skkn định hướng phát triển năng lực lịch sử cho học sinh lớp 8 khi dạy chương III châu á thế kỷ XVIII – đầu thế kỉ XX - Pdf 37

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến:
“Định hướng phát triển năng lực lịch sử cho học sinh lớp 8 khi dạy chương
III: Châu Á thế kỷ XVIII – đầu thế kỉ XX”
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Lịch sử
3. Tác giả:
Họ và tên: Phạm Thị Vân
- Nữ
Sinh ngày: 15 tháng 12 năm 1982
Trình độ chuyên môn: ĐH Sử
Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên Trường THCS Ninh Hải
Điện thoại: 01687961226
4. Đồng tác giả:
Họ và tên: Hà Thị Tú
- Nữ
Sinh ngày: 17 tháng 07 năm 1962
Trình độ chuyên môn: ĐH Sử
Chức vụ, đơn vị công tác: Hiệu trưởng Trường THCS Ninh Hải
Điện thoại: 0982845228
5. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Phạm Thị Vân; Hà Thị Tú
6. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu:

Trường THCS Ninh Hải

7. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
- Giáo viên phải tâm huyết, say mê với nghề, nắm vững và vận dụng tốt các
phương pháp trong dạy – học lịch sử theo định hướng phát triển năng lực
học sinh.
- Giáo viên có sự chuẩn bị chu đáo cho việc dạy học và biết ứng dụng công
nghệ thông tin trong dạy học để nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử.
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động dạy học đầy đủ: bản

Sáng kiến đã nêu rõ các năng lực chung và năng lực chuyên biệt cần hình
thành cho học sinh ở môn Lịch sử. Đặc biệt sáng kiến đi sâu nghiên cứu biện
pháp để hình thành năng lực chuyên biệt cho học sinh khi dạy chương III lịch
sử lớp 8. Đó là các năng lực: tái hiện sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử;
năng lực thực hành bộ môn lịch sử; năng lực nhận xét, đánh giá rút ra bài học
lịch sử từ những sự kiện, vấn đề, hiện tượng, nhân vật lịch sử; năng lực vận
dụng, liên hệ kiến thức lịch sử đã học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt
ra. Sáng kiến có những sáng tạo trong việc hình thành các năng lực cho học
sinh: giáo viên là người tổ chức và chỉ đạo học sinh tiến hành các hoạt động
học tập và có sự kết hợp đa dạng các phương pháp, hình thức dạy học lịch sử.
Đây là một nội dung mới trong dạy học hiện nay nhằm phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức

2


vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, tạo hứng thú học tập
cho các em và nâng cao chất lượng môn học lịch sử hiện nay.
Sáng kiến đã mang lại ý nghĩa thiết thực trong dạy học chương III: Châu
Á thế kỉ XVIII- đầu thế kỉ XX( Lịch sử lớp 8). Điều này được thể hiện rất rõ
qua việc so sánh, đối chiếu trước và sau khi áp dụng sáng kiến. Tâm lí học sinh đã
thay đổi, các em không còn sợ học, ngại học lịch sử như trước mà đã tích cực, chủ
động, sáng tạo trong học tập bộ môn. Đồng thời hình thành được những năng
lực cần thiết cho học sinh. Các em không chỉ biết, hiểu mà còn có khả năng vận
dụng kiến thức lịch sử đã học vào thực tiễn. Đặc biệt khi dạy bài 11, 12 ở chương
III lịch sử lớp 8, tôi cho học sinh liên hệ đến vấn đề biển đảo hiện nay đã phát huy
được tư duy, sáng tạo của các em trong việc giải quyết các tình huống thực tiễn.
Ngoài ra, chất lượng môn học cũng được nâng lên. Điều này được thể hiện rõ qua
kết quả khảo sát chất lượng học sinh sau khi áp dụng sáng kiến với kết quả khảo
sát trước khi áp dụng sáng kiến trong tực tiễn. Tỉ lệ học sinh đạt loại khá, giỏi tăng

