Biện pháp quản lý hoạt động của trung tâm thông tin thư viện, trường đại học kinh tế đại học huế - Pdf 37

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN ĐỨC PHƯƠNG

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM THÔNG TIN –
THƯ VIỆN, TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC HUẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 01 14

Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Xuân Bách

THỪA THIÊN HUẾ - 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, Luận văn này là kết là quả nghiên cứu của tác giả
dưới sự hướng dẫn khoa học của giáo viên. Các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi
trong Luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa được
từng công bố trong bất kỳ một công trình nào khác.
Thừa Thiên Huế, tháng 05 năm 2016
Tác giả luận văn

Nguyễn Đức Phương

2


1 LỜI CẢM ƠN


2 DANH MỤC

CÁC KÝ HIỆU,
CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt
AACR2
BSTL
CBQL
CBTV
CNTT
CNH-HĐH
CSDL
ĐHH
ĐHKT
GD-ĐT
ISBD
KT-XH
NCKH
NXB
NDT
MARC 21
TT-TV
VTL

Viết đủ
Anglo – American Cataloguing 2nd (Quy tắc biên mục
Anh Mỹ xuất bản lần thứ 2)
Bổ sung tài liệu
Cán bộ quản lý

6


4 MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh của sự phát triển khoa học và công nghệ, thời đại nền kinh tế
tri thức, thông tin nói chung và thông tin - thư viện nói riêng có vai trò rất quan
trọng và ảnh hưởng sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Việc khai thác
hiệu quả thông tin đã trở thành một trong những nhân tố hàng đầu trong chiến lược
phát triển của bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới.
Trong các trường đại học, thông tin - thư viện có vai trò quan trọng trong
việc nâng cao chất lượng đạo tạo, đáp ứng nguồn nhân lực cho đất nước, thúc đẩy
tiến bộ xã hội, phát triển sản xuất và khoa học công nghệ. Đồng thời, Thư viện cung
cấp cho xã hội những thông tin khoa học mới mẻ, đặc biệt là những thành quả của
các công trình nghiên cứu khoa học của cán bộ, giảng viên, nghiên cứu sinh, học
viên và sinh viên trong trường. Ngoài ra, Thư viện còn bổ sung và cập nhật những
kiến thức mới, những phương pháp giảng dạy tiên tiến làm cho việc học tập và
giảng dạy thêm sinh động và hấp dẫn.
Hiện nay, yêu cầu đổi mới giáo dục đại học đòi hỏi các trường cần phải đổi
mới căn bản, toàn diện từ mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy – học, cơ sở vật
chất… Trong các yếu tố đó, thư viện là yếu tố rất được chú trọng, vì thư viện đại
học là trung tâm tri thức của một trường đại học, là bộ phận không thể thiếu trong
việc cung cấp thông tin, tạo điều kiện cho người học phát triển toàn diện. Hơn nữa,
hoạt động giáo dục đại học luôn gắn liền với hoạt động chuyển giao tri thức và
nghiên cứu khoa học. Trong đó, nhân tố quan trọng, quyết định chất lượng chuyển
giao tri thức và nghiên cứu khoa học là khả năng cung cấp nguồn thông tin để thúc
đẩy việc tự học, tự nghiên cứu của giảng viên, của sinh viên cũng như các nhà quản
lý trong trường đại học. Đây chính là sứ mệnh của trung tâm thông tin -thư viện
trong các trường đại học. Vì vậy, trước sự đổi mới của nền giáo dục đại học đòi hỏi
các nhà quản lý thư viện phải nắm bắt và kịp thời điều chỉnh hoạt động quản lý của

hoạt động của Trung tâm nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà
trường.
3. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu: Hoạt động của Trung tâm Thông tin –Thư viện.
3.2. Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp quản lý hoạt động của Trung tâm Thông
tin – Thư viện, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Huế.
8


3.3. Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng quản lý các hoạt động Trung tâm
Thông tin – Thư viện, Trường Đại học Kinh tế- Đại học Huế.
4. Giả thuyết khoa học: Trong những năm qua, Trung tâm Thông tin – Thư viện đã
đạt được những thành tích đáng kể trong công tác phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa
học và quản lý của nhà trường. Trước yêu cầu đổi mới giáo dục, nếu có những biện
pháp quản lý phù hợp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm, một
trong các yếu tố quyết định chất lượng đào tạo của Trường Đại học Kinh tế - Đại
học Huế.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận của quản lý, quản lý hoạt động của Trung tâm
Thông tin - Thư viện trong các trường đại học.
Điều tra khảo sát thực trạng quản lý hoạt động của Trung tâm Thông tin –
Thư viện, Trường Đại học Kinh tế- Đại học Huế.
Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động của Trung tâm Thông tin – Thư viện,
đáp ứng yêu cầu giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học ở Trường Đại học Kinh
tế- Đại học Huế trong giai đoạn mới.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, nghiên cứu các tài liệu liên
quan và thu thập thông tin trong quá trình hoạt động của Trung tâm Thông tin - Thư
viện, Trường Đại học Kinh tế- Đại học Huế.

