Báo cáo kiến tập quản trị nhân lực: đánh giá hiệu quả hoạt động của cán bộ công chức,viên chức tại xã quảng phú - Pdf 37

Báo cáo kiến tập
lực

Khoa Tổ chức và Quản lý nhân
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lời nói đầu.
Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, thời đại công nghiệp hóa hiện đại
hóa ngày hôm nay, máy móc đang dần dần thay thế sức lao động của con người.
Nhưng không vì thế mà vị thế của con người bị giảm đi về tầm quan trọng, mà
thậm trí nó còn được nâng lên. Vì khi công nghệ ngày càng cao thì trình độ quản
lý của con người phải ngày càng tăng lên để có thể bắt kịp với tốc độ phát triển
của khoa học công nghệ. Dù công nghệ có cao đến đâu chăng nữa thì con người
vẫn phải là trung tâm, là yếu tố quan trọng điều hành hoạt động kinh tế, xã hội.
Con người điều khiển máy móc, khiến chúng hoạt động phục vụ con người, vai
trò con người là vô cùng quan trọng.
Nhận được tầm quan trọng của con người, nhất là đối với thời kỳ suy
thoái như ngày hôm nay, việc chú trọng nâng cao trình độ của ccon người ngày
càng được chú ý hơn là vấn đề quan trọng và nan giải đối với các cấp quản lý,
các cấp chức năng có thẩm quyền. Và điều quan trọng là phải tìm cách giải bài
toán nhân lực một cách nhanh chóng, càng sớm giải quyết vấn đề này, các vấn
đề kinh tế, xã hội khác sẽ dễ dàng hơn
Có một vấn đề là “làm thế nào để có thể nâng cao năng lực, trình độ của
nguồn nhân lực xã hộ”. Trong các yếu tố khiến một quốc gia trở lên yếu kém, và
tụt hậu so với các quốc gia khác trên thế giới, một trong nguyên nhân chính là sự
yếu kém trong công tác quản lý, sử dụng nguồn nhân lực của nước đó, hay là họ
không có một đội ngũ lao động có chất lượng, việc đào tạo nâng cao chất lượng
cán bộ của quốc gia đó yếu kém.
Là một sinh viên năm thứ 3 của trường đại học Nội Vụ Hà Nội, được nhà
trường cử đi thực tế kiến tập việc tại các cơ quan tổ chức xã hội trong thời gian
một tháng (từ ngày 1/5 đến hết ngày 31/5). Qua đợt kiến tập này đã cho em


Sinh viên: Nguyễn Văn Thạo

2
Lớp: Quản trị Nhân lực K1B


Báo cáo kiến tập
lực
2. Lý do chọn đề tài.

Khoa Tổ chức và Quản lý nhân

Trong những năm gần đây, đảng và chính phủ đã và đang thực hiện cải
cách nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức viên chức tất cả các cấp
chính quyền từ trung ương đến địa phương. Đây là công việc thường liên của
đảng và nhà nước nhằm đảm bảo chất lượng đội ngũ cán bộ, có đủ số lượng
cũng như chất lượng tốt đáp ứng yêu cầu phục vụ cuộc sống của nhân dân cả
nước. Trong quá trình đào tạo phát triển cán bộ, ở hầu hết các khu vực thành phố
lớn đã căn bản đáp ứng đủ về số lượng cũng như chất lượng cán bộ, nhưng cùng
với đó tại một số khu vực thì chất lượng và số lượng cán bộ được đánh giá là
chưa đáp ứng đủ yêu cầu do nhà nước đặt ra.
Vai trò của cán bộ công chức viên chức nhà nước là vô cùng quan trọng,
là cánh tay của đảng, nhàu nước thực hiện các đường lối, chính sách trên văn
bản giấy tờ vào trong thực tiễn cuộc sống của người dân. Tuy vậy, vai trò của
cán bộ cấp cơ sở như cấp xã có vai trò cực kỳ quan trọng, mặc dù đây là cấp
hành chính nhà nước thấp nhất trong tổ chức bộ máy nhà nước nhưng đây là bộ
phận trực tiếp tiếp xúc vưới người dân, và trực tiếp thi hành chính sách của nhà
nước.
Trong quá trình được về kiến tập tại Xã Quảng Phú, có điều kiện tiếp xúc

