LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Thế Bình,
người đã hướng dẫn hết sức chu đáo, nhiệt tình, tận tâm trong suốt quá trình
thực hiện đề tài này.
Xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Tổ bộ môn Lý luận và
phương pháp dạy học Lịch sử, Khoa Lịch sử, Trung tâm thông tin thư viện,
Phòng quản lý Khoa học trường Đại học sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường.
Xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình, cùng các anh
chị em, bạn bè thân thiết đã giúp đỡ tôi, động viên tôi trong quá trình thực
hiện và hoàn thành Luận văn này!
Hà Nội, ngày tháng 7 năm 2015
Tác giả
Khổng Thị Thu
1
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
2
Chữ viết tắt
Giải thích
GD
Giáo dục
DHLS
THPT
Trung học phổ thông
MỤC LỤC
3
PHẦN MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài
Bối cảnh phát triển kinh tế xã hội của đất nước và quốc tế đặt ra những
yêu cầu mới cho giáo dục. Việt Nam đang ở trong giai đoạn đẩy mạnh công
nghiệp hóa – hiện đại hóa, hơn nữa nước ta đã gia nhập WTO (2006) và trực
tiếp tham gia tích cực vào quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế. Xu thế ấy
đã tác động đến kinh tế xã hội cũng như thị trường lao động Việt Nam đòi hỏi
phải có những con người lao động toàn diện, có tư tưởng, đạo đức, lòng yêu
nước, có tư duy sáng tạo và năng lực GQVĐ.
Vấn đề đổi mới PPDH, đã và đang được Bộ GD và ĐT đặc biệt quan
tâm. Mục đích của sự đổi mới là yêu cầu sản phẩm giáo dục tạo ra phải là
những con người có nhân cách, sáng tạo, năng động, tự lập, tự chủ trong việc
giải quyết các tình huống thực tế của đời sống. Điều 28 Luật giáo dục (sửa đổi
bổ sung 2010) cũng đã nêu: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm
từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận
dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng
được hình thành và phát triển trong quá trình giáo dục đào tạo. Tuy nhiên,
trên thực tế việc đổi mới PPDH “lấy học sinh làm trung tâm” phát triển năng
lực người học-năng lực GQVĐ trong DHLS ở trường phổ thông còn nhiều
hạn chế, chất lượng dạy học bộ môn lịch sử chưa cao, chỉ chú trọng việc
truyền thụ tri thức, ít vận dụng kiến thức GQVĐ thực tiễn đặt ra. PPDH chủ
yếu vẫn là thông báo, tiếp nhận, HS học thụ động. Thực tế trên hạn chế việc
phát huy tính tích cực, tự lực, sáng tạo, năng động, phát triển các năng lực
chung và năng lực GQVĐ nói riêng .
Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ XV đến giữa thế kỉ XIX có vị trí quan trọng
trong tiến trình phát triển thăng trầm của lịch sử dân tộc. Giai đoạn này có sự
5
biến đổi to lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau và nhiều sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử cần phải lý giải, chứng
minh. Trong quá trình DHLS, HS tìm hiểu được bản chất của các sự kiện,
hiện tượng đó sẽ góp phần phát triển được năng lực GQVĐ cho HS, nhất là
những vấn đề liên quan đến thực tiễn cuộc sống đặt ra hiện nay.
Như vậy, trên cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, với mong muốn đóng
góp một phần nhỏ công sức của mình vào việc nâng cao chất lượng DHLS
theo hướng phát triển năng lực người học, chúng tôi đã chọn vấn đề: “Phát
triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học Lịch sử Việt
Nam ở trường THPT (thế kỉ XV đến giữa thế kỉ XIX)-Chương trình
chuẩn” làm đề tài luận văn cao học.
2.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề năng lực nói chung và phát triển năng lực GQVĐ nói riêng
trong DHLS được nhiều nhà nghiên cứu giáo dục, lí luận dạy học ở cả trong
nước và ngoài nước quan tâm. Có rất nhiều công trình đề cập tới vấn đề này.