tính thủ công, đến ngày nay khi xã hội phát triển thì việc quản lý thư viện cũng
được phát triển chuyển dần từ quản lý tư liệu sang quản lý thông tin và trong tương
lai sẽ là quản lý tri thức.
Ngay từ thời cổ xưa, quản lý thư viện cũng không có gì khác biệt với các lĩnh
vực khác. Theo F.M. Cruden (1887) một cán bộ thư viện đã cho rằng: Các nghiên
cứu đều cho thấy điều hành một thư viện không khác nhiều so với việc quản trị một
công ty chứng khoán. Người Giám đốc thư viện có thể áp dụng những phương pháp
của các nhà quản lý kinh doanh. Tuy nhiên, mãi đến những năm 30 của thế kỷ XX
người ta mới chú ý đến việc ứng dụng khoa học quản lý vào thư viện.[1]
Cuối những năm 40 đầu những năm 50, với nghiên cứu về việc ứng dụng
quản lý khoa học vào thư viện, Ralph R.Shaw đã phân tích hai khuynh hướng quản
lý: Chuyên môn hóa và tích hợp các chuyên môn vào một bộ phận chức năng đã đặt
nền tảng cho công tác quản lý thư viện ngày nay. Trước xu thế phát triển của loại
hình thư viện mới – thư viện hiện đại thì phương thức quản lý tập trung hệ thống
thư viện kết hợp với phương thức phân bổ đã trở nên tất yếu và đang được nhiều
nhà quản lý ngành thư viện quan tâm.
Ở Việt Nam công tác thư viện luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm. Ngày
16/9/1970, Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định số 178/CP về công tác thư viện đã
quy định những vấn đề quản lý ngành thư viện trong cả nước. Đây là văn bản được
coi là luật thư viện đầu tiên ở nước ta, đã và đang có những đóng góp rất quan trọng
cho sự phát triển thư viện của Việt Nam.
Hiện nay trong hệ thống giáo dục đại học, thư viện đã trở thành một trường
học thứ hai của sinh viên, bởi vì đọc sách có thể được xem là kỹ năng tự học của
người học trong quá trình tự đào tạo. Vì vậy, quản lý hoạt động thư viện là một quá
11


trình tác động, định hướng của chủ thể quản lý đến khách thể, ở đó tri thức, tài
năng, trí tuệ của mọi người trong tổ chức được hướng về việc sử dụng các tài
nguyên đã được Nhà nước cung cấp nhằm đạt được mục đích đã đặt ra.

đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, quốc tế đều phải thừa nhận và chịu một
sự quản lý nào đó.
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động của xã hội loài người
nhằm đạt mục đích, hiệu quả cao hơn, năng suất cao hơn. Đó chính là hoạt động
giúp cho người đứng đầu tổ chức phối hợp sự nỗ lực các thành viên trong nhóm,
trong cộngđồng nhằm đạt mục tiêu đề ra.
Quản lý là vấn đề rất rộng và phức tạp, là đối tượng nghiên cứu của nhiều
ngành khoa học nên có rất nhiều định nghĩa, khái niệm khác nhau:
Nhà khoa học quản lý người Mỹ F.w. Taylor cho rằng: “Quản lý là một nghệ
thuật biết rõ chính xác cái gì cần làm và cái đó làm thế nào, bằng phương pháp tốt
nhất và rẻ nhất”. Ông đã đưa ra hệ thống tổ chức lao động nhằm khai thác tối đa
thời gian lao động sử dụng hợp lý nhất các công cụ và phương tiện lao động nhằm
tăng năng suất lao động.Các nhà nghiên cứu người Mỹ Paul Hersey và Ken Blanc
Hard định nghĩa:“Quản lý là một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý với
người bị quản lý, nhằm thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các
nguồn lực khác để đạt mục tiêu của tổ chức”.[12]
Nhà lý luận quản lý kinh tế người Pháp H. Fayol thì cho rằng: “Quản 1ý là
một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý với người bị quản lý, nhằm thông qua
hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt mục tiêu của
tổ chức”
Định nghĩa của Harold Koontz, Cyril O'donnell: "Quản lý là quá trình lập kế
hoạch tổ chức lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc hệ đơn vị và
việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được những mục đích đã định".[5]
Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là quá trình tác động liên tục"tổ
chức có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý hay tổ chức quản lý) lên
khách thể (đối tượng) quản lý về các mặt chính trị, xã hội, kinh tế... bằng một hệ
thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ
thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”. [3]
Theo tác giả Trần Quốc Thành: “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể
quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt

đến cao; gắn liền với quy trình phát triển, đó là sự phân công, chuyên môn hoá lao
động quản lý. Sự phân công chuyên môn hóa lao động quản lý là cơ sở hình thành
các chức năng quản lý.
14


Chức năng quản lý là một thể thống nhất những hoạt động tất yếu của chủ thể quản
lý nảy sinh từ sự phân công, chuyên môn hoá trong hoạt động quản lý nhằm thực
hiện mục tiêu.
Tất cả các chức năng quản lý gắn bó qua lại và quy định lẫn nhau. Chúng
phản ánh lôgic bên trong của sự phát triển của quản lý. Việc phân chia chức năng
quản lý bắt nguồn từ sự phân công và chuyên môn hoá lao động quản lý. Khi phân
tích cụ thể, ta thấy quản lý gồm có 4 chức năng cơ bản, đó là:
Chức năng kế hoạch hoá
Kế hoạch hoá có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai
của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt mục tiêu, mục đích đó.
Có 3 nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hoá:
Xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức;
Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực
của tổ chức để đạt được các mục tiêu;
Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt các mục tiêu đó.
Có ba loại kế hoạch: Kế hoạch chiến lược; Kế hoạch chiến thuật; Kế hoạch tác
nghiệp.
Chức năng tổ chức
Định nghĩa (trong Từ điển tiếng Việt): “Tổ chức là sự sắp xếp các bộ phận
cho ăn nhịp với nhau để toàn bộ là một cơ cấu nhất định”.[19]
Tổ chức là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, hình thành nên cấu trúc
quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm đạt được
mục tiêu tổng thể của tổ chức, ứng với những mục tiêu khác nhau đòi hỏi cấu trúc
tổ chức của đơn vị cũng khác nhau. Người quản lý cần lựa chọn cấu trúc tổ chức

Có 3 yếu tố cơ bản của công tác kiểm tra:
- Xây dựng chuẩn thực hiện;
- Đánh giá việc thực hiện trên cơ sở so sánh với chuẩn;
- Nếu có sự chênh lệch thì điều chỉnh hoạt động;
Quản lý mà không có kiểm tra thì không còn là quản lý. Kiểm tra có vị trí
quan trọng trong việc đổi mới công tác quản lý như: đổi mới công tác kế hoạch hoá,
công tác tổ chức, chỉ đạo cũng như đối với cơ chế quản lý, phương pháp quản lý
nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý.

16


Để người quản lý có thể thực hiện được bốn chức năng trên thì yếu tố thông
tin là rất quan trọng. Thông tin chính xác, đầy đủ và kịp thời là căn cứ để hoạch
định kế hoạch. Thông tin có thể được xem như là chất liệu tạo nên mối quan hệ giữa
các bộ phận trong tổ chức, thông tin truyền tải mệnh lệnh chỉ đạo của người quản lý
và phản hồi diễn biến hoạt động của các cá nhân, các bộ phận trong tổ chức giúp
cho người quản lý xem xét mức độ đạt mục tiêu của họ từ đó có những điều chỉnh
cho phù hợp.
Qua phân tích các chức năng quản lý, chúng ta thấy rằng các chức năng này
có mối quan hệ chặt chẽ tác động qua lại với nhau, chi phối lẫn nhau tạo thành một
thể thống nhất của hoạt động quản lý.
Kế hoạch hóa

Chỉ đạo
Thông tin
Tổ chức

Kiểm tra, đánh giá


Thông tin
Dữ liệu
Định tính
Định lượng

Thông tin, về bản chất là một thực thể phức tạp, là một đối tượng nghiên cứu
trừu tượng, vô hình, có cấu trúc, được biểu thị qua nội dung của sự vật, được tiếp
thu và sử dụng cho các mục đích khác nhau. Thông tin có tính phổ biến, đặc biệt
trong điều kiện của cuộc bùng nổ thông tin hiện đại.Thông tin rất có giátrị đối với
thực tiễn phát triển.