Đánh giá được quá trình đào tạo và phát triển năng lực cán bộ của xã diễn
ra như thế nào, có thường xuyên hay không, có đem lại hiệu quả hay không. Và
xã Quảng Phú đang thực hiện biện pháp gì nhằm nâng cao chất lượng cán bộ của
xã.
Xác định được những yếu kém đang gặp phải của xã Quảng Phú trong
công tác quản lý đào tạo và phát triển năng lực đội ngũ cán bộ tại địa bàn xã.
Qua đó đưa ra các khuyến nghị giúp cho lãnh đạo xã có thể tham khảo, nhẹ
nhàng tác động đến hoạt động của cơ quan xã, từ đó khắc phục được những
khuyết điểm để hoàn thiện hơn đội ngũ cán bộ xã. Tất cả đều vì mục tiêu phục
vụ nhu cầu của người dân của xã,và hơn hết có thể để các xã khác nhìn vào.
5 Phạm vi nghiên cứu.
Phạm vi thời gian : Do hạn chế về mặt thời gian nên đề tài tập trung
nghiên cứu về công tác và đào tạo xã Quảng Phú giai đoạn 2013-2014.
Phạm vu không gian : trong phạm vi xã Quảng Phú.
6 Phương pháp nghiên cứu.
-

Phương pháp quan sát
Phương pháp điền dã.
Phương pháp phân tích số liệu.
Phương pháp khảo sát tại cơ quan.
Phương pháp so sánh.
Phương pháp thử nghiệm thực tế

7Ý nghĩa, đóng góp của đề tài.
Sinh viên: Nguyễn Văn Thạo

4
Lớp: Quản trị Nhân lực K1B



Báo cáo kiến tập
Khoa Tổ chức và Quản lý nhân
lực
1.1.1 Vị trí địa lí, địa hình, khí hậu, điều kiện kinh tế Xã Quảng Phú
Vị trí địa lý xã quảng phú
Xã Quảng Phú nằm trong huyện Lương Tài phía Đông bắc của huyện,
Tỉnh Bắc Ninh. Tiếp giáp xã Quỳnh Phú, xã Đoàn Bái, xã Nghĩa Đạo (Huyện
Lương Tài). Gồm 6 thôn : Thôn Lĩnh Mai, Thôn Quảng Nạp, Thôn Quảng Bố,
Thôn Phú Thọ, Thôn Thanh Gia, Thôn Tuyên Bá.
Xã Quảng Phú gần với Thị Trấn duy nhất của huyện, đó là Thị Trấn Thứa.
Địa hình và khí hậu.
Xã Quảng Phú có địa hình bằng phẳng, gần như 100% đều là đồng bằng
rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế xã hội.
Xã Quảng Phú có một vài con sông nhỏ chảy qua địa bàn, sông Thứa và
sông Ngụ,
Xã Quảng Phú nằm trong khu vực có khí hậu ôn đới gió mùa đặc trương
của khu vực đông nam á. Có 4 mùa rõ rệt Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Điều kiện kinh tế xã hội của Xã Quảng Phú.
Xã Quảng Phú tự xưa đến nay vẫn giữ nguyên về mô hình kinh tế, trong
đó nông nghiệp vẫn là chủ đạo, xen vào đó có một số ngành kinh tế khác như :
nghề thủ công mỹ nghệ chủ yếu trên các chất liệu bằng đồng, bằng gỗ, dịch vụ
chủ yếu phục vụ nhu cầu của người dân trong làng.
Kinh tế Xã Quảng Phú trong một vài năm trở lại đây có phần phát triển,
xong vẫn dừng lại ở mức độ vừa phải, chưa đạt được tốc độ tăng trưởng thần kỳ,
nhưng so với khu vực là bình thường.
1.1.2 Lịch sử hình thành của văn phòng xã Quảng Phú
Là cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân xã Quảng Phú, văn phòng
hoạt động theo cơ chế một cửa, một dấu chịu sự lãnh đạo của ủy ban nhân dân
xã và chịu sự chỉ đạo về chuyên môn của huyện Lương Tài về các mặt.

quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác ở địa phương.
Văn phòng thuộc Ủy ban nhân dân xã chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức,
vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức và công tác của Ủy
ban nhân dân xã Quảng Phú, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về
chuyên môn nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp
huyện.
1.1.4 Về quyền hạn và nghĩa vụ.
Trình lên ủy ban nhân dân huyện các văn bản, ban hành các quyết định,
chỉ thị, quy hoạch, kế hoạch dài hạn hàng năm.Tổ chức và thực hiện các văn
bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch sau khi được phê duyệt, thông tin
tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý
được giao.
Sinh viên: Nguyễn Văn Thạo

7
Lớp: Quản trị Nhân lực K1B


Báo cáo kiến tập
Khoa Tổ chức và Quản lý nhân
lực
Về chính quyền địa phương : giúp ủy ban nhân dân xã và các cơ quan có
thẩm quyền tổ chức việc bầu cử quốc hộ, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp
theo phân công của ủy ban nhân dân. Thực hiện các thủ tục để chủ tịch ủy ban
nhân dân xã phê chuẩn các danh lãnh đạo của ủy ban nhân dân xã. Chụy trách
nhiệm quản lý hồ sơ, mốc, giới chỉ, bản đồ địa giới hành chính của xã.
Về địa giới hành chính : thực hiện cac thủ tục để chủ tịch ủy ban nhân dân
xã phê chuẩn các chúc danh lãnh đạo của ủy ban nhân dân xã, phường. Tham
mưu giúp ủy ban nhân dân xã xây dựng đề án thành lập mới, sáp nhập, chia
tách, điều chỉnh địa giới hành chính trên địa bần ủy ban nhân dân xã. Giúp ủy

1.2.1 Khái niệm về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức trong cơ quan
hành chính nhầ nước
Các khái niệm cơ bản.
• Cán bộ công chức
Theo điều 4 Luật cán bộ, công chức năm 2008
Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ
chức vụ chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng Sản Việt Nam,
nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh cấp thành phố trực
thuộc trung ương ( sau đây gọi là cấp tỉnh), ở quận huyện thị xã thành phố trực
thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ
ngân sách nhà nước.
Công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm vào ngạch,
chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng Sản Việt Nam, nhà nước, tổ
chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện trong cơ quan, đơn vị
thuộc quân đội công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên
nghiệp, quân nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân
không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản
lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng Sản Việt Nam, nhà nước tổ
chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập) trong
biên chế, và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đôi với công chức trong bộ
máy lãnh đạo quản lý của đơn vị sư nghiệp thì lương được đảm bảo từ quỹ
lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.
Cán bộ xã phường thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) : là công dân
Viêt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng
nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư đảng ủy, người đứng đầu tổ chức
chính trị xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng và giữ
một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên
chế và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Cán bộ cấp xã có chức vụ sau đây :
Sinh viên: Nguyễn Văn Thạo

