.
2
Phán đoán tính chất hóa học của dung dịch HNO3.
Tiến hành các thí nghiệm để chứng minh HNO3 là 1
2. Về kỹ năng:Vận dụng kiến thức để đánh giá chất lượng các loại phân bón và
làm một số dạng bài tập có liên quan.
II. Chuẩn bị:
1. Giáo viên: Hệ thống câu hỏi để học sinh tự nghiên cứu, bài giảng powerpoint
2. Học sinh: soạn nội dung được giao trên powerpoint, nghiên cứu kĩ để thuyết trình.
III. Phương pháp: Sử dụng phương pháp thảo luận nhóm, đàm thoại nêu vấn đề kết
hợp với phương tiện trực quan.
- GV chia lớp thành 4 nhóm và phân công mỗi nhóm một đề tài, được soạn thảo
trên powerpoint.
TT
Nội dung thảo luận
Thời gian
làm
việc
nhóm
- Vai trò của phân đạm ? Tiêu chí đánh giá chất lượng phân
Nhóm đạm?
- Phân loại. Đặc tính, ưu, nhược điểm của từng loại.
1
- Phương pháp điều chế mỗi loại phân.
Bằng kiến thức đã học:
- làm sáng tỏ câu ca dao:” lúa chiêm lấp ló đầu bờ, hể nghe
tiếng sấm phất cờ mà lên”.
- Phân đạm amoni có nên bón cho đất chua hay không? Giải
TL1
thích.
- Có thể trộn bột vôi và đạm amoni cùng lúc để bón cho đất
chua? Giải thích.
5 phút
Nhóm 2 cử
đại
diện
trình bày 7
phút
3 phút
Nhóm 3 cử
đại
diện
trình bày 7
phút.
Nhóm 3 cử
đại
diện
trình bày 7
phút.
- GV phát phiếu ghi bài cho Học sinh.
Bài 15. PHÂN BÓN HÓA HỌC
Khái niệm:
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
…………
Vai trò của phân bón:
3. Phân đạm ure
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
Điều chế:
……………………………………………………………………………………………
Không thích hợp bón cho vùng đất ...............................
Ưu, nhược điểm của từng loại phân:
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
II. PHÂN LÂN
Cung cấp ……………… cho cây dưới dạng……………………..
Vai trò của phân lân:
……………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………………
Độ dinh dưỡng của phân = ………………………………………………
1. Supephotphat: Có ……….. loại
a. Supephotphat đơn:
Thành phần:……………………………………………………………………………
Điều chế:
.............................................................................................................................................
b. Supephotphat kép
Thành phần:
………………………………………………………………………………
Điều chế:
.............................................................................................................................................
2. Phân lân nung chảy:
Thành phần:……………………………………………………………………………
Điều chế:
- Học sinh ghi bài.
- GV củng cố:
Ví dụ 5: Bài 20 “SỰ ĂN MÒN KIM LOẠI” (tiết 31, 32)
I . MỤC TIÊU.
1. Kiến thức:
- Hiểu các khái niệm: ăn mòn kim loại, ăn mòn hoá học và ăn mòn điện hoá.
- Hiểu các điều kiện, cơ chế và bản chất của ăn mòn hoá học và ăn mòn điện hoá học.
- Hiểu nguyên tắc và các biện pháp chống ăn mòn kim loại.
2. Kĩ năng
- Phân biệt được hiện tượng ăn mòn hoá học và ăn mòn điện hoá kim loại xảy ra trong
tự nhiên, trong đời sống gia đình, trong sản xuất.
- Biết sử dụng các các biện pháp bảo vệ đồ dùng, các công cụ lao động bằng kim loại
chống sự ăn mòn kim loại.
- Biết cách giữ gìn những đồ vật bằng kim loại được tráng, mạ bằng kẽm, thiếc.
II . CHUẨN BỊ :
1. Giáo viên:
Chuẩn bị thí nghiệm về ăn mòn điện hoá :
Dụng cụ : - Cốc thuỷ tinh loại 200 ml
- Bóng đèn pin 1,5 V hoặc vôn-kế
- Dây dẫn
Hoá chất: 150 dung dịch H2SO4 1 M, lá Zn và lá Cu
Chuẩn bị thí nghiệm chống ăn mòn kim loại bằng phương pháp điện hoá:
Dụng cụ :
- 2 cốc thuỷ tinh loại nhỏ, hoặc ống nghiệm.
- Một số đinh sắt sạch, dây kẽm hoặc dây nhôm.
Hoá chất - Dung dịch H2SO4 loãng, dung dịch kali feroxinua (thuốc thử
Xác định chất cho e, nhận e, sự dịch chuyển e giữa các chất
trong phương trình phản ứng.