như sử dụng các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, tự lực và sáng
tạo của học sinh chưa nhiều. Đa số học sinh sợ học và ngại học môn Lịch sử.
Xuất phát từ hoàn cảnh trên, tôi mạnh dạn trình bày sáng kiến “ Định
hướng phát triển năng lực lịch sử cho học sinh lớp 8 khi dạy chương III:
Châu Á thế kỉ XVIII- đầu thế kỉ XX ” nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh
và nâng cao chất lượng dạy học Lịch sử.
2. Cơ sở lí luận của vấn đề
Những quan điểm và đường lối chỉ đạo của Nhà nước về đổi mới giáo dục
đã được thể hiện trong nhiều văn bản, đặc biệt trong các văn bản dưới đây:
Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011- 2020 ban hành kèm theo
Quyết định 711 ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ chỉ rõ : " Tiếp tục đổi
mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học ».
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo xác định " Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ
bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực
của người học ».
Những quan điểm nêu trên đã tạo tiền đề, cơ sở và môi trường pháp lí thuận lợi
4


cho việc đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá theo định
hướng năng lực của người học. Dạy học lịch sử theo định hướng phát triển năng
lực của học sinh được thể hiện ở chỗ, học sinh được hình thành và phát triển các
năng lực chung và năng lực chuyên biệt của bộ môn Lịch sử.
3. Thực trạng của việc dạy- học lịch sử hiện nay
Cho đến nay, việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học nói chung và
đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử nói riêng đã được tiến hành ở bậc THCS
xong còn chậm, chưa mang lại hiệu quả cao, chưa chú ý hình thành các năng
lực cần thiết cho học sinh.

%
8
60
8
13,3
19
31,7
27
45
6
10
Là một giáo viên dạy bộ môn Lịch sử ở trường THCS, trực tiếp tham gia

giảng dạy chương trình Lịch sử lớp 8, tôi luôn suy nghĩ và tự xác định cho
mình làm thế nào để sử dụng có hiệu quả các phương pháp dạy học phát huy
được năng lực của học sinh trong môn lịch sử nói chung và chương III lịch sử
5


lớp 8 nói riêng, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng môn học. Vì vậy, tôi
mạnh dạn trình bày sáng kiến “ Định hướng phát triển năng lực lịch sử cho
học sinh lớp 8 khi dạy chương III: Châu Á thế kỉ XVIII- đầu thế kỉ XX ”.
4. Các giải pháp, biện pháp thực hiện
4.1. Khái niệm năng lực và dạy học theo định hướng phát triển năng lực
học sinh.
4.1.1. Khái niệm năng lực
Năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, thái
độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình
huống đa dạng của việc học tập và cuộc sống.
Năng lực gồm có năng lực chung và năng lực chuyên biệt. Các năng lực

sự kiện lịch sử với nhau.
- Năng lực so sánh, phân tích, phản biện, khái quát hóa.
- Năng lực nhận xét, đánh giá rút ra bài học lịch sử từ những sự kiện, hiện
tượng, vấn đề, nhân vật lịch sử.
- Năng lực vận dụng, liên hệ kiến thức lịch sử đã học để giải quyết những
vấn đề thực tiễn đặt ra.
4.1.4. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực còn gọi là dạy học định
hướng kết quả đầu ra là xu hướng giáo dục quốc tế hiện nay. Dạy học theo
định hướng phát triển năng lực nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách là
chủ thể có nghĩa là:
Về phương pháp: Giáo viên chủ yếu là người tổ chức hỗ trợ HS tự lực và
tích cực lĩnh hội tri thức. Chú trọng khả năng giải quyết vấn đề, khả năng giao
tiếp. Chú trọng sử dụng các quan điểm phương pháp dạy học tích cực, các
phương pháp dạy học thực nghiệm thực hành…
Hình thức dạy học: Tổ chức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội,
ngoại khóa, nghiên cứu khoa học, trải nghiệm sáng tạo, đẩy mạnh ứng dụng
công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học.
Kết quả HS với vai trò chủ thể đạt được là các chuẩn kiến thức, kĩ năng
của chương trình đã được Bộ giáo dục quy định, trong đó chú trọng đến khả
năng vận dụng kiến thức để giải quyết các tình huống thực tiễn và kết quả này
có tính đến sự tiến bộ, thái độ trong quá trình học tập. Nói một cách khác kết
7