18


Thông tin còn là một loại hàng hóa đặc biệt, một nguồn lực quan trọng của
sự phát triển, một thứ tài sản vô hình. Là một loại hàng hóa, thông tin có thể là đối
tượng được mua và bán, trao đổi, tích lũy và lưu trữ, được giữ bản quyền hay quyền
sở hữu. Là một loại nguồn lực, thông tin được hiện hữu tham gia vào các quá trình
biến đổi giá trị, song giá trị của thông tin lại không bị mất đi trong quá trình sử
dụng. Thường thì việc sử dụng thông tin tích cực lại làm cho giá trị và hiệu quả của
thông tin được tăng thêm. Tiềm năng và nhu cầu về thông tin trong xã hội là vô hạn.
1.2.3Quản lý thông tin – thư viện
Với những cách tiếp cận quản lý nhà trường, quản lý trung tâm TT-TV/ thư
viện đại học là quá trình tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể
quản lý đến khách thể quản lý (các nguồn lực của TV) nhằm đảm bảo sự vận hành
tối ưu các hoạt động của thư viện để đạt hiệu quả cao nhất trong việc phục vụ thông
tin, tư liệu cho người đọc, người dùng tin.
1.2.4 Nguyên tắc quản lý thông tin – thư viện
Nguyên tắc quản lý là những quy tắc chỉ đạo, những tiêu chuẩn hành vi mà
công tác quản lý bất kỳ cấp nào đều phải tuân theo khi thực hiện chỉ đạo và điều

Là nguyên tắc không thể thiếu trong quá trình quản lý. Mục đích của việc
kiểm tra là giúp người quản lý nắm được những gì đang xảy ra, bảo đảm kết quả đạt
được phù hợp với mục tiêu, kế hoạch đề ra; bảo đảm sử dụng các nguồn lựcmột
cách hữu hiệu; phát hiện kịp thời những vấn đề sai sót để chấn chỉnh, sửa sai.
- Nguyên tắc khuyến khích vật chất và tinh thần
Các biện pháp khích lệ tinh thần cũng như vật chất có tác dụng to lớn kích
thích người lao động, góp phần tăng năng suất lao động. Việc đánh giá đúng công
sức, sự cống hiến thể hiện qua việc khuyến khích động viên tinh thần bằng các danh
hiệu thi đua và các phần thưởng vật chất phải luôn được chú trọng đồng thời.
1.2.5 Các phương pháp quản lý thư viện
Phương pháp quản lý là tổng thể những cách thức tác động của công tác quản
lý đến cá nhân, tập thể người lao động nhằm khuyến khích, động viên thúc đẩy họ
hoàn thành tốt công việc. Nhìn chung công tác quản lý một tổ chức thường dùng
các phương pháp quản lý:
- Phương pháp chính trị tư tưởng;
- Phương pháp hành chính - pháp chế;
- Phương pháp tổ chức - điều khiển;
20


- Phương pháp tâm lý xã hội;
- Phương pháp kinh tế;
Từ vai trò, chức năng, nhiệm vụ của thư viện trường đại học, công tác quản lý thư
viện cần phối hợp sử dụng một số phương pháp quản lý sau:
- Phương pháp hành chính
Là phương pháp tác động tập trung, chỉ đạo trực tiếp của cán bộ lãnh đạo đối
với cán bộ cấp dưới, được thực hiện bằng các hình thức: Quyết định, chỉ thị quy
định, nội quy, điều lệ….Ví dụ như các quy định về giờ giấc phục vụ của thư viện,
các biện pháp thu hút bạn đọc...
- Phương pháp tâm lý