Cuốn “Chuẩn bị bài học lịch sử như thế nào?” của Đai ri, người dịch
Đặng Bích Hà, Nguyễn Cao Lũy, NXB GD Hà Nội, năm 1973, đã trình bày
một vấn đề quan trọng về bài học lịch sử. Tác giả đưa ra nhiều phương thức
giải quyết giờ học lịch sử theo hướng mới, trong đó nhấn mạnh đến bài tập
nhận thức nhằm phát huy óc suy nghĩ độc lập, sáng tạo và tích cực trong nhận
thức của HS.
Khalamop- nhà giáo dục Xô Viết trong cuốn “Phát huy tính tích cực học
tập của học sinh như thế nào”, Nxb Giáo dục Hà Nội, 1976 đã đưa ra được
những kết quả tích cực của công trình thực nghiệm nhiều năm về dạy học phát
huy tính tích cực của HS. Ông đã nêu được tên quy luật chung của dạy học nêu
vấn đề, cách áp dụng phương pháp đó vào các ngành khoa học cụ thể.
Cuốn “Dạy học nêu vấn đề” của Lecne, Phạm Tất Đắc dịch, Nxb GD,
năm 1977, đã làm rõ của bản chất dạy học nêu vấn đề. Ông coi đây là một
phương pháp hiệu quả để kích thích hoạt động sáng tạo, phát huy tính tích cực
nhận thức HS, nang cao hiệu quả bài học.
Trong cuốn “Các phương pháp dạy học hiệu quả” (năm 2011) của tác
giả Robert.J.Marzano-Debra J.Pikering-Jane E.Pollock, người dịch Nguyễn
7
Hồng Vân, gồm 13 chương được đưa ra với mục đích phát huy cao độ khả
năng học tập của HS. Trong đó, nhân tố quan trọng là GV cần có tầm nhìn
trong việc lựa chọn, áp dụng PPDH thích hợp và tác giả đặc biệt coi trọng
phương pháp tạo và kiểm định các giả thuyết đề ra những giải pháp khác nhau
nhằm giúp HS phát triển năng lực GQVĐ trong thực tiễn cuộc sống.
Cuốn “Quản lý lớp học hiệu quả” (năm 2011) của Robert J.Marzano,
người dịch Phạm Trần Long, chỉ rõ GV có vai trò lớn trong quản lý lớp học
bằng cách tổ chức các hoạt động để phát huy tính tích cực tự giác và chủ động
giúp HS “tư duy qua từng bước” để rèn kỹ năng xã hội và GQVĐ trong đó
nhấn mạnh học theo nhóm và hợp tác.
Ở Việt Nam, việc đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tích cực,
độc lâp đặc biệt là phát triển năng lực HS đã và đang được nghiên cứu trong
những năm gần đây.
Hội nghị ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 2, khóa XIII đã
khẳng định “Đổi mới phương pháp giáo dục, đào tạo, khắc phục lối truyền
thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước
áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy
học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh”[8,
3]. Đặc biệt trong Luật Giáo dục (sửa đổi năm 2010), “Phương pháp giáo dục
phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp
với đặc điểm của từng lớp học, bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm
việc nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến
tình cảm niềm vui hứng thú học tập cho học sinh” [31,30].
-
Tài liệu giáo dục học và tâm lý học:
Các nhà giáo dục học, đặc biệt quan tâm đến vấn đề phát huy tính tích
cực, đọc lập và phát triển kĩ năng cho HS. Trong cuốn “Giáo dục học” tập 1
của Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt (Nxb GD, Hà Nội, 1987)và cuốn “Những
vấn đề cơ bản của giáo dục học hiện đại” nhà xuất bản Giáo dục (1998) của
Thái Duy Tuyên đã đề cập tới những vấn đề chung của lý luận dạy học hiện
9
đại từ cơ sở triết học của giáo dục đến các đối tượng, mô hình của giáo dục…
Tác giả đã cung cấp cái nhìn toàn diện hơn về lý luận dạy học hiện đại, đặc
biệt là việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS.
Trong giáo trình “Giáo dục học” tập 1 của Trần Tuyết Oanh chủ biên
(2009) Nxb ĐHSP Hà Nội đã đi sâu về các biện pháp để phát triển tư duy cho
Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi (1990).
Đến cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử” tập 1,2 của Phan Ngọc Liên (chủ
biên), Nxb Đại học sư phạm (2000), cũng dành một chương nói về tầm quan
trọng của việc phát triển năng lực nhận thức và thực hành cho HS trong
DHLS nhất là vận dụng kiến thức để GQVĐ của thực tiễn thông qua các câu
hỏi, bài tập có vấn đề.
Cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử” của Phan Ngọc Liên chủ biên,
Nxb ĐHSP (tái bản 2012) một lần nữa khẳng định cần phát triển năng lực
thực hành theo phương châm “học đi đôi với hành”, “lý luận gắn liền với thực
tiễn”. Đồng thời, các tác giả nhắc đến “đóng vai” để diễn lại các câu chuyện
lịch sử giúp học sinh hứng thú, khắc sâu kiến thức đã học.
-
Chuyên khảo:
Cuốn “Phương pháp dạy học truyền thống và đổi mới”, Nxb Giáo dục
2010 của Thái Duy Tuyên đưa ra các PPDH hiện đại như dạy học nêu vấn đề,
dạy học theo thuyết kiến tạo, dạy học tương tác… Tác giả cho rằng các hệ
thống phương pháp mới này còn tương đối mới mẻ ở nước ta và cũng là xu
hướng chung của thế giới ngày nay để hình thành cho HS các năng lực chủ
yếu: năng lực hợp tác, năng lực GQVĐ. “Điều quan trọng của đổi mới
phương pháp là thầy dạy thế nào để học sinh động não, để làm thay đổi hoạt
động trí tuệ của học sinh, làm phát triển trí thông minh, trí sáng tạo của người
học” [51,445].
Cuốn “Dạy và học tích cực – một số phương pháp và kĩ thuật dạy học” dự
án Việt – Bỉ, Nxb ĐHSP, 2010, chỉ ra các đặc trưng của PPDH tích cực: phương
pháp dự án, hợp tác, dạy học theo hợp đồng… để tích cực hóa hoạt động học tập
11
và phát triển tính sáng tạo của người học. Trong đó các hoạt động được tổ chức,
cho chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam” của Bộ GD và ĐT Hà Nội,
2012, đã tập hợp nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu về giáo dục, PPDH,
đưa ra các mô hình giáo dục tiên tiến của các nước như Đức, Pháp, Niudilan,
Singapo…từ đó các tác giả đã xác định khung năng lực chung cốt lõi cho
chương trình giáo dục phổ thông sau 2015. Trong đó, lưu ý đặc biệt tới năng
lực GQVĐ và coi đây là năng lực cốt lõi.
Trần Bá Hoành với các bài “Dạy học lấy học sinh làm trung tâm” trên
tạp chí NCGD số 1/1994, “Dạy học tích cực” trên tạp chí NCGD số 3/1996
nhấn mạnh, thế nào là dạy học lấy HS làm trung tâm, chỉ ra đặc trưng của dạy
học tích cực. Tiêu biểu Nguyễn Văn Ninh với bài viết “Vận dụng phương
pháp đóng vai trong dạy học lịch sử ở trường THPT nhằm phát triển toàn
diện học sinh” trên tạp chí giáo dục số 33/2014 đã làm rõ khái niệm đóng vai,
phương pháp đóng vai, đưa ra một số biện pháp về phương pháp đóng vai và
ý nghĩa vai trò của PPDH này trong DHLS ở trường THPT.
Luận án “Phát triển chương trình giáo dục phổ thông theo định hướng
phát triển năng lực người học” của Lương Việt Thái, Viện Khoa học Giáo
dục Việt Nam (2011) đã đề xuất phương hướng tổ chức chương trình, xác
định nội dung, phương pháp, phương tiện giáo dục theo định hướng phát triển
năng lực. Trong đó, tác giả chú trọng đến những năng lực, kỹ năng cần cho
HS suốt đời như năng lực hợp tác, năng lực GQVĐ, năng lực giao tiếp, năng
lực sáng tao…và phải sáng tạo hướng dẫn HS giải quyết các tình huống, bối
cảnh thực tiễn.
Luận văn “Một số biện pháp nâng cao năng lực thực hành cho học sinh
lớp 12 qua dạy học Lịch sử Việt Nam từ năm 1919 đến năm 1975” của Vũ
Ánh Tuyết, ĐHSP Hà Nội,2004 đã tìm hiểu khái quát vấn đề năng lực, năng
lực thực hành và làm rõ những vấn đề lý luận về việc nâng cao năng lực thực
hành cho HS đồng thời đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao năng lực
thực hành cho HS trong DHLS.
13
luận chung, chưa có công trình nào đi sâu, phân tích về việc phát triển năng
lực GQVĐ cho HS THPT. Chính vì vậy, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài
“Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt
Nam (từ thế kỉ XV đến giữa thế kỉ XIX) ở trường THPT-Chương trình chuẩn”
làm hướng nghiên cứu luận văn của mình, góp phần nâng cao chất lượng bộ
môn, phát triển năng lực cho HS đáp ứng yêu cầu xã hội hiện đại.
3.
3.1.
Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Quá trình dạy học Lịch sử Việt Nam ở trường phổ thông từ thế kỉ XV
đến giữa thế kỉ XIX (Chương trình chuẩn) và các biện pháp phát triển năng
lực GQVĐ cho HS trong DHLS.
3.2.
Phạm vi nghiên cứu
Về lí luận DHLS: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu năng lực GQVĐ và
đề xuất các biện pháp phát triển năng lực GQVĐ cho HS trong DHLS Việt
Nam ở trường THPT.
Phạm vi điều tra: Do điều kiện, thời gian hạn hẹp chúng tôi chỉ điều tra
ở bốn trường THPT thuộc tỉnh Bắc Ninh.
Phạm vi thực nghiệm: Đề tài thực nghiệm một bài học ở trường THPT
Yên Phong số 2 – Bắc Ninh.
Phạm vi vận dụng: Lớp 10 THPT trong giờ học nội khóa phần Lịch sử
Việt Nam từ thế kỉ XV đến giữa thế kỉ XIX.
Cơ sở phương pháp luận
Trên cơ sở thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lên
Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà
nước về công tác giáo dục, đổi mới PPDH nhằm phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo, phát triển các năng lực chung của HS, đào tạo thế hệ trẻ.
Đề tài dựa vào quan điểm lí luận dạy học trong Giáo dục học, tâm lý,
phương pháp dạy học bộ môn có liện quan.
5.2.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu các văn bản, nghị quyết của Đảng,
Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo, tài liệu Tâm lý học, Giáo dục học, Giáo
dục lịch sử có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Điều tra, khảo sát thực tiễn việc phát triển năng lực GQVĐ cho HS
trong DHLS ở trường THPT.
Nghiên cứu nội dung chương trình Lịch sử Việt Nam lớp 10- THPT để
đề ra một số biện pháp phát triển năng lực GQVĐ.
Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính đúng đắn và khả thi của đề tài
Sử dụng xác xuất thống kê để xử lý kết quả của thực nghiệm.
6.
Giả thuyết khoa học
16
Việc đổi mới PPDH nói chung, PPDH lịch sử nói riêng là một xu thế
tất yếu của nền giáo dục hiện đại, nhất là trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện
phát triển năng lực GQVĐ cho học HS trong DHLS Việt Nam từ thế kỉ XV đến
giữa thế kỉ XIX ở trường THPT – Chương trình chuẩn.
9.
Cấu trúc của luân văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn
chia làm hai chương:
Chương I: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc phát triển năng lực giải
quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THPT.
Chương II: Một số nguyên tắc và phương pháp dạy học để phát triển
năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam (thế
kỉ XV đến giữa thế kỉ XIX) ở trường THPT - Chương trình chuẩn.
18
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC
SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG
HỌC PHỔ THÔNG
1.1.
1.1.1.
Cơ sở lí luận
Về các khái niệm liên quan đến phát triển năng lực giải quyết vấn đề
Khái niệm về năng lực
Khái niệm năng lực (competency) có nguồn gốc từ tiếng La tinh
“competentia” có nghĩa là gặp gỡ. Ngày nay khái niệm năng lực được hiểu
nhau về vấn đề năng lực. Từ đó, chúng tôi cho rằng năng lực là khả năng thực
hiện (giải quyết) có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các
nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề
nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh
nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động. Năng lực không phải là một thuộc
tính đơn nhất mà là là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là một tổng thể của
nhiều yếu tố có liên hệ tác động qua lại, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như
tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, vai trò, đạo đức…Năng lực là một tổng hòa phức
tạp của kiến thức, kỹ năng và thái độ, của tiêu chí và giá trị. Nghĩa là năng lực
không phải là cái có sẵn, tồn tại trong mỗi con người mà ban đầu chỉ có tư
chất của năng lực, nhưng tư chất này được dần hình thành và phát triển, tích
lũy trong quá trình học tập và lao động. Năng lực của cá nhân là sự tổng hòa
của kiến thức, kỹ năng, thái độ và kinh nghiệm, linh hoạt cần vận dụng để
thực hiện một nhiệm vụ trong một bối cảnh thực và có nhiều biến động.
Có nhiều người quan niệm năng lực đồng nghĩa với kỹ năng nhưng
thực chất, kỹ năng là “sự thực hiện có kết quả một công việc nào đó (lao động
20
chân tay hay nhận thức) bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh
nghiệm đã có để hành động phù hợp với hoàn cảnh và những điều kiện cho
phép” [12,28]. Theo kỷ yếu Hội thảo hệ thống năng lực chung cốt lõi của học
sinh cho chương trình giáo dục phổ thông Việt Nam “kỹ năng là phương thức
vận dụng tri thức vào hoạt động thực hành đã được củng cố” và “kiến thức,
kỹ năng, kỹ xảo là cần thiết để hình thành năng lực trong một lĩnh vực nào
đó” [12,27]. Chẳng hạn, sẽ không thể có năng lực lịch sử nếu không có kiến
thức lịch sử, không thể có năng lực toán học nếu không có kiến thức toán học.
Tuy nhiên, kỹ năng chỉ là một yếu tố quan trọng trong tổ hợp nhiều yếu tố tạo
nên năng lực (yếu tố cần nhưng chưa đủ). Năng lực lại là một hệ thống phức
tạp bao gồm cả kỹ năng. Bởi một năng lực là tổ hợp đo lường của các kiến
Từ những quan điểm trên, chúng tôi cho rằng năng lực GQVĐ bao gồm
năng lực phát hiện vấn đề và năng lực GQVĐ. Trong đó, năng lực phát hiện
vấn đề là năng lực tổ hợp trí tuệ của HS khi đứng trước những vấn đề, những
nhiệm vụ cụ thể có mục tiêu và hướng đích, đòi hỏi phải huy động những khả
năng tư duy tích cực và sáng tạo nhằm tìm ra lời giải hoặc giải pháp cho vấn
đề; năng lực GQVĐ là tổ hợp các năng lực thể hiện ở các kỹ năng (thao tác tư
duy và hành động) trong hoạt động học tập nhằm giải quyết có hiệu quả
những vấn đề học tập, tình huống và nhiệm vụ đặt ra.
Phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trong dạy học
lịch sử
Theo Từ điển Tiếng Việt, “Phát triển là sự biến đổi hoặc làm cho biến
đổi từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức
tạp”; là khuynh hướng vận động đã xác định về hướng của sự vật từ thấp đến
cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Phát triển còn được hiểu theo
nghĩa là cái mới ra đời thay thế cái cũ, cái tiến bộ ra đời thay thế cái lạc hậu…
Hay nói cách khác, phát triển được coi là sự lớn lên về mặt kích thước hay giá
trị, tầm quan trọng của sự vật hay một vấn đề nào đó.
22
Từ khái niệm phát triển, chúng tôi cho rằng phát triển năng lực giải
quyết vấn đề là quá trình tích lũy kiến thức, kỹ năng, thái độ và kinh nghiệm,
làm cho khả năng phát hiện vấn đề, vận dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống
ngày càng thành thạo và hoàn thiện, đạt được mục đích đặt ra trước đó. Trên
cơ sở đó, bản thân sẽ GQVĐ nhanh hơn, chính xác hơn trong những hoàn
cảnh khác nhau qua sự tìm tòi, khám phá, xử lý thông tin.
Đối với HS THPT, năng lực phát hiện và GQVĐ gắn liền với sự hướng
dẫn, điều khiển của GV giúp HS phát hiện vấn đề cần giải quyết. HS có năng
lực GQVĐ thể hiện ở việc, khi gặp một tình huống có vấn đề, các em có thể
tự phát hiện được vấn đề cần giải quyết; chuyển vấn đề thành câu hỏi, bài tập
những yêu cầu mới cho giáo dục. Việt Nam đang ở trong giai đoạn công
nghiệp hóa – hiện đại hóa nền kinh tế xã hội, hơn nữa xu thế hội nhập hiện
nay còn đặt ra những đòi hỏi mới đối với người lao động, giáo dục cần đào
tạo con người mới của thế kỉ XXI. Bởi vậy, phải tiến hành đổi mới giáo dục
và đổi mới PPDH theo hướng phát triển năng lực người học. Hiện nay, Đảng,
Chính phủ đã chủ trương tiến hành cải cách giáo dục, đặc biệt chú trọng tới
nhân tố con người, coi việc khai thác tiềm năng vô tận, năng lực con người là
nhân tố quyết định thắng lợi trước yêu cầu xây dựng xã hội theo mục tiêu
“dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” và bảo vệ Tổ
quốc xã hội chủ nghĩa.
Luật giáo dục (2005), Điều 2 nêu rõ mục tiêu giáo dục nước ta là “đào tạo
con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, trí thức, sức khỏe, thẩm mĩ
và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập của dân tộc và chủ nghĩa xã hội;
hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của người công dân,
đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [13,17]. ….Và mục
tiêu của bộ môn Lịch sử ở trường phổ thông đã được xây dựng trên cơ sở mục tiêu
đào tạo, mục tiêu cấp học, quan điểm, đường lối của Đảng về sử học và giáo dục.
Đồng thời, căn cứ vào nội dung, đặc trưng của hiện thực Lịch sử và nhận thức
Lịch sử, yêu cầu của bối cảnh đất nước hiện nay là: nhằm giúp cho HS có những
kiến thức cơ bản, cần thiết về Lịch sử dân tộc và Lịch sử thế giới, góp phần hình
24
thành ở HS thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, truyền
thống dân tộc, cách mạng, bồi dưỡng các kĩ năng tư duy, hành động, thái độ ứng
xử đúng đắn trong đời sống xã hội.
Như vậy, mục tiêu của bộ môn Lịch sử ở trường THPT phải thực hiện
được những nhiệm vụ cơ bản về: chuẩn kiến thức, kĩ năng, và hướng thái độ.
Trên cơ sở các nhiệm vụ được hình thành và phát triển, GV giúp HS phát