quả học tập của học sinh đạt được là “bốn H”: Học để biết- Học để làm- Học để
cùng chung sống và học để tự khẳng định.
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực không chỉ chú ý về hoạt động
trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình
huống của cuộc sống, gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn

trªn bản ®å.
- Kỹ năng lập bảng niên biểu.
- Kĩ năng phân tích, nhận xét các sự kiện, đánh giá nhân vật lịch sử.
4.2.3.Thái độ:
- Bồi dưỡng cho học sinh lòng căm thù với sự thống trị dã man của chủ
nghĩa thực dân đối với các nước thuộc địa.
- Khâm phục tinh thần đấu tranh của nhân dân Ấn Độ, các nước Đông Nam
Á trong cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa đế quốc.
- Bồi dưỡng tinh thần đoàn kết, hữu nghị với các nước trong khu vực Đông
Nam Á.
- Nhận thức rõ vai trò của cải cách tiến bộ đối với sự phát triển xã hội.
4.2.4 Bảng mô tả:
- Trong dạy học lịch sử để giáo viên xác định đúng mục tiêu bài học và kiểm
tra đánh giá theo các cấp độ tư duy thì cần chú ý tới các từ khóa tương ứng với
các cấp độ tư duy như sau:
+ Nhận biết: Với các động từ: nêu, liệt kê, trình bày, kể tên, nhận biết...
+ Thông hiểu: Với các động từ: hiểu được, giải thích, phân biệt, tại sao, vì
sao, hãy lí giải, khái quát...
+ Vận dụng thấp: Với các động từ: xác định, khám phá, dự đoán, vẽ sơ đồ, lập
niên biểu, phân biệt, chứng minh...
+ Vận dụng cao: Với các động từ: bình luận, nhận xét, đánh giá, rút ra bài
học lịch sử, liên hệ thực tiễn...
Việc xác định chuẩn kiến thức, kĩ năng rất quan trọng, giúp giáo viên có
định hướng trong quá trình dạy học để đạt được mục tiêu bài học cũng như
hình thành được các năng lực cho học sinh. Tuy nhiên tùy theo đối tượng học
sinh mà giáo viên có sự nâng chuẩn sao cho phù hợp.
Khi dạy chương III: Châu Á thế kỉ XVIII- đầu thế kỉ XX ( Lịch sử 8), tôi
đã xây dựng bảng mô tả như sau:
9


chính

sách nổi dậy chống trị của thực dân

XVIII thống trị của lại

thực

dân Anh và hậu quả

- đầu Anh đối với Ấn Anh.

của nó đối với

thế kỉ Độ.

Ấn Độ.

XX.

- Kể tên được

- Lập được niên

các cuộc đấu

biểu về phong

tranh của nhân


bày -

Giải

thế kỉ XX.
thích - Lập được niên

Trung được sự xâm được vì sao các biểu các cuộc
Quốc

lược của các nước đế quốc đấu tranh của

giữa

nước đế quốc tranh nhau xâu nhân dân Trung

thế kỉ đối với Trung xé Trung Quốc.

Quốc từ cuối

XIX - Quốc.

thế kỉ XIX đến

đầu

-

Nêu



Cách mạng Tân
bày -

Giải

Hợi (1911).
thích - Lập được niên -

được quá trình được vì sao khu biểu
10

về

Nhận

xét

các được đặc điểm


Nội
dung

Nhận biết

Thông hiểu

Vận dụng thấp



của các nước tư dân Đông Nam ở Đông Nam

XIX -

bản

đầu

Tây.

thế kỉ

-

XX.