Văn hóa xã hội.
Đào tạo bồi dưỡng.
Đào tạo được hiểu là quá trình hoạt động có tổ chức, có tổ chức nhằm

hình thành và phát triển các hệ thống tri thức kỹ sảo kỹ năng kỹ sảo, thái độ…..
để hoàn thành nhân cách của một cá nhân, tạo điều kiện cho bọn họ có thể vào
đời hành nghề có năng xuất và hiệu quả. Hay nói một cách chung nhất, đào tạo
được xem như là một quá trình làm cho người ta trở thành người có năng lực
theo tiêu chuẩn nhất định.
Bồi dưỡng là quá trình cập nhật tiến hóa kiến thức còn thiếu hoặc đã lạc
hậu, bổ túc nghề nghiệp đào tạo thêm hoặc củng cố kỹ năng nghề nghiệp theo
các chuyên đề. Các hoạt động này nhằm tạo điều kiện cho con người có cơ hội
để củng cố và mở mang một cachs có hệ thống những tri thức, kỹ năng chuyên
môn, nghề nghiệp sẵn có để làm việc, lao động có hiệu quả hơn.
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là một quá trình nhằm trang bị
cho đội ngũ cán bộ, công chức những kiến thức, kỹ năng, hành vi cần thiết để
thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.
Đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức là công tác xuất phát từ đòi hỏi
khách quan của công tác cán bộ nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ công chức đáp
Sinh viên: Nguyễn Văn Thạo

10
Lớp: Quản trị Nhân lực K1B


Báo cáo kiến tập
Khoa Tổ chức và Quản lý nhân
lực
ứng yêu cầu quản lý trong từng giai đoạn. Đào tạo bồi dưỡng trang bị, cập nhật
kiến thức cho cán bộ, công chức giúp họ theo kịp tình hình kinh tế, xã hội đảm

Lớp: Quản trị Nhân lực K1B


Báo cáo kiến tập
Khoa Tổ chức và Quản lý nhân
lực
khó trong quá trình dân vận, vì thế cần đội ngũ cán bộ phải có trình độ, mới
không bỏ sót phục vụ nhu cầu bất cứ thành phần nào trong khu vực quản lý
Thứ ba, cơ sở là nơi bắt nguồn của các phong trào quần chúng, đồng thời
sang lọc đảng viên giúp cán bộ trưởng thành, có ý nghĩa giúp trong công tác
đánh giá sang lọc hay bồi dưỡng cán bộ.
Cuối cùng, xã, thị trấn còn là nơi thực hiện các chính sách, đường lối. chủ
trương của Đảng và nhà nước, do đó đòi hỏi cán bộ, công chức ở cấp cơ sở phải
năng động sang tạo inh hoạt trong thực tiễn.
Theo nghị định 92/2009NĐ-CP quy định về xã phường thị trấn, trong hệ
thống chính quyền 4 cấp của nước ta hiện nay cấp xã có vị trí rất quan trọng.
• Vai trò của đào tạo bồi dưỡng.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức, viên chức là một vấn đề
quan trọng của công tác cán bộ. Vấn đề nay đã và đang được đảng và nhà nước
quan tâm, nhất là khi Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức WTO, vị thế
của Việt Nam ngày càng được nâng cao thì việc đó ngày càng trở lên quan
trọng.
Trong giai đoạn ngày nay, công tác đào tạo cán bộ công chức, viên chức
có những vai trò sau đây:
Công tác đào tạo cán bộ, công chức nhằm phục vụ cho công tác chuẩn hóa
cán bộ. Đây có thể coi là vấn đề quan trọng trong khi mà đội ngũ cán bộ công
chức viên chức hiện nay còn thiếu về số lượng, chất lượng, trình độ năng lực
phẩm chất còn bộc lộ nhiều yếu kém.
Đào tạo cán bộ, công chức viên chức nhằm mục đích phục vụ cho công
nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, thúc đẩy sự phát triển của đất nước theo

