Quản lý việc đào tạo, bồi
dưỡng trình độ cử nhân
cho giáo viên trung học
cơ sở tại Thành phố Cần
Thơ
Đỗ Thị Kim Hai
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Phát triển Giáo dục - Đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực
quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là điều kiện để phát
huy nguồn lực con người. Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo và
cán bộ quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt đóng vai trò quan trọng.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng ta đã xác định một trong những định
hướng chính để phát triển tốt sự nghiệp giáo dục và đào tạo trong thời kỳ tới là tiếp tục nâng
cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống
trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục thực hiện “chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá”.
Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2010, mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo
và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hoá, hiện đại hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số
lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất lối sống, lương
tâm tay nghề của nhà giáo thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả
sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng những đòi hỏi
ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Đề án đổi mới chương trình giáo dục phổ thông xây dựng kế hoạch bồi dưỡng giáo
viên đề ra yêu cầu, về trình độ: Đến năm học 2005-2006, có 90% giáo viên tiểu học đạt trình
độ chuẩn, trong có 50% giáo viên có trình độ cao đẳng sư phạm; 100% giáo viên trung học
cơ sở đạt trình độ cao đẳng sư phạm trở lên, trong đó có 30% giáo viên chủ chốt của các
môn học có trình độ đại học; 100% giáo viên trung học phổ thông có trình độ đại học, trong
thành phố Cần Thơ.
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng quản lý việc đào tạo, bồi dưỡng trình độ cử
nhân cho giáo viên trung học cơ sở tại Thành phố Cần Thơ .
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC:
Khi xác định đúng những khó khăn và thuận lợi của việc quản lý đào tạo, bồi
dưỡng trình độ cử nhân cho giáo viên trung học cơ sở hiện nay tại Thành phố Cần Thơ
thì sẽ giúp định hướng được kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng trình độ cử nhân cho giáo
viên trung học cơ sở.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài
- Tìm hiểu, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý việc đào tạo, bồi dưỡng trình
độ cử nhân cho giáo viên trung học cơ sở tại Thành phố Cần Thơ.
- Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả quản lý việc đào
tạo, bồi dưỡng trình độ cử nhân cho giáo viên trung học cơ sở tại Thành phố Cần Thơ.
6. GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI:
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng quản lý việc đào tạo, bồi dưỡng trình
độ cử nhân cho giáo viên trung học cơ sở tại Thành phố Cần Thơ.
7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Phương pháp nghiên cứu các văn kiện, văn bản, tài liệu… về những nội dung có liên
quan đến đề tài.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi (Bút vấn)
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu
Ngoài ra, quá trình soạn thang được thực hiện theo các bước cụ thể sau:
+ Bước 1: Soạn câu hỏi mở về những nội dung có liên quan
- Đại hội đại biểu lần thứ IX xác định rõ nhiệm vụ của Giáo dục - đào tạo trong thời
kỳ tới là “tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp
dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục, thực hiện “chuẩn hoá, hiện đại
hoá, xã hội hoá”
- Quyết định số 206/1999/QĐ-TTg ngày 25/10/1999 của Thủ tướng Chính phủ về việc
phê duyệt kế hoạch phát triển giáo dục - đào tạo khu vực Đồng bằng sông Cửu Long đến
năm 2000 và giai đoạn 2001 - 2005”.
- Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 11/01/2005 về việc
phê duyệt đề án “Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo
dục giai đoạn 2005 - 2010”.
- Chỉ thị 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban chấp hành trung ương Đảng về việc
“Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục”.
- Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001 - 2010 đã nêu: để đáp ứng yêu cầu về con
người và nguồn lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá, cần tạo chuyển biến cơ bản và toàn diện về giáo dục. Vì vậy, mục tiêu của
Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010 với mục tiêu là “… Ưu tiên nâng cao chất lượng
đào tạo nhân lực, đặc biệt chú trọng nhân lực khoa học - công nghệ trình độ cao, cán bộ quản
lý, kinh doanh giỏi và công nhân kỹ thuật lành nghề góp phần nâng cao sức cạnh tranh của
nền kinh tế; đẩy nhanh tiến độ thực hiện phổ cập trung học cơ sở. Đổi mới mục tiêu, nội
dung, phương pháp, chương trình giáo dục các cấp học, bậc học và trình độ đào tạo, phát
triển đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu vừa tăng qui mô, vừa nâng cao chất lượng, hiệu quả
và đổi mới phương pháp dạy - học; đổi mới quản lý giáo dục tạo cơ sở pháp lý và phát huy
nội lực phát triển giáo dục”… [5, tr.102]
Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010 cũng đề ra giải pháp phát triển đội ngũ nhà
giáo: “Phát triển đội ngũ nhà giáo đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu và chuẩn về
chất lượng đáp ứng nhu cầu vừa tăng qui mô vừa nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục…
Phấn đấu đến 2005 tất cả giáo viên trung học cơ sở có trình độ Cao đẳng Sư phạm trở lên,
trong đó có những giáo viên trưởng, phó các bộ môn có trình độ đại học” [5, tr.107].
giáo viên để thu hút người giỏi vào các trường sư phạm; các trường sư phạm phải được đặc
biệt quan tâm đầu tư đúng hướng nhiều mặt; trường sư phạm khi tiến hành đào tạo và nghiên
cúu khoa học phải tắm mình trong thực tiễn phổ thông và phương pháp đào tạo ở trường sư
phạm phải đổi mới căn bản. Tác giả cũng đưa ra 5 giải pháp về tổ chức bồi dưỡng giáo viên:
Tổ chức tự bồi dưỡng là chủ yếu; việc bồi dưỡng giáo viên phải được tổ chức ngay tại trường
mà họ công tác, do đội ngũ cốt cán có trình độ cao hơn làm nòng cốt; cần có sự nghiên cứu,
biên soạn tài liệu, đặc biệt là tạo ra cơ chế kích thích các trường sư phạm làm việc này; xây
dựng trường điểm về công tác bồi dưỡng giáo viên để nhân điển hình và cán bộ quản lý giáo
dục các cấp, các cơ sở trường học phải được lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng để họ vừa là tấm
gương cá nhân về tự bồi dưỡng, vừa là người có tâm huyết, có kinh nghiệm tổ chức hoạt
động bồi dưỡng trong đơn vị mình quản lý, đặc biệt là nhấn mạnh vai trò Hiệu trưởng các
nhà trường. [1]
Trong tạp chí Nghiên cứu giáo dục số tháng 02/1999, với bài: “Vấn đề đổi mới
phương pháp đào tạo giáo viên” tác giả Cao Đức Tiến cho rằng muốn có một sự chuyển biến
căn bản trong đội ngũ giáo viên thì phải đổi mới hệ thống sư phạm. Thực chất của việc đổi
mới phương pháp đào tạo giáo viên là sự cải tiến phương pháp “dạy cách học” và “dạy cách
dạy” cho các giáo viên tương lai của mình. Còn người học cũng phải đổi mới phương pháp
“học cách học” và “học cách dạy” để làm chủ lấy sứ mệnh nghề nghiệp của mình. [35, tr.16]
Ngoài ra, còn có không ít những công trình nghiên cứu về công tác đào tạo, bồi
dưỡng, đào tạo nâng chuẩn trình độ giáo viên, dự báo về giáo viên,… nhất là giáo viên Trung
học cơ sở, như tác giả Ngô Thị Hạnh nghiên cứu về “Dự báo nhu cầu giáo viên trung học cơ
sở thành phố Hồ Chí Minh tới 2010”, tác giả Mỵ Giang Sơn nghiên cứu về: “Thực trạng và
biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo giáo viên trung học cơ sở ở trường Cao
đẳng sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh”, tác giả Huỳnh Hữu Nhị nghiên cứu về: “Thực trạng
đội ngũ giáo viên trung học cơ sở tỉnh Sóc trăng hiện nay và định hướng nhu cầu đào tạo, bồi
dưỡng đội ngũ này đến nay 2010”. Tác giả Hồ Cảnh Hạnh nghiên cứu “ Một số giải pháp của
Hiệu trưởng trường Cao đẳng sư phạm nhằm đào tạo trình độ trên chuẩn giáo viên tiểu học
tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu”… Và còn nhiều đề tài khác nghiên cứu về vấn đề đào tạo, bồi
- Về mặt hành chính: Toàn thành phố có 08 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 04
quận: Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng, Ô Môn; 04 huyện: Phong Điền, Cờ Đỏ, Thốt Nốt,
Vĩnh Thạnh và có 67 phường, xã, thị trấn.
Thành phố Cần Thơ sau khi chia tách tỉnh được trung ương xác định là “Thành phố
cửa ngõ của cả vùng hạ lưu sông Mê Kông”, là địa bàn “trung tâm”, “động lực” của khu vực
Đồng bằng sông Cửu Long. Nghị quyết 21 NQ/TW ngày 20/01/2003 của Bộ Chính trị xác
định: “Xây dựng thành phố Cần Thơ là thành phố loại I trực thuộc trung ương, đóng vai trò
trung tâm kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật của vùng…”
Về lĩnh vực kinh tế:
Tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao và ổn định, tăng trưởng kinh tế ước đạt 14,59%.
GDP tăng từ 4.543 tỉ đồng năm 2000 đến 8.552 tỉ đồng vào năm 2005, bình quân tăng 13,5%
năm (riêng năm 2005 tốc độ tăng trưởng đạt gần 16%). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đáng kể
giữa 3 khu vực, tăng tỉ trọng công nghiệp, xây dựng và thương mại. Đến năm 2005, tỉ trọng
các ngành trong GDP: khu vực I chiếm 17,76%, khu vực II chiếm 38,16%, khu vực III chiếm
44,08%.
Thu nhập dân cư tăng đáng kể, năm 2005 đạt 11,6 triệu đồng/người/năm. Sản xuất
công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp phát triển nhanh và ổn định. Giá trị sản xuất tăng bình
quân 18,2% năm. Các ngành thương mại, dịch vụ phát triển mạnh theo hướng đa dạng hoá
loại hình, chú trọng nâng cao chất lượng và hiệu quả và hướng tới những ngành dịch vụ có
giá trị gia tăng lớn, với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế. Sản xuất nông nghiệp đi
vào thế ổn định, đang chuyển dần sang hình thái nông nghiệp đô thị, chất lượng cao, gắn sản
xuất nông nghiệp với phát triển mạnh các ngành dịch vụ và bảo vệ môi trường sinh thái.
Thu chi ngân sách trên địa bàn hàng năm đều vượt chỉ tiêu, năm sau cao hơn năm
trước. Tổng thu ngân sách trên địa bàn 2.202,5 tỉ đồng. Chi ngân sách 1.239,2 tỉ đồng bằng
60% tổng thu ngân sách. Các thành phần kinh tế tiếp tực phát triển. Xây dựng kết cầu hạ tầng
và phát triển đô thị có nhiều tiến bộ.
Trên lĩnh vực văn hoá - xã hội:
Sự nghiệp giáo dục và đào tạo tiếp tục đầu tư, phát triển cả quy mô lẫn chất lượng.
đế năm 2020 là phải phấn đấu xây dựng và phát triển thành phố Cần Thơ trở thành Thành
phố đồng bằng cấp quốc gia văn minh, hiện đại xanh, sạch, đẹp, xứng đáng là thành phố cửa
ngõ của cả vùng hạ lưu sông Mê Kông; là trung tâm công nghiệp, trung tâm thương mại dịch vụ, du lịch, trung tâm giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ, trung tâm y tế và văn
hoá, là đầu mối quan trọng về giao thông vận tải nội vùng và liên vận quốc tế; là địa bàn
trọng điểm giữ vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh của Đồng bằng sông Cửu và của cả
nước. Nhận thức sâu sắc vai trò, vị trí, nhiệm vụ của mình Đảng bộ và nhân dân thành phố
Cần Thơ quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 45-NQ/TW của Bộ Chính trị, Nghị
quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Cần Thơ lấn thứ XI, nhiệm kỳ 2006-2010 xác định mục
tiêu là: Tập trung xây dựng kết cầu hạ tầng, đặc biệt là xây dựng hệ thống giao thông thông
suốt và từng bước hiện đại hoá cả đường bộ, đường thủy nội địa, đường biển và hàng không
đóng vai trò đầu mối giao thông nội vùng và liên vận quốc tế là cửa ngõ của vùng hạ lưu
sông Mê Kông, đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá, phấn đấu đạt các mục tiêu đề ra ở các lĩnh lực
kinh tế, văn hoá; Xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ xây dựng và phát triển thành phố trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước. [2]
1.2.2. Tình hình giáo dục - đào tạo Thành phố Cần Thơ
Tình hình chung:
* Thuận lợi:
Đảng và Nhà nước ta đã xác định vị trí, vai trò và nhiệm vụ của giáo dục - đào tạo
trong sự nghiệp phát triển đất nước là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục - đào tạo là
đầu tư cho phát triển, phát triển giáo dục phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội tiến
bộ khoa học và công nghệ. Nhiệm vụ của phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo nhằm nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước; đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì mục tiêu “Dân giàu nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Nghị quyết Hội nghị lần 4 Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII nhấn mạnh
“Vấn đề quan trọng là phải quán triệt sâu sắc và tiến hành việc xã hội hoá các nguồn đầu tư,
mở rộng phong trào xây dựng, phát triển giáo dục trong nhân dân, coi sự nghiệp giáo dục
đào tạo là sự nghiệp của toàn xã hội” [28, tr.1]
cơ sở vật chất, trang thiết bị còn lạc hậu, nhiều hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu đào tạo, nhiều
trường học xây dựng lâu đời nay đã xuống cấp. Những trường ở nông thôn chưa được trang
bị đủ cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học như thư viện chưa đạt chuẩn, thiếu phòng
bộ môn, …
Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý được bồi dưỡng nhưng chưa chuyển kịp với cơ
chế mới, chưa tiếp cận được với công nghệ sản xuất, công nghệ dạy học tiên tiến. Đội ngũ
giáo viên chưa đồng bộ về số lượng, chất lượng và giữa các bộ môn, còn một bộ giáo viên
chưa được chuẩn hoá. Cán bộ, giáo viên có trình độ trên đại còn ít.
Tình hình mạng lưới, quy mô giáo dục:
* Quy mô trường, lớp, học sinh:
Ngành giáo dục - đào tạo Thành phố Cần Thơ hiện có:
- 90 trường mầm non, mẫu giáo; 1.106 nhóm trẻ và mẫu giáo. Tỉ lệ trẻ vào nhà trẻ đạt
11,66%. Tỉ lệ trẻ vào mẫu giáo đạt 69,20%.
- 170 trường tiểu học; 89.645 học sinh, tỉ lệ trẻ vào lớp 1 đạt 99,96%
- 54 trường trung học cơ sở; 67.349 học sinh
- 23 trường trung học phổ thông; 26.383 học sinh
- 10 trung tâm giáo dục thường xuyên; 02 trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp;
01 trường dạy trẻ khuyết tật; 01 trường dân tộc nội trú; 01 trường trung học chuyên nghiệp
dân lập; 02 trường cao đẳng; 62 trung tâm học tập cộng đồng; 41 cơ sở dạy ngoại ngữ, tin
học.
Bảng 1.1:
Quy mô trường, lớp, học sinh
Bậc, ngành học
Trường
3.104
89.645
Trung học cơ sở
54
1.675
67.349
Trung học phổ thông
23
588
26.383
Tổng cộng
337
6.474
214.363
Nhà trẻ
thực hiện tốt theo chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Kết quả 71 trẻ khuyết tật được giáo
dục hoà nhập. Giáo dục an toàn giao thông được thực hiện tốt ở trường, lớp mẫu giáo với
hình thức lồng ghép nội dung vào các bài thơ, mô hình, trò chơi,… Ưng dụng công nghệ
thông tin trong giáo dục mầm non thông qua chương trình KidSmart bước đầu thực hiện có
hiệu quả.
+ Bậc tiểu học:
Toàn thành phố có 170 trường tiểu học; 89.645 học sinh, tỉ lệ trẻ vào lớp 1 đạt
99,96%, dạy đủ 9 môn. Số trường có học sinh học môn tự chọn tăng đáng kể: có 80 trường tổ
chức dạy tiếng Anh cho 23.264 học sinh; 04 trường tổ chức dạy môn tiếng Pháp cho 1.086
học sinh; 05 trường tổ chức dạy môn Tin học cho 1.521 học sinh, có 05 học sinh đạt giải Tin
học trẻ không chuyên năm 2005. Việc tổ chức dạy 2 buổi/ngày tiếp tục được nhân rộng, có
103/170 trường tổ chức dạy 2 buổi, với tổng số 908 lớp, 28.961 học sinh, tăng 3.372 học
sinh, đạt tỉ lệ 32.34%. Tỷ lệ học sinh lưu ban, bỏ học: 1,52% giảm 0,08% so với năm học
truớc, tỉ lệ học sinh được công nhận đã hoàn thành chương trình tiểu học: 100%. Có 302 học
sinh giỏi, 72 học sinh đạt giải thi Vẽ tranh và Tin học trẻ không chuyên. Chương trình giáo
dục Khơme cũng được thực hiện tốt, có 1.727 học sinh Khơme ra lớp, có 670 học sinh học
song ngữ…
+ Bậc trung học: Được củng cố và nâng cao, công tác giáo dục chính trị tư tưởng,
truyền thống, đạo đức được thực hiện tốt tại các trường. Triển khai thực hiện tốt chương
trình giáo dục lao động, thể chất, y tế học đường, giáo dục pháp luật, môi trường, dân số,
phòng chống ma túy, các tệ nạn xã hội,… Tiếp tục củng cố kết quả thực hiện chương trình
sách giáo khoa ở lớp 6, lớp 7; triển khai sâu rộng việc thực hiện chương trình sách giáo khoa
lớp 8 đạt yêu cầu và có hiệu quả.
Phong trào thi đua dạy tốt - học tốt tiếp tục được duy trì và phát triển với nhiều hình
thức nhất là phong trào học sinh giỏi. Kết quả:
- Học sinh giỏi cấp thành phố: 601 học sinh trung học cơ sở , 405 học sinh trung học
phổ thông.
- Học sinh giỏi toàn quốc: 51 học sinh, trong đó có 07 học sinh giỏi về toán trên máy
: 4.188
- Giáo viên trung học cơ sở
: 2.966
- Giáo viên trung học phổ thông
: 1.096
- Cán bộ, công nhân viên
: 1.557
* Công tác quản lý giáo dục
711
:
Ngành đã kiện toàn bộ máy quản lý giáo dục các cấp; xác định rõ chức năng nhiệm vụ
của từng cấp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục; đề cao trách
nhiệm thủ trưởng, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, coi trọng sự phối hợp của đoàn thể; phát
huy dân chủ; tăng cường cải cách hình chính, thực hiện tốt ba khâu: Tiếp dân, một cửa, đơn
giản thủ tục hành chính.
Các cơ quan quản lý giáo dục, các trường có nhiều hoạt động nhằm tăng cường thực
hiện các qui định của Luật giáo dục, điều lệ nhà trường và các qui chế tổ chức hoạt động.
* Công tác xã hội hoá giáo dục:
Ngành giáo dục - đào tạo Thành phố Cần Thơ triển khai quán triệt, thực hiện Nghị
quyết số 05/2005NQ-CP của Chính phủ về “Đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y
tạo và sự quản lý hành chính của Uỷ ban nhân dân Thành phố Cần Thơ. Điều lệ trường Cao
đẳng Sư phạm Thành phố Cần Thơ thực hiện theo quyết định số: 56/2003/QĐ-BGD&ĐT
ngày 10/12/2003 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Điều lệ trường
Cao đẳng
Chức năng, nhiệm vụ của trường:
- Với nhiệm vụ đào tạo và liên kết đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên mầm
non, tiểu học và trung học cơ sở có trình độ trung học sư phạm, cao đẳng sư phạm.
- Liên kết với một số trường Đại học trong nước để đào tạo, bồi dưỡng chuẩn hoá đội
ngũ giáo có trình cao đẳng sư phạm lên trình độ đại học.
- Thực hiện một số đề tài nghiên cứu khoa học phục vụ cải cách giáo dục nâng cao
chất lượng đào tạo, cải tiến phương pháp giảng dạy, gắn công tác đào tạo - bồi dưỡng nghiên cứu khoa học với công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, giáo viên, nhân
viên và học sinh sinh viên.
+ Việc thực hiện các chức năng đào tạo, bồi dưỡng của trường Cao đẳng Sư phạm
Thành phố Cần Thơ: Có hai hình thức chính: đào tạo chính qui và không chính qui (chuẩn
hoá).
+ Qui mô, ngành nghề đào tạo:
- Qui mô đào tạo hệ chính qui: đào tạo giáo viên mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở
. Năm học: 2003-2004: 932
. Năm học 2004-2005: 743
. Năm học 2005-2006: 701
- Qui mô đào tạo hệ không chính qui: bồi dưỡng chuẩn hoá giáo viên mầm non, giáo
viên tiểu học, giáo viên học trung học cơ sở
. Năm học: 2003-2004: 721
. Năm học 2004-2005:
750
. Năm học 2005-2006: 1.401
sĩ
Ban Giám hiệu
03
0
Cán bộ giảng dạy
98
Cán bộ hành chính phục
Thạc sĩ
Đại
Cao
Khác
học
đẳng
01
02
20
106
10
33
vụ Đào tạo
Tổng cộng
(Nguồn từ báo cáo thống kê của trường Cao đẳng sư phạm thành phố Cần Thơ)
Chia theo tuổi đời: Dưới 30: 39; Từ 31-35: 21; Từ 36-50: 94; Từ 50 trở lên: 18.
Bảng 1.3 : Thống kê theo tuổi đời cán bộ, giáo viên, nhân viên
Tổng
Dưới
Từ 31-
Từ 36-
Từ 51-
số
30
35
71
17
13
34
07
172
39
21
94
18
Đào tạo
Tổng cộng
(Nguồn từ báo cáo thống kê của trường Cao đẳng sư phạm thành phố Cần Thơ)
+ Cơ sở vật chất, trang thiết bị:
- Diện tích mặt bằng khoảng gần 7.000m2 (7 ha) , trong đó diện tích xây dựng 1,43 ha;
sân chơi, bãi tập: 1.900ha. Diện tích còn lại để xây dựng cơ sở vật chất, nâng cấp phục vụ
cho công tác dạy học trong giai đoạn tới.
: 02 phòng
. Phòng bộ môn ứng dụng Công nghệ thông tin: 04 phòng
. Khu thí nghiệm thực hành Lý - Hoá - Sinh : 08 phòng
- Thư viện phục vụ cho việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu của cán bộ, giáo viên
và học sinh sinh viên, có trên 200.000 đầu sách với nhiều chủng loại: sách giáo khoa, sách
tham khảo, sách nghiên cứu, tạp chí…
- Nhà làm việc cán bộ công chức có tổng diện tích: 919m2 .
- Ký túc xá học sinh sinh viên tổng diện tích 5.294 m2 , với 106 phòng.
- Thiết bị dạy học: Tổng trị giá 24.723.000.000 đồng. Trong đó dự án ADB của Bộ
Giáo dục và Đào tạo đã đầu tư 100.000 USD trang bị các thiết bị thí nghiệm thực hành hiện
đại góp phần nâng cao chất lượng đào tạo.
+ Nhà trường còn có 01 Đảng bộ với 41 đảng viên; 01 Công đoàn cơ sở trực thuộc
công đoàn ngành, với 07 công đoàn bộ phận; Đoàn Thanh niên cộng sản gồm 01 chi đoàn
cán bộ, giáo viên, nhân viên và 48 chi đoàn lớp; ngoài ra còn có 01 chi hội cựu chiến binh,
Hội học sinh sinh viên, chi hội Tâm lý học - Giáo dục học.
Với sự phấn đấu không ngừng vươn lên của tập thể, cùng với sự nổ lực của bản thân
từng cá nhân trong nhà trường đã đạt được nhiều thành tích đáng kể, nhà trường và cá nhân
được tặng nhiều giấy khen, chiến sĩ thi đua, giáo viên dạy giỏi, bằng khen của Uỷ ban nhân
dân Thành phố Cần Thơ, của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Các tổ chức đoàn thể trong trường
cũng đạt nhiều thành tích cao trong hoạt động phong trào thể dục thể thao, văn nghệ,… Và
nhà trường còn vinh dự được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen: Cán bộ, giáo viên và