được

Trình

phương Á cuối thế kỉ Á.
XIX - đầu thế kỉ

Giải

- Liên hệ được

sao


Nhật

được nội dung được

Bản

và ý nghĩa của Thiên

giữa

cuộc Duy tân Minh Trị thực thế kỉ XX Nhật hoàng
Trị

Giải


Quốc


âm

Đông.
thích - Chứng minh - Suy nghĩ về

4.

thế kỉ Minh

bày -



của

Thiên

XX.

hoàng

Minh

Trị.
- Liên hệ với
công cuộc xây
dựng và bảo vệ
11


Nội
dung

Nhận biết

Thông hiểu

Vận dụng thấp

Vận dụng cao

(Mô tả mức độ

Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và các nước Đông Nam Á trên bản đồ châu Á; Lập
được niên biểu về phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân Ấn Độ, Trung
Quốc và các nước Đông Nam Á từ giữa thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX;
+ Năng lực nhận xét, đánh giá về vấn đề, nhân vật lịch sử: Nhận xét các
phong trào đấu tranh của nhân dân Ấn Độ, Trung Quốc và các nước Đông Nam
Á; đánh giá được công lao của Thiên hoàng Minh Trị.
+ Năng lực vận dụng, liên hệ thực tiễn: liên hệ với vấn đề Biển Đông hiện
nay: Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Việt Nam học tập
được gì từ kinh nghiệm của Nhật Bản.
4.3. Biện pháp hình thành và phát triển một số năng lực cho học sinh khi
dạy chương III- Lịch sử 8.

12


Có rất nhiều năng lực chung và năng lực chuyên biệt của môn Lịch sử, ở
sáng kiến này tôi chỉ đi sâu tìm hiểu một số năng lực chuyên biệt cần được hình
thành và phát triển cho học sinh khi dạy học chương III - Lịch sử lớp 8.
Để biết được các biện pháp hình thành năng lực, trước hết mỗi giáo viên
cần hiểu được mối quan hệ giữa năng lực với kiến thức, kỹ năng, thái độ. Một
năng lực là tổ hợp đo lường được các kiến thức, kỹ năng và thái độ mà người
học vận dụng để thực hiện một nhiệm vụ trong bối cảnh thực tế. Kiến thức là
cơ sở để hình thành năng lực, là nguồn lực để người học tìm được các giải pháp
tối ưu để thực hiện nhiệm vụ đặt ra. Việc hình thành và rèn luyện năng lực
được diễn ra theo hình xoáy trôn ốc, trong đó các năng lực có trước được sử
dụng để kiến tạo kiến thức mới, kiến thức mới lại đặt cơ sở để hình thành
những năng lực mới.
Kỹ năng là những thao tác, những cách thức thực hành, vận dụng kiến
thức, kinh nghiệm đã có để thực hiện một hoạt động nào đó. Kiến thức, kỹ năng
là cơ sở cần thiết để hình thành năng lực trong một hoạt động, lĩnh vực nào đó.

Giáo viên có câu hỏi gợi ý cho học sinh:
Kể tên các vùng đất mà Nhật chiếm được qua các năm? Việc đó nói lên điều
gì? Đối tượng xâm lược chính của Nhật Bản là nước nào? Tại sao?
Học sinh có thời gian 2 phút để chuẩn bị. Sau đó, giáo viên yêu cầu học sinh
lên bảng trình bày chỉ trên lược đồ để thấy được quá trình bành trướng của giới
cầm quyền Nhật Bản.
Sau khi học sinh trình bày xong, HS khác nhận xét sau đó giáo viên sẽ nhận
xét và có thể cho điểm miệng đối với học sinh trình bày tốt. Với những học
14