cần trải qua khóa đào tạo nâng cao kinh nghiệm giải quyết vấn đề. Sauk hi
kết thúc khóa học, người học có thể chủ động liên hệ giữa kiến thức đã
học đề xuất cụ thể, sát với lĩnh vực công tác từ đó giải quyết các vấn đề,
công việc khoa học.
- Có thái độ tích cực trong thực thi công việc : người sau khi được cử đai
đào tạo, sau khóa học cần nâng cao “phẩm chất chính trị tốt”, “đạo đức xã
hội cao”, “đạo đức nghề nghiệp tốt”, và phải có “ tầm nhìn chiến lược”.
1.2.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo cán bộ công chức
viên chức cấp cơ sở.
Sự quan tâm của cấp ủy, thủ trưởng đơn vị : Trong phạm vi. Vai trò của
các cấp ủy, thủ trưởng cơ quan thực hiện từ công tác quy hoạch cán bộ, công
chức, xem xét nhu cầu đào tạo đào tạo cán bộ, đến việc tạo điều kiện thuận lợ
cho cán bộ công chức, viên chức cáp cơ sở trong quá trình được cử đi đào tạo.
Tính khoa học của đào tạo bồi dưỡng : Bất cứ hoạt động bào muốn hoạy
Sinh viên: Nguyễn Văn Thạo

13
Lớp: Quản trị Nhân lực K1B


Báo cáo kiến tập
Khoa Tổ chức và Quản lý nhân
lực
động hiệu quả đều cần có chủ trương, chính sách cụ thể. Các chính sách đào tạo
cán bộ cần căn cứ theo chủ trương của cấp ủy, lãnh đạo cơ quan và xuất phát từ
nhu cầu thực tiễn chất lượng cán bộ. Và giao đoạn sơ kết tổng kết, cần đánh giá
chất lượng, từ đó rút kinh nghiệm cho lần sau.
Ngoài ra còn có các yếu tố khác như : cơ sở vật chất trang thiết bị giảng
dạy và học, đội ngũ giảng viên và quản lý hành chính nhà nước, chế độ và chính
sách đào tạo, sử dụng sau khi đào tạo.


Báo cáo kiến tập
lực

Sinh viên: Nguyễn Văn Thạo

Khoa Tổ chức và Quản lý nhân

15
Lớp: Quản trị Nhân lực K1B


Báo cáo kiến tập
Khoa Tổ chức và Quản lý nhân
lực
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO CÁN BỘ, CÔNG
CHỨC CỦA VĂN PHÒNG XÃ QUẢNG PHÚ
2.1. THỰC TẾ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CỦA XÃ
QUẢNG PHÚ
Bản danh sách tất cả cán bộ xã Quảng Phú.
bản dan sách cán bộ xã Quảng Phú.
STT
1
2
3
4
5
6
7
8

Nam
Trịnh Văn Mạnh
Nam
Đỗ Duy Huy
Nam
Đỗ Thị Luận
Nam
Nguyễn Thị Xoan
Nữ
Ngô Văn Thách
Nam
Trần Hữu Xuân
Nam
Nguyễn Thế Lậm
Nam
Cao Phan Cẩn
Nam
Trịnh Văn Thắng
Nam
Phạm Văn Quyết
Nam
Phạm Ngọc Thắng
Nam
Nguyễn Thị tình
Nữ

NĂM SINH
1967
1974
1964

55
35
58
58
50
43
57
57
35

HỌC VẤN
Đại học
Đại học
Trung cấp
Đại học
Đại học
Đại học
Đại học
Đại học
Cao đẳng
Trung cấp
Trung cấp
Đại học
Đại học
Trung cấp
Sơ cấp
Trung cấp
Đại học
Trung cấp
Trung cấp

+ Văn phòng đảng ủy : 1 người.
+ Thư ký : 1 người.
+ Văn hóa : 1 người
+ Xã đoàn : 2 người.
+ Địa chính : 1 người.
+ Thư pháp : 1 người.
+ Công an : 1 người.