Từ 2 thí nghiệm trên, cho biết sự giống và khác nhau về hiện
TL 3 tựơng và bản chất giữa 2 kiểu ăn mòn: ăn mòn hóa học và ăn 5 phút
mòn điện hóa, rút ra điều kiện để xãy ra sự ăn mòn điện hóa.
4 phút
TL 4 Áp dụng: giải thích hiện tượng và cơ chế của:
hiện tượng gỉ sét.
Hai sợi dây Al – Zn nối với nhau dùng để phơi quần áo
ở ngoài trời sau 1 thời gian.
Sau khi nghiên cứu các cơ chế ăn mòn kim loại, hãy đề xuất 1
7 phút.
TL 5
số giải pháp để bảo vệ kim loại. Cho 1 số ví dụ cụ thể
- Giáo viên giám sát quá trình tiến hành thí nghiệm của các nhóm, điều chỉnh các
thao tác thí nghiệm chưa đúng, chú ý cho học sinh phải đậy kín bình phản ứng vì
H2 thoát ra có thể gây khó chịu.
- Sau khi hết thời gian quy định, Giáo viên mời ngẩu nhiên 1 nhóm, nhóm được
mời cử đại diện trả lời. Các nhóm còn lại chú ý tập trung lắng nghe phần trình
bày của các bạn, nhận xét, bổ sung để kiến thức hoàn chỉnh hơn.
- Giáo viên nhận xét, đánh giá, sữa chữa, bổ sung những kiến thức còn thiếu hoặc
chưa chuẩn xác, rút kinh nghiệm, cho điểm học sinh.
- GV hệ thống hóa kiến thức, học sinh ghi bài.
- Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm củng cố bài học.
Ví dụ 6: Bài “ NHÔM & HỢP CHẤT CỦA NHÔM” (tiết 45, 46, 47)
Tiết 45. Vị trí, tính chất vật lý, tính chất hóa học của nhôm.
I. Mục tiêu – yêu cầu của tiết học:
1. Kiến thức:
- Thí nghiệm 1: rắc ít bột nhôm vào ngọn lửa đèn cồn.
15 phút
TL 2 - Thí nghiệm 2: lấy 2 ống nghiệm đựng dung dịch NaOH và
dung dịch HCl, cho lá Al nhỏ vào.
- Thí nghiệm 3: cho lá nhôm vào dung dịch H2SO4 đặc, quan
-
sát ở nhiệt độ thường và đun nóng.
- Thí nghiệm 4: Cho lá nhôm vào dung dịch CuSO4.
Ở mỗi thí nghiệm, ghi nhận hiện tượng quan sát được về sự
biến đổi chất rắn, màu sắc của dung dịch, khả năng phản ứng,
sản phẩm tạo ra. Viết phương trình phản ứng ở dạng phân tử và
ion thu gọn.
Mô tả các hiện tượng hóa học quan sát được ở mỗi TN, viết
7 phút
TL 3
phương trình phản ứng ở dạng phân tử và ion thu gọn.
Nguyên liệu dùng để sản xuất Al trong công nghiệp, trình bày
10 phút
TL 4 cách loại bỏ các tạp chất trong quặng boxit. Mô tả các quá
trình xãy ra ở các điện cực trong bình điện phân
- Giáo viên giám sát quá trình tiến hành thí nghiệm của các nhóm, điều chỉnh các
thao tác thí nghiệm chưa đúng, chú ý cho học sinh phải hết sức thận trọng khi sử
dụng H2SO4 đặc.
- Sau khi hết thời gian quy định, Giáo viên mời ngẩu nhiên 1 nhóm, nhóm được
mời cử đại diện trả lời. Các nhóm còn lại chú ý tập trung lắng nghe phần trình
bày của các bạn, nhận xét, bổ sung để kiến thức hoàn chỉnh hơn.
- Giáo viên nhận xét, đánh giá, sữa chữa, bổ sung những kiến thức còn thiếu hoặc
chưa chuẩn xác, rút kinh nghiệm, cho điểm học sinh.
Sĩ số
1
GV Nguyễn Minh Thư
11A2
39
11A1
41
2
GV Phan Thị Thùy Trang
10 T1
33
10 Anh 2
33
12A1
42
- Với nhóm đối chứng: Việc giảng dạy được tiến hành bình thường như phương pháp
truyền thống (Người Thầy đóng vai trò chủ đạo)
- Với nhóm thực nghiệm: Chúng tôi đã phối hợp thực hiện các phương pháp dạy
học như đã đề xuất ở phần 2.
Chúng tôi thường xuyên trao đổi về tình hình học tập của HS và thống nhất biện
pháp phối hợp thực hiện.
Bước 4: Tiến hành kiểm tra
- Chúng tôi đã tiến hành kiểm tra viết cho HS gồm: 9 bài, thời gian: 20 phút/1 bài.
- Hình thức kiểm tra là TNKQ và tự luận (tỉ lệ điểm tương ứng là 5 : 5) cho mỗi bài
kiểm tra.
- Yêu cầu kiểm tra: nghiêm túc, tuyệt đối không trao đổi, không xem tài liệu trong
lúc kiểm tra nhằm thực hiện tốt cuộc vận động hai không với bốn nội dung do Bộ GD và
ĐT đã đề ra.
Bước 5: Xử lý kết quả thực nghiệm
Kết quả thực nghiệm được xử lí theo phương pháp thống kê toán học, các bước
thực hiện như sau:
1. Lập bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất tích lũy.
2. Vẽ đồ thị các đường tích lũy.
3. Lập bảng tổng hợp phân loại kết quả học tập.
4. Tính các tham số thống kê đặc trưng.
* Trung bình cộng ( x ): Điểm trung bình cộng cho phép đánh giá phần nào hiệu
quả giảng dạy của phương pháp. Điểm trung bình cộng được tính bởi công thức:
x
n1 x1 n2 x2 nk xk 1 k
ni xi
n1 n2 nk
n i 1
ni: tần số của các giá trị xi;
* Sai số tiêu chuẩn (m): khoảng sai số của điểm trung bình cộng.
mS/ n
Giá trị x sẽ dao động trong khoảng x m
5. Kiểm định giả thuyết thống kê: Khi đã xác định lớp TN có điểm trung bình cộng cao
hơn lớp ĐC và các giá trị như hệ số biến thiên, sai số tiêu chuẩn nhỏ hơn lớp ĐC, vẫn
chưa thể kết luận hiệu quả của phương pháp giảng dạy. Để kết luận sự khác biệt về kết
quả học tập của hai nhóm TN và ĐC là có ý nghĩa hay không, ta dùng phép thử Student
theo các bước:
- Đặt giả thiết H0: “Sự khác nhau giữa hai giá trị điểm trung bình cộng của lớp
TN-ĐC là không có ý nghĩa”.
- Xét đại lượng kiểm định t theo công thức:
Trong đó s=
t=
x 2 -x1 n1.n 2
.
s
n1 +n 2
(n1 -1)s12 +(n 2 -1)s 2 2
n 2 , n1 : số HS của lớp TN, ĐC
n1 +n 2 -2
x 2 , x1 : trung bình cộng lớp TN, ĐC
s 2 2 , s12 : phương sai của lớp TN, ĐC
- Tìm giá trị tới hạn tα trong bảng phân phối t ứng với mức ý nghĩa α và bậc tự do
f = n1+n2- 2.
A. 1 < 3 < 2 < 4
B. 1 < 2 < 3 < 4 .
C. 3 < 1 < 2 < 4.
D. 2 < 3 < 1 < 4.
5. So sánh tính axit của H2SiO3, H2SO4, HClO4 , H3PO4
A. H2SiO3> H2SO4> HClO4 > H3PO4
B. HClO4> H2SO4> H3PO4 > H2SiO3
C. HClO4> H3PO4 >H2SO4> H2SiO3
D. HClO4> H2SO4 > H3PO4 > H2SiO3
Phần tự luận (5đ)
Bài 1: Phần trăm khối lượng của nguyên tố R trong hợp chất khí với hiđro (R có số oxi
hóa thấp nhất) và trong oxit cao nhất tương ứng là a% và b%, với a : b = 11 : 4.
Xác định R. (2,5đ)
Bài 2: Hai nguyên tố A, B thuộc hai nhóm chính liên tiếp nhau trong bảng HTTH .
Nguyên tố B thuộc nhóm VA , ở trạng thái đơn chất A, B không phản ứng với nhau ,
tổng số proton trong hạt nhân nguyên tử của A và B là 23. Xác định A, B . (2,5đ)
ĐỀ KIỂM TRA LẦN 2 KHỐI 10 (Thời gian 20’)
Phần trắc nghiệm khách quan.(5đ)
(Chọn đáp án đúng mỗi câu được 1 đ)
1. Cặp kim loại nào dưới đây thụ động trong H2SO4 đặc nguội?
A. Zn, Al
B. Zn, Fe
C. Al, Fe
D. Cu, Fe
2. Mỗi chất trong dãy sau chỉ phản ứng với dung dịch axit sunfuric đặc, nóng mà không
phản ứng với dung dịch axit sunfuric loãng A. Al, Fe, FeS2, CuO.
B. Cu, S.
C. Al, Fe, FeS2, Cu
A. Sục khí SO2 vào dung dịch brom
B. Đun nóng lưu huỳnh bột với H3PO4 đặc, nóng
C. Sục khí clo vào dung dịch H2S
D. Pha loãng oleum bằng nước
2.
Số mol H2SO4 (đặc, nóng) dùng trong phản ứng nào dưới đây là nhiều nhất, biết
số mol chất khử trong mỗi phản ứng là bằng nhau ?
A. Fe + H2SO4 B. Cu + H2SO4
C. S + H2SO4
D. HI + H2SO4