sinh trình bày chưa tốt, giáo viên động viên rút kinh nghiệm cho các em về
cách dùng từ, cách chỉ trên lược đồ. Với cách làm như vậy, giáo viên sẽ hình
thành năng lực tái hiện lịch sử cho học sinh, giúp các em tự tin để trình bày tốt
vấn đề lịch sử.
4.3.2. Năng lực thực hành bộ môn lịch sử
Năng lực này được thể hiện ở chỗ học sinh biết quan sát, đọc, khai thác nội
dung lịch sử thông qua bản đồ, lược đồ, tranh ảnh... Các em còn biết lập niên
biểu các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, các chiến dịch, các phong bảng
trào đấu tranh giải phóng dân tộc, thành tựu về kinh tế, văn hóa...
Qua dự giờ, tôi thấy nhiều giáo viên chưa chú ý đến năng lực thực hành
bộ môn cho học sinh. Do đó, kỹ năng chỉ bản đồ, lược đồ và trình bày diễn biến
trên lược đồ của học sinh rất yếu. Một số giáo viên chưa chú ý đến việc khai
thác kiến thức lịch sử từ lược đồ, tranh ảnh mà chỉ dùng để minh họa cho bài
giảng. Trong khi đó, bản đồ, lược đồ và tranh ảnh là một kênh thông tin cần
thiết, trực quan để cung cấp kiến thức cho học sinh giúp các em dễ nhận biết và
nhớ lâu kiến thức lịch sử.
* Hình thành cho học sinh năng lực quan sát, đọc và trình bày diễn biến
trên bản đồ, lược đồ và biết khai thác nội dung cần thiết thông qua bản đồ,
lược đồ, giáo viên cần chú ý:


Mãn Châu

Mông Cổ

Bắc Kinh
Sơn Đông

Sông Dương Tử
Quảng Tây

Phúc Kiến
Quảng Đông

:Anh

: Pháp

: Đức

: Nhật

: Nga- Nhật

Sau đó yêu cầu học sinh lên xác định trên lược đồ những khu vực của Trung
Quốc bị các nước đế quốc xâm chiếm. Ngoài ra còn kết hợp cho học sinh quan
sát Hình 42- Các nước đế quốc xâu xé “ cái bánh ngọt” Trung Quốc.

Hình 42. Các nước đế quốc xâu xé “ cái bánh ngọt” Trung Quốc
17

đối tượng xâm lược của các nước tư bản phương Tây.
* Hình thành năng lực lập bảng niên biểu cho học sinh:
Bảng niên biểu là hệ thống hóa các sự kiện quan trọng theo thứ tự thời gian,
đồng thời nêu mối liên hệ giữa các sự kiện cơ bản của một nước hay nhiều
nước trong một thời kì.
Giáo viên cần hướng dẫn học sinh cách lập bảng niên biểu như sau: Đối với
bảng niên biểu tổng hợp: liệt kê những những thành tựu trên các lĩnh vực trong
một thời gian hay nhiều thời gian, giáo viên hướng dẫn học sinh lập theo mẫu
sau:
Thời gian

Thành tựu về các lĩnh vực
Quân sự
Chính trị
Văn hóa

Kinh tế

Đối với việc lập bảng niên biểu chuyên đề đi sâu tìm hiểu một vấn đề quan
trọng của một thời kì lịch sử nhất định( cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, các
chiến dịch...), giáo viên hướng dẫn học sinh chỉ ghi những sự kiện cơ bản.
Thời gian

Những sự kiện quan trọng

Hoặc khi tìm hiểu về các phong trào giải phóng dân tộc của một nước trong
những thời điểm khác nhau, giáo viên có thể hướng dẫn HS lập theo mẫu sau:
Thời gian

Tên phong trào

Tên nước
Khởi nghĩa Yên Thế
Việt Nam
Phong trào Cần Vương
Kháng chiến chống thực dân Anh
Miến Điện
Cách mạng bùng nổ
Phi-líp-pin
Cuộc đấu tranh vũ trang ở Xa-van-na-khét
Lào
Khởi nghĩa ở cao nguyên Bô-lô-ven
Công đoàn của công nhân xe lửa ra đời
In- đô-nê-xi-a
Hội liên hiệp công nhân In- đô-nê-xi-a
thành lập.