Khoa Tổ chức và Quản lý nhân

Chất lượng cán bộ xã Quảng phú.
Nhìn chung cán bô, công chức ở xã đều có nghiệp vụ xử lý công việc
tương đối cao. Đang từng bước phấn đấu khắc phục hoàn thiện nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ, công chức ở hai phương diện : Trình độ và đạo đức để áp
dụng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân và sự nghiệp phát triển của cả nước.
• Thâm niên công tác của cán bộ xã Quảng Phú.
- Số lượng cán bộ, công chức có thâm niên trên 15 năm chiếm hơn 50%
- Số lượng cán bộ, công chức có thâm niên trên 10 năm đến dưới 15
năm là 20%
- Số lượng cán bộ, công chức có thâm niên dưới 10 năm là 30%
• Về cơ cấu trình độ.
Đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ chuyên môn thể hiện qua các số
liệu sau :
bảng cơ cấu trình độ của cán bộ xã Quảng Phú.
Trình độ
Đại học
Cao đẳng
Trung cấp
Sơ cấp


cậy, yêu thương của bà con nhân dân càng thúc đẩy hơn nữa các cán bộ làm việc
có hiệu quả hơn nữa.
Về cơ cấu tuổi và giới tính của cán bộ xã Quảng Phú.
- Cơ cấu tuổi,
Thông qua bảng danh sách cán bộ, ta có thể thấy rằng trong tổng số cán
bộ của xã ta thấy độ tuổi của cán bộ là rất khác nhau, họ từ 35 tuổi đến 58 tuổi.
Có thể nhận xét rằng cán bộ xã là những người giàu kinh nghiệm, đã có khoảng
thời gian công tác lâu năm tại cơ quan nhà nước. Cụ thể như sau :
bảng cơ cấu nhóm tuổi của cán bộ công chức xã Quảng Phú.
Nhóm tuổi
35 đến dưới 40
40 đến dưới 50
50 đến dưới 60

Số lượng cán bộ
5
3
12

Tuy vậy, do cán bộ của xã có khá nhiều người cao tuổi, đây cũng là một
khó khăn trong công tác cân đối nguồn nhân lực cho tổ chức, rất khó trong công
tác tổ chức cán bộ. Trong vòng 10 năm tới nhiều cán bộ của xã sẽ đến tuổi nghỉ
hưu, đây là một thách thức lớn đối với xã trong công tác bổ xung cán bộ, số
lượng cần thay thế dần trong 10 năm là 12 người trong tổng số 20 người chiếm
60% số lượng cán bộ của xã.
- Cơ cấu về giới tính,
Xã Quảng phú với số đông là nam giới, cụ thể :
Giới tính
Nữ
Nam

tập trung bồi dưỡng theo chức danh, vị trí làm việc, với chương trình bồi dưỡng
chủ yếu tập chung bồi dưỡng vào kiến thức, chức năng lãnh đạo, quản lý cho
Chủ tịch ủy ban nhân dân, Chủ tịch đồng nhân dân, Phó chủ tịch ủy ban nhân
dân, Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ và tin học văn phòng
cho công chức xã.
Văn phòng còn tổ chức nhiều lớp tập huấn cho cán bộ, công chức về quy
định, quy chế quyền và nghĩa vụ của cấn bộ công chức. Tiêu chuẩn danh hiệu thi
đua khen thưởng, kỹ năng giao tiếp cán bộ viên chức và nhiều văn bản luật có
liên quan đến công tác quản lý, chuyên môn nghiệp vụ theo sự chỉ đạo của cấp
trên. Bên cạnh đó văn phòng còn quan tâm đến đào tạo, bồi dưỡng về phẩm chất
đạo đức, tác phong làm việc, kỹ năng giao tiếp với dân cho cán bộ, công chứ.
Ngoài ra văn phòng xã Quảng Phú còn phát động các kỳ thi đua “ học tập và làm
theo tâm gương dạo đức Hồ Chí Minh”, do đó trong các năm qua cán bộ công
chức, viên chức xã Quảng Phú luôn hoàn thành kế hoạch được giao. Coa thể
thấy rằng qua công tác đào tạo trình dộ, năng lực, kỹ năng của cán bộ công chức
ngày càng được nâng cao, và chủ động hơn trong công tác dào tạo đội ngũ cán
bộ của xã Quảng Phú.
Sinh viên: Nguyễn Văn Thạo