Năm 1970, UNESCO định nghĩa: “Thư viện, không phụ thuộc vào tên gọi
của nó, là bất cứ bộ sưu tập có tổ chức nào của sách, ấn phẩm định kỳ hoặc các tài
liệu khác, kể cả đồ họa, nghe – nhìn và nhân viên phục vụ có trách nhiệm tổ chức
cho bạn đọc sử dụng các tài liệu đó nhằm mục đích thông tin, nghiên cứu khoa học,
giáo dục hoặc giải trí”.
Thư viện được cấu thành từ 4 yếu tố: vốn tài liệu, cán bộ thư viện, bạn đọc,
cơ sở vật chất - kỹ thuật và giữa chúng có mối quan hệ, tác động chặt chẽ với nhau
mà thiếu một trong các yếu tố đó sẽ không còn là thư viện.
- Vốn tài liệu bao gồm sách, băng từ, tài liệu điện tử v.v…Là tài sản quý giá, là tiềm
lực, là sức mạnh và niềm tự hào của một đơn vị thư viện cụ thể. Vốn tài liệu càng
phong phú thì khả năng đáp ứng nhu cầu đọc càng lớn và do vậy càng có sức lôi cuốn
đối với bạn đọc. Trong công tác hằng ngày của thư viện, tài liệu là đối tượng bổ sung,
tổ chức kho, tuyên truyền trong bạn đọc và đưa ra sử dụng chúng. Nó là vật trung gian
giữa bạn đọc, cán bộ thư viện, cơ sở vật chất- kỹ thuật của thư viện.
- Cán bộ thư viện là linh hồn của thư viện. Cán bộ thư viện thực hiện một nhiệm
vụ rất phức tạp trong quan hệ với tài liệu như: chọn lựa và bảo quản tài liệu, sắp xếp
chúng có chuyên môn theo một trật tự nhất định; trong mối quan hệ với cơ sở vật
chất kỹ thuật, cán bộ thư viện tiến hành trang bị chuyên biệt cho các diện tích và
luôn giữ cho cơ sở vật chất kỹ thuật ở tình trạng tốt nhất; trong mối quan hệ với bạn
đọc, họ không chỉ tuyên truyền tích cực cho các tài liệu hợp với nhu cầu của họ,
hướng dẫn đọc, nghiên cứu nhu cầu đọc mà còn tạo ra các dịch vụ làm thỏa mãn
nhu cầu đó.

22


- Bạn đọc là một trong những yếu tố quan trọng của thư viện. Chính bạn đọc đã đưa toàn
bộ cơ chế của các mối quan hệ lẫn nhau giữa vốn tài liệu, cán bộ thư viện, cơ sở vật chất
- kỹ thuật vào hoạt động. Phục vụ bạn đọc là mục tiêu của thư viện.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật được hiểu là các nhà, diện tích dành cho thư viện với

đất nước được lưu giữ trong các tài liệu;
+ Trở thành một trong những trung tâm chủ yếu của sinh hoạt văn hóa, tuyên
truyền, phổ biến các kiến thức về các loại hình nghệ thuật và lôi cuốn quảng đại
quần chúng tham gia vào hoạt động sáng tạo.
- Giải trí: Thư viện tham gia vào tổ chức thời giờ nhàn rỗi, cung cấp sách và các
phương tiện khác cho bạn đọc để đọc giải trí. Nhiều thư viện đã trang bị các phương
tiện nghe - nhìn để phục vụ bạn đọc tại chỗ hoặc cho thuê về nhà.
Các chức năng của thư viện có tính chất lịch sử. Ngày nay, các thư viện, tuy mức độ
có khác nhau nhưng đều thực hiện bốn chức năng trên.
Trong Quy định về tổ chức và hoạt động của thư viện trường đại học do Bộ
trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp ban hành ngày 14/7/1986 nêu rõ:
“Thư viện trường đại học là trung tâm thông tin văn hóa, khoa học kỹ thuật của
trường đại học. Thư viện trường đại học có chức năng tổ chức, xây dựng và quản lý
vốn tư liệu văn hoá khoa học, kỹ thuật phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập
nghiên cứu khoa học của cán bộ và học sinh trong toàn trường.” [20]
1.3.2 Nhiệm vụ của thư viện trường đại học
Thư viện trường đại học có những nhiệm vụ chính sau:
Nghiên cứu đề xuất phương hướng, chủ trương, kế hoạch phát triển vốn tư
liệu văn hoá khoa học kỹ thuật phù hợp với nhiệm vụ đào tạo và NCKH của trường
đại học, đồng thời chịu trách nhiệm bảo quản vốn tư liệu đó.
- Tổ chức cho cán bộ, nghiên cứu sinh, học viên và học sinh của trường khai thác sử
dụng thuận lợi và có hiệu quả các tư liệu do thư viện quản lý.
Có kế hoạch, quy hoạch chủ động thường xuyên tổ chức bồi dưỡng chuyên
môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ... cho cán bộ thư viện để không ngừng nâng cao chất
lượng và hiệu quả phục vụ.
Thư viện trường đại học được đặt quan hệ đối ngoại với thư viện các nước để
trao đổi tài liệu, kinh nghiệm chuyên môn nghiệp vụ trong phạm vi quy định của
Nhà nước.

24

trình độ cao. Theo nghề nghiệp có thể phân chia nhóm bạn đọc này thành các nhóm
như:
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status