4.3.3. Năng lực nhận xét, đánh giá rút ra bài học lịch sử từ những sự kiện,
hiện tượng, vấn đề, nhân vật lịch sử.
Năng lực này thể hiện ở chỗ học sinh biết nhận xét, đánh giá các vấn đề
lịch sử: các phong trào yêu nước theo những khuynh hướng khác nhau, những
hoạt động của các cá nhân tiêu biểu, các phong trào cách mạng, các hoạt động
quân sự, chính trị, ngoại giao...
Trong quá trình dạy- học lịch sử hiện nay, một số giáo viên đã chú ý đến
việc hình thành năng lực nhận xét, đánh giá của học sinh về một vấn đề, hiện
tượng, nhân vật lịch sử. Tuy nhiên, còn nhiều giáo viên chưa chú ý đến điều đó
mà chỉ dừng lại ở việc học sinh trình bày những kiến thức lịch sử có sẵn trong
sách giáo khoa. Vì vậy, học sinh không hiểu rõ bản chất của vấn đề lịch sử,
không rút ra được bài học lịch sử cần thiết.
Ví dụ 1: Dạy bài 9 Ấn Độ thế kỉ XVIII- đầu thế kỉ XX, để học sinh hiểu
được chính sách thống trị của thực dân Anh ở Ấn Độ, tôi đã hướng dẫn học

Anh ở Ấn Độ như thế nào?
Dưới sự hướng dẫn của giáo viên và qua việc thảo luận với bạn trong nhóm
học sinh sẽ nhận xét, rút ra kết luận: Bảng thống kê cho thấy, xuất khẩu lương
thực của Ấn Độ tăng nhanh nhưng số người chết đói lại khủng khiếp. Chỉ trong
25 năm, từ 1875 đến 1900 đã có 15 triệu người chết đói. Như vậy cho thấy sự
tham lam, tàn bạo của thực dân Anh trong việc đẩy mạnh vơ vét, cướp bóc
lương thực, của cải của nhân dân Ấn Độ. Chính sách cai trị đó của thực dân
Anh đã làm đời sống nhân dân Ấn Độ khổ cực( nhiều người bị chết đói). Đó

21


chính là nguyên nhân làm bùng nổ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của
nhân dân Ấn Độ chống lại thực dân Anh.
Ví dụ 2: Ở bài 11 Các nước Đông Nam Á cuối thế kỉ XIX- đầu thế kỉ XX
sau học sinh đã tìm hiểu xong về các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở
khu vực Đông Nam Á, giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận câu hỏi: Nhận
xét về phong trào đấu tranh của nhân dân Đông Nam Á cuối thế kỉ XIX- đầu
thế kỉ XX?
Để HS rút ra được những nhận xét đúng đắn, giáo viên sẽ gợi ý cho HS về:
lực lượng tham gia, quy mô và kết quả... Dưới sự hướng dẫn của giáo viên,
học sinh sẽ tích cực suy nghĩ, tìm tòi và đưa ra những nhận xét: Phong trào đấu
tranh bùng nổ mạnh mẽ ở nhiều nước Đông Nam Á, lôi cuốn đông đảo lực
lượng tham gia( công nhân, nông dân, nhà sư, tư sản...). Các phong trào cuối
cùng đều thất bại.
Ví dụ 3: Ở bài 12 Nhật Bản giữa thế kỉ XIX- đầu thế kỉ XX, sau khi học
sinh tìm hiểu xong cuộc Duy tân Minh Trị, giáo viên giao bài tập về nhà cho
học sinh: Viết một đoạn văn khoảng 250 từ nói về công lao của Thiên hoàng
Minh Trị đối với Nhật Bản.
Để làm bài tập này, giáo viên hướng dẫn học sinh về nhà khai thác thông tin

sinh. Sau đó giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm trên lớp hoặc giao
cho học sinh về nhà làm. Bằng tư duy tích cực của bản thân, kết hợp trao đổi
với bạn bè, học sinh sẽ trình bày ý kiến theo cách hiểu và lập luận của mình.
Giáo viên cũng cần lưu ý với những câu hỏi vận dụng kiến thức vào thực tiễn
thì câu trả lời là đáp án mở, không có lời giải cố định. Học sinh có thể đưa ra
những cách giải quyết khác nhau với lập luận chặt chẽ, hợp lý đều đúng.
Ví dụ: Ở bài 11 Các nước Đông Nam Á cuối thế kỉ XIX- đầu thế kỉ XX, sau
khi học xong phần II phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, tôi đã tổ chức
cho học sinh thảo luận câu hỏi sau:
"Ngay khi bị thực dân phương Tây xâm lược, nhân dân các nước Đông Nam
Á đã kiên quyết đấu tranh để bảo vệ Tổ quốc" (SGK Lịch sử 8, trang 63).
Trong bối cảnh hiện nay, khi Trung Quốc đang có âm mưu và hành động xâm
chiếm biển Đông, theo em, các nước Đông Nam Á cần phải làm gì? Tại sao?
Với câu hỏi mở này đòi hỏi học sinh phải tích cực suy nghĩ, đồng thời
thường xuyên cập nhật trên các phương tiện thông tin đại chúng về vấn đề Biển
23


Đông hiện nay. Có nhóm học sinh đã nêu ra được câu trả lời rất tốt như nhóm
em Linh, Vinh, Hiền, Hòa, Ánh, Đô( lớp 8A). Các em đã nêu ra các nước Đông
Nam Á cần phải làm:
- Đoàn kết cùng nhau lên án hành động của Trung Quốc, yêu cầu Trung
Quốc phải tôn trọng Luật Biển quốc tế.
- Các nước Đông Nam Á sẽ kiện Trung Quốc lên tòa án quốc tế.
- Tăng cường lực lượng quân đội để bảo vệ chủ quyền biển đảo.
Khi dạy bài 12 Nhật Bản giữa thế kỉ XIX- đầu thế kỉ XX, giáo viên nêu
câu hỏi liên hệ để phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh:
? Theo em, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Việt Nam có
thể học tập kinh nghiệm gì từ cuộc Duy tân Minh trị của Nhật Bản?
GV gợi ý cho HS: để kinh tế đất nước phát triển, bảo vệ chủ quyền biển đảo,

vận dụng kiến thức lịch sử, các em tích cực, chủ động, không khí học tập rất sôi
nổi. Học sinh không còn “sợ học”, “ngại học” lịch sử như trước mà có sự thay
đổi lớn về nhận thức, các em đã yêu thích bộ môn hơn.
Kết quả thực hiện sáng kiến còn được đánh giá bằng điểm số. Sau khi dạy
xong tiết 17 ở chương III: Châu Á thế kỉ XVIII- đầu thế kỉ XX, tôi tiến hành
khảo sát học sinh qua đề kiểm tra 15 như sau:
ĐỀ BÀI
Câu 1( 2đ): Khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng.
1. Ấn Độ là thuộc địa của thực dân
A. Pháp

B. Anh

C. Tây Ban Nha

D. Hà Lan

2. Quốc gia ở Đông Nam Á không trở thành thuộc địa của thực dân phương
Tây là
A. In-đô-nê- xi-a.

B. Phi- líp- pin.

C. Xiêm( Thái Lan).

D. Lào

Câu 2( 2đ): Vì sao cuối thế kỉ XIX, các nước đế quốc tranh nhau xâm chiếm
Trung Quốc?
Câu 3( 6đ): Trình bày ý nghĩa cuộc Duy tân Minh Trị ở Nhật Bản 1868? Theo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status