19
Lớp: Quản trị Nhân lực K1B


Báo cáo kiến tập
Khoa Tổ chức và Quản lý nhân
lực
Văn phòng Xã Quảng Phú thường xuyên tiến hành các cuộc họp các bộ,
công chức nhằm đánh giá thực hiện công việc trong tuần, nhằm đánh giá chất
lượng thực hiện công vuệc cảu từng cán bộ, công chức. Qua các buổi đánh giá
chất lương công việc, các cán bộ được đưa ra những thiếu sót, điểm hạn chế


Báo cáo kiến tập
Khoa Tổ chức và Quản lý nhân
lực
Ba là, đề nghị cấp có thẩm quyền quy định chế độ tiền lương và định mức
biên chế đối với cán bộ công chức phù hợp với từng khu vực, vùng, miền và
phân loại đơn vị hành chính các cấp; đề xuất ban hành quy chế, chính sách thu
hút cán bộ, sinh viên giỏi có trình độ Đại học, trên Đại học về công tác tại xã;
Bốn là, phối hợp thực hiện tốt việc bố trí, bổ nhiệm cán bộ cấp xã; đặc
biệt quan tâm và thực hiện tốt công tác quy hoạch, bồi dưỡng và bổ nhiệm lãnh
đạo các cơ quan, đơn vị, tổ chức nhà nước;
Năm là, thực hiện việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, giới thiệu bầu cử các vị trí
cấp trưởng của các cơ quan, đơn vị, tổ chức nhà nước phải đảm bảo yêu cầu về
trình độ (Đại học trở lên, ưu tiên học chính quy), năng lực tốt và có trình bày đề
án, kế hoạch hoặc giải pháp tốt phát triển ngành, lĩnh vực liên quan (điều kiện
đặc biệt có thể miễn);
Sáu là, đổi mới và nâng cao chất lượng đánh giá, phân loại cán bộ công
chức (có sự tham gia nhận xét của các cơ quan, đơn vị cấp huyện đối với đánh
giá cán bộ công chức cấp xã và có sự tham gia nhận xét của cấp xã, cơ quan
cùng cấp có liên quan theo từng ngành tương ứng đối với đánh giá cán bộ viên
chức cấp huyện); nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị cấp
huyện trong việc hướng dẫn, chỉ đạo, theo dõi, đánh giá đội ngũ cán bộ viên
chức; xây dựng kế hoạch, quy hoạch, làm tốt công tác quy hoạch cán bộ công
chức; kiên quyết xử lý đối với cán bộ công chức trì trệ, không hoàn thành nhiệm
vụ, kịp thời thay thế, luân chuyển và mạnh dạn đề bạt công chức trẻ có năng lực,
đủ sức đảm đương nhiệm vụ theo yêu cầu mới;
Bảy là, phối hợp thực hiện tốt công tác lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín
nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân cấp huyện, cấp
xã bầu hoặc phê chuẩn theo quy định tại Nghị quyết số 35/2012/NQ-QH13
Tám là, phối hợp thực hiện tốt việc giao ban định kỳ (theo tháng hoặc

cầu đổi mới, nâng hiệu quả hoạt động của Ủy ban nhân dân, nâng cao chất lượng
và hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ công chức;
Mười một là, đổi mới mạnh mẽ, một cách đồng bộ tác phong và tư duy
làm việc của các tổ chức Đảng, chính quyền, mặt trận và toàn thể nhân dân, đặc
biệt là ở cơ sở; kiên quyết loại trừ tư tưởng cục bộ, không ủng hộ cái mới, chậm
chuyển biến, đổi mới phong cách lãnh đạo và nề nếp làm việc trì trệ của đội ngũ
cán bộ công chức;
Mười hai là, cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra về công vụ; mạnh
dạn xử lý cán bộ công chức nhũng nhiễu, hách dịch, gây khó khăn cho công dân.
Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội thông qua ngày 28/11/2013 có hiệu
lực kể từ ngày 01/01/2014, đây là một sự kiện chính trị - pháp lý đặc biệt quan
trọng, đánh dấu một bước tiến mới trong lịch sử lập hiến của nước ta. Nhằm đổi
22
Sinh viên: Nguyễn Văn Thạo
Lớp: Quản trị Nhân lực K1B


Báo cáo kiến tập
Khoa Tổ chức và Quản lý nhân
lực
mới mô hình tổ chức chính quyền địa phương, đáp ứng yêu cầu phát triển đất
nước trong thời kỳ mới, Hiến pháp mới đã quy định một cách khái quát và xác
định nguyên tắc về mô hình tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương.
Việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã vững vàng về chính
trị, có đạo đức lối sống trong sạch, có trí tuệ, kiến thức và trình độ năng lực để
thực thi chức năng, nhiệm hiệm vụ theo đúng pháp luật, bảo vệ lợi ích hợp pháp
của cá nhân, tổ chức và phục vụ nhân dân... có vai trò hết sức quan trọng trong
tiến trình xây dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở, góp phần xây dựng
thành công Luật Tổ chức chính quyền địa phương./.
Căn cứ quyết định số 874/1196/QĐ-TTg ban hành ngày 20 tháng 11 năm

Khoa Tổ chức và Quản lý nhân
lực
Chủ tịch hội đồng nhân dân
1
1
Phó bí thư đảng ủy
1
1
Chủ tịch ủy ban nhân dân
1
1
Phó chủ tịch hội đồng nhân dân
1
1
Phó chủ tịch ủy ban nhân dân
1
2
Cán bộ đoàn thể Phụ nữ
1
1
Thanh niên
1
1
Mặt trận tổ quốc
1
1
Công binh
1
1
Nông dân

Qua bảng ta có thể thấy nhu cầu của xã trong giai đoạn tới sẽ cần bổ xung
ít nhất 3 cán bộ, công chức bao gồm 1 phó chủ tịch ủy ban nhân dân, 1cán bộ
công an, 1 cán bộ phụ trách đơn vị nông dân, để có thể thực hiện đầy đủ chức
năng của các phòng, đơn vị hành chính của văn phòng xã. Do số lượng trước đó
chưa được đủ về số lượng, có thể là do số lượng được biên chế cán bộ là ít so
với nhu cầu, qua đó đã tạo ra sự khó khăn trong công tác bố trí nhân lực, cán bộ
công chức của văn phòng xã Quảng Phú. Qua đó đòi hỏi trong giai đoạn tới, văn
phòng xã cần xác định lại nhu cầu về số lượng cán bộ cần thiết để có thể có thể
thực hiện bổ xung thêm, có thể nâng lên về mặt số lượng biên chế cán bộ thuộc
văn phòng ủy ban xã.
Ngoài số lượng cán bộ, thì quan trọng nhất là chất lượng cán bộ, công
chức, việc nâng cao chất lượng cán bộ cũng là một trong những ưu tiên của văn
phòng ủy ban xã Quảng Phú trong giai đoạn tới cụ thể là phải xác định lại trình
độ và năng lực của từng cán bộ, công chức của văn phòng xã nhằm đáp ứng nhu
cầu của văn phòng xã.
Sinh viên: Nguyễn Văn Thạo

24
Lớp: Quản trị Nhân lực K1B


Báo cáo kiến tập
lực
Trình độ
Đại học
Cao đẳng
Trung cấp
Sơ cấp

Khoa Tổ chức và Quản lý nhân

giải quyết công việc của nhân dân sẽ dễ dàng hơn. Qua đó thực hiện đảm bảo an
toàn xã hội, công bằng dân chủ cho toàn thể nhân dân thuộc phạm vi chịu trách
25
Sinh viên: Nguyễn Văn Thạo
Lớp: Quản trị Nhân lực K